Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở trường trung học cơ sở.
PHẦN I - MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Là một giáo viên được đào tạo ngành Toán –Lý. Ra trường và đã gắn bó với
học sinh thân yêu, trên giảng đường hơn 10 năm... Với sự yêu nghề tôi đã nghiên cứu
tìm tòi học tập kinh nghiệm của các đồng nghiệp đi trước về dạy môn Toán. Môn toán
gắn bó với tôi như một phần máu thịt, giúp tôi dần trưởng thành trên con đường đi
mà mình đã chọn, mình cần phải làm gì để tận tìtnh giúp học sinh học giỏi về môn
toán.
Bởi vì toán học là một môn khoa học, có tầm quan trọng trong mọi lĩnh vực.
Đặc biệt toán học có vị trí đặc biệt trong việc nâng cao và phát triển dân trí, góp phần
tạo nên nguồn tài nguyên chất xám, nguồn tài nguyên chất quý nhất cho đất nước.
Đồng thời là cơ sở, điều kiện để tiếp thu khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức.
Việc bồi dưỡng học sinh giỏi - học sinh năng khiếu, ươm trồng những hạt giống nhân
tài cho đất nước là một nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết vì những người tài bao
giờ cũng là nhân tố quan trọng để thúc đẩy xã hội phát triển.
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một việc làm thường xuyên và cấp thiết
đối với mỗi cấp học nói chung và đối với cấp Trung học cơ sở nói riêng. Nó tạo điều
kiện cho người thầy giáo qua đó bồi dưỡng cho mình vốn kiến thức sâu sắc hơn,
phong phú hơn. Đối với học sinh thông qua việc học nhằm tạo cho mình niềm say mê
ham hiểu biết, giúp cho các em rèn luyện óc tư duy sáng tạo, trí thông minh, đức tính
kiên trì chịu khó tìm tòi, tạo tiền đề cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp học tiếp
theo. Việc bồi dưỡng học sinh giỏi phải mang lại hiệu quả thiết thực cho bản thân học
sinh, cho giáo viên cũng như các bậc cha mẹ học sinh.
Xuất phát từ những nhận thức trên bản thân tôi đã và đang bồi dưỡng đội tuyển
học sinh giỏi Toán lớp 6 không khỏi trăn trở, suy nghĩ tìm các biện pháp để bồi dưỡng
học sinh giỏi đạt hiệu quả. Trong phạm vi đề tài này, tôi mạnh dạn đưa ra “Một số
biện pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở
trường trung học cơ sở ” mà tôi đã và đang áp dụng.
huyết với nghề.
b/ Khó khăn:
- Cở sở vật chất của trường còn hạn chế cũng có ảnh ít nhiều đến việc dạy và
học.
- Đa số giáo viên dạy bồi dưỡng vừa phải đảm bảo chất lượng đại, vừa phải
hoàn thành chỉ tiêu chất lượng mũi nhọn và công tác kiêm nhiệm do đó cường độ làm
việc quá tải và việc đầu tư cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, do đó kết quả có
phần còn hạn chế.
2
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở trường trung học cơ sở.
- Học sinh học chương trình chính khóa phải học quá nhiều môn, lại phải học
thêm những môn khác, cộng thêm chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi nên rất hạn
chế về thời gian tự học, nên các em đầu tư ít thời gian cho việc bồi dưỡng học sinh
giỏi, do đó kết quả không cao là điều tất yếu.
- Một số học sinh tham gia bồi dưỡng chưa cố gắng nhiều nên kết quả thi học
sinh giỏi chưa cao.
- Giáo viên bồi dưỡng đều phải tự soạn chương trình dạy theo kinh nghiệm của
bản thân, theo chủ quan tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu.
- Kinh phí thực sự đầu tư cho viêc dạy học sinh giỏi, bồi dưỡng động viên cho
giáo viên dạy và học sinh đạt giải còn hạn chế.
- Học sinh vẫn chưa thực sự tích cực tham gia các đội tuyển để bồi dưỡng. Việc
bồi dưỡng học sinh để dự thi các cấp quá nặng nề vì tính chất thời vụ mà gây ảnh
hưởng nhiều đến tâm lý và sức khỏe của học sinh.
- Việc thống nhất nội dung, phương pháp, giới hạn bồi dưỡng còn lúng túng, tài
liệu bồi dưỡng chưa thật phong phú.
- Việc huy động các nguồn lực cũng như chế độ bồi dưỡng học sinh giỏi cho
giáo viên còn chưa đạt yêu cầu mong muốn.
Qua khảo sát cho học sinh làm bài kiểm tra để chọn đội tuyển bồi dưỡng của
trường (chưa áp dụng đề tài )
Tổng số
Giỏi
10
2
%
20
Khá
4
40
Trung bình
Dưới trung bình
2
2
20
20
và cho mình một cách cụ thể tránh tình trạng thích đâu dạy đó. Dạy theo chuyên đề là
biện pháp mà tổ chúng tôi thấy đó là hữu hiệu nhất mà tôi sử dụng.
- Nắm vững phương châm: dạy chắc cơ bản rồi mới nâng cao - Thông qua
những bài luyện cụ thể để dạy phương pháp tư duy - dạy kiểu dạng bài có quy luật
trước, loại bài có tính đơn lẻ, đặc biệt sau.
Nên tránh:
+ Một số giáo viên mới bồi dưỡng học sinh giỏi, thường hay nôn nóng, bỏ qua
bước làm chắc cơ bản, cho ngay bài khó, học sinh mới đầu đã gặp một “mớ bỏng
bong” không nhận ra và ghi nhớ được từng đơn vị kiến thức kĩ năng, kết quả là không
định hình được phương pháp từ đơn giản đến phức tạp, càng học càng hoang mang.
+ Một số lại coi những bài đơn lẻ không có quy luật chung là quan trọng, cho
học sinh làm nhiều hơn và trước những bài có nguyên tắc chung (coi những bài đó
mới là “thông minh”), kết quả là học sinh bị rối loạn, không học được phương pháp tư
duy theo kiểu đúng đắn khoa học và thông thường là: mỗi loại sự việc có một nguyên
tắc giải quyết, chỉ cần nắm vững một số nguyên tắc là giải quyết được hầu hết các sự
việc.
+ Cuối cùng là công tác kiểm tra kiến thức sau mỗi chủ đề để nắm chắc khả
năng tiếp thu, vận dụng của các em từ đó các em rút ra được những sai sót mà sửa
chữa, giáo viên cũng có kế hoạch bù đắp những lỗ hỏng (nếu có).
3.2. Lựa chọn đúng đối tượng học sinh
Giáo viên phải đánh giá học sinh một cách khách quan, chính xác, lựa chọn
đúng đối tượng học sinh để bồi dưỡng. Việc lựa chọn đúng không chỉ nâng cao hiệu
quả bồi dưỡng mà còn tránh được việc bỏ sót những em học sinh giỏi, hoặc chọn
nhầm những em không có tố chất theo học sẽ bị quá sức.
5
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở trường trung học cơ sở.
* Những căn cứ để lựa chọn:
6
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở trường trung học cơ sở.
chức học sinh vừa học chính khoá vừa phối hợp nâng cao. Vì thế soạn thảo chương
trình bồi dưỡng là một việc làm hết sức quan trọng và rất khó khăn nếu như chúng ta
không có sự tham khảo, tìm tòi và chọn lọc tốt.
Điều cần thiết là giáo viên cần phải nắm vững nội dung, chương trình học, cần
phải soạn thảo nội dung dẫn dắt học sinh từ cái cơ bản của nội dung chương trình học
chính khoá, tiến tới chương trình nâng cao (tức là, trước hết phải khắc sâu kiến thức
cơ bản của nội dung học chính khoá, từ đó vận dụng để nâng cao dần).
Cần soạn thảo chương trình theo vòng xoáy: Từ cơ bản đến nâng cao, từ đơn
giản đến phức tạp. Đồng thời cũng phải có ôn tập, củng cố.
Ví dụ: Cứ sau 2 đến 3 tiết củng cố kiến thức cơ bản và nâng cao thì cần có 1
tiết luyện tập, củng cố và cứ 6 đến 7 tiết thì cần có 1 tiết ôn tập hay luyện tập chung
để củng cố khắc sâu. Hoặc qua mỗi chuyên đề kiểm tra một bài để nắm bắt kiến thức
học sinh.
- Cần phải soạn thảo nội dung chương trình cho việc bồi dưỡng đảm bảo thời
lượng: Tiết, tuần, tháng, học kì, cả năm.
Tuy nhiên, việc soạn thảo chương trình còn tuỳ thuộc vào mức độ tiếp thu của
từng học sinh (làm sao cho các em có thể “tiêu hoá” được).
Cần giúp các em tổng hợp các dạng bài, các phương pháp giải. Vì hầu hết các
em chưa tự mình tổng hợp được mà đòi hỏi phải có sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo
viên.
Để các em vững vàng kiến thức, mở rộng được nhiều dạng bài tập thì mỗi dạng
bài cần phải luyện tập nhiều lần, đưa ra nhiều cách giải. Đồng thời thỉnh thoảng phải
củng cố, tổng hợp lại để khắc sâu.
Giáo viên cần phải đầu tư nhiều thời gian, tham khảo nhiều tài liệu để đúc rút
và cô đọng nội dung chương trình bồi dưỡng, phù hợp với đối tượng học sinh và thời
1
1
1
1
+
+
+ ... +
2.3 3.4 4.5
19.20
Định hướng giải bài toán
Đối với những bài toán như thế này thì chúng ta không thể tiến hành quy đồng
mẫu để tính tổng được vì làm như vậy chỉ làm mất thời gian của ta. Khi chúng ta gặp
những bài toán như thế này thì cần phải tìm ra quy luật của nó.
GV: Hãy phân tích số hạng thứ nhất thành hiệu ?
HS:
1
1 1
= −
2.3 2 3
GV: Tương tự hãy phân tích các số hạng tiếp theo.
8
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở trường trung học cơ sở.
1 1
+
+
+ ... +
= − + − + ... + −
2.3 3.4 4.5
19.20 2 3 3 4
19 20
1 1 10 1
9
= −
=
−
=
2 20 20 20 20
S=
Bài toán này nhằm tăng khả năng tư duy và lập luận cho HS một cách chặt chẽ.
Tìm ra được qui luật chung để giải hợp lí và nhanh hơn.
Ví dụ 2 ( Bài 7 Em học giỏi Toán 6 tr 92 )
Một số có ba chữ số, chữ số tận cùng bên trái là 4. Nếu chuyển chữ số 4 này
xuống cuối thì được một số mới bằng
3
số ban đầu. Tìm số đó.
4
Phân tích bài toán
GV: Bài toán yêu cầu làm gì ?
370a + 37b = 1184
10a + b = 32 hay ab = 32
Vậy số cần tìm là 432.
Tóm lại: Công việc định hướng giải bài toán cho HS là một công việc quan
trọng đầu tiên của một bài giải, nó đòi hỏi phải định hướng đúng nên GV cần rèn
luyện thường xuyên cho HS nhằm làm tăng khả năng suy luận, lập luận một cách
logic, giải quyết bài toán một cách nhanh chóng và tránh được mất thời gian khi giải
bài toán.
b/ Phân loại bài toán để bồi dưỡng năng lực giải toán cho các đối tượng HS
Bồi dưỡng năng lực phân loại bài toán cũng được coi là một bước quan trọng
để bồi dưỡng cho từng đối tượng HS một cách hợp lí nhất. Khi chúng ta làm tốt công
việc này sẽ giúp nhiều cho việc học tập của HS, nó cũng giúp HS nắm vững các kiến
thức đồng thời tăng khả năng giải toán cho các em và gây được hứng thú nhu cầu ham
học toán ở tất cả các đối tượng HS.
Các ví dụ minh họa
Ví dụ ( Sách nâng cao phát triển Toán 6 tập 2 tr 48)
Ba người cùng làm chung một công việc. Nếu làm riêng người thứ nhất phải
mất 4 giờ, người thứ hai phải mất 6 giờ, người thứ ba phải mất 5 giờ. Hỏi nếu làm
chung thì mỗi giờ cả ba người làm được bao nhiêu phần công việc.
Phân tích bài toán
10
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở trường trung học cơ sở.
GV: Người thứ nhất phải mất 4 giờ để làm chung một công việc. Vậy người thứ nhất
làm được bao nhiêu phần của công việc ?
HS: Người thứ nhất làm được
4
1
công việc.
6
1
công việc.
5
1
4
1
6
1
5
Vậy trong 1 giờ cả ba người làm được + + =
15 + 10 + 12 37
=
(công việc )
60
60
Đây là một bài toán rất gần với thực tế của cuộc sống nên học sinh rất tòi mò
về các dạng bài toán như vậy vì qua những bài toán vậy làm cho học thấy mối quan
hệ của toán học với cuộc sống thực tế, đồng thời thấy được lợi ít của học toán mang
lại.
Đây là một trong những bài toán mà học thường rất ngán ngại trong giải toán
GV: Ngoài cách biễu diễn đó, còn có cách nào thể hiện mối quan hệ của tổng đó hay
không ?
HS: 6b + r + r = 150 hay 6b = 150 – r - r = 150 -12 - 12 = 126
GV: Dựa vào đó ta có thể tìm được số chia b hay không ?
HS: b =
126
= 21 ( số chia )
6
12
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở trường trung học cơ sở.
GV: Khi tìm được số chia ta có thể tìm được số bị chia a hay không ?
HS: a = 5b + 12 = 5.21 + 12 = 117
Giải
Từ sơ đồ, ta thấy 6 lần số chia bằng 150 - 12 -12 = 126
Số chia bằng 126 : 6 = 21
Số bị chia bằng 21.5 + 12 = 117.
Vậy số chia cần tìm là 21 và số bị chia là 117.
Qua bài toán nhằm làm tăng khả năng phân tích bài toán cho HS, việc lựa chọn
phương pháp phân tích không phải vấn đề dễ do đó đòi hỏi GV và HS cần phải rèn
luyện thường xuyên. Vì vậy trong quá trình phân tích bài toán GV cần lựa chọn
phương pháp phân tích phù hợp và làm cho HS dễ hiểu.
Ví dụ 2 ( Ví dụ 80 Toán bồi dưỡng HS lớp 6 tr 71 )
Người ta điều tra trong lớp học có 40 HS thì có 30 HS Toán, 25 HS thích Văn,
2 HS không thích cả Toán và Văn. Hỏi có bao nhiêu HS thích cả hai môn Văn và
Toán ?
trong quá trình dạy học thì GV cần lựa chọn phương pháp phân tích sau cho học sinh
dễ hiểu. Đối với bài toán này thì lựa chọn phương pháp phân tích bằng phương pháp
trực quan sẽ mạng lại hiệu quả rất cao, thông thường các dạng bài toán như thế này
thì công việc phân tích bài toán được thể hiện ở những hình ảnh trực quan và giúp cho
HS dễ hiểu hơn vì các mối quan hệ giữa các đại lượng được thể hiện một cách cụ thể.
d/ Bồi dưỡng năng lực giải toán bằng nhiều cách và biết lựa chọn phương án tối
ưu
Giải toán là một quá trình thúc đẩy tư duy phát triển. Việc đào sâu, tìm tòi
nhiều lời giải cho một bài toán chẳng những góp phần phát triển tư duy của HS mà
còn góp phần hình thành nhân cách cho HS. Giúp các em không dừng lại ở một lời
giải mà phải hướng tới nhiều lời giải và chọn ra một lời giải đẹp, hoàn mĩ hơn trong
lúc giải toán nói riêng cũng như trong việc rèn luyện nhân cách sống của các em.
Trong quá trình giải toán cũng như bồi dưỡng HS giỏi, mỗi GV luôn không
ngừng tìm tòi nghiên cứu những những phương pháp dạy tối ưu nhất. Từ đó giúp HS
lĩnh hội các phương pháp giải toán hay, phát huy được tính sáng tạo của mình. Tìm ra
được nhiều cách giải hay và hợp lí.
*Một số ví dụ minh họa
14
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở trường trung học cơ sở.
Ví dụ 1: Một người bán 1 giỏ cam trong 4 ngày. Ngày thứ nhất bán
1 quả. Ngày thứ hai bán
1
số cam và thêm
2
3 . 2 = 6 quả
1
số cam ở lần bán thứ hai là:
2
6 + 1 = 7 quả
Số cam còn lại sau lần bán thứ nhất là: 7 . 2 = 14 quả
1
số cam ở lần bán thứ nhất là:
2
14 + 1 = 15 quả
Số cam đã mang ra chợ bán là:
15 . 2 = 30 quả.
Cách 2. Giải theo sơ đồ ngắn gọn và rễ hiểu
Số cam
người đó
mang đi
bán
1
. 1- ÷−1
2
15
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở trường trung học cơ sở.
thứ ba
thứ tư
(C)
(D)
Tính ngược từ dưới lên, ta có:
D=0
1
C = (0 + 1) : 1- ÷ = 2 quả
2
1
D = (2 + 1) : 1- ÷ = 6 quả
2
1
A = (6 + 1) : 1- ÷ = 14 quả
2
1
X = (14 + 1) : 1- ÷ = 30 quả
2
Ví dụ 2: Hiện nay tổng số tuổi của ba anh em là 58 tuổi. Hỏi tuổi của nỗi người,
biết rằng
1
tuổi của em út bằng số tuổi của anh cả.
4
2
Suy ra: Tuổi của em út bằng
Ta thấy: Tuổi em út bằng
1 3 2
8
:
= =
số tuổi của anh cả
2 4 3 12
8
8
tuổi anh thứ hai và bằng
tuổi anh cả.
9
12
16
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở trường trung học cơ sở.
Nên tuổi em út bằng
8
số tuổi của ba anh em
58 - 24 - 18 = 16 (tuổi).
Cách 2: Ta có thể chọ ẩn số. Cách này giúp học sinh lên lớp 7 học tốt hơn.
Gọi số tuổi người anh cả, người anh thứ hai và người em út lần lượt là a, b, c
(a, b, c ∈ N và a > b > c).
Theo bài ra ta có: a + b + c = 58
(1)
2
3
c= b
3
4
(2)
3
1
c= a
4
2
(3)
Từ (2) suy ra:
2
9
c = 16
29
8
17
(4)
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở trường trung học cơ sở.
Do đó:
⇒
b = 16 :
9
= 18
8
⇒
a = 16 :
6
= 24
4
+
+
+ ... +
1.2 2.3 3.4
9.10
Tìm hiểu nội dung bài toán
GV gợi ý cho HS bằng hệ thống câu hỏi sau:
Đối với câu a
GV: Để chứng minh một đẳng thức ta có những phương pháp nào ?
HS: Chứng minh vế trái bằng vế phải, vế phải bằng vế trái, hai vế của đẳng thức bằng
biểu thức thứ ba.
18
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở trường trung học cơ sở.
GV: Trong trường hợp này ta làm thế nào ? Vì sao ?
HS: Ta chứng minh vế phải bằng vế trái. Vì vế phải phức tạp hơn.
GV: Ta biến đổi vế phải bằng kiến thức nào ?
HS: Vế phải ta có thể coi là phép trừ hai phân số không cùng mẫu. Do đó ta quy đồng
mẫu và thực hiện phép trừ hai phân số không cùng mẫu ta sẽ có kết quả.
Đối với câu b
GV: Để tính giá trị của biểu thức A ta phải làm gì ?
HS: Áp dụng kết quả của câu a ta phân tích.
1 1 1 1
1 1 1 1 1
1
1 1
= − ;
= − + − + − + ... + − = − =
1.2 2.3 3.4
9.10 1 2 2 3 3 4
9 10 1 10 10
Sáng tạo bài toán mới
Cùng với nội dung tính tổng ta có các bài toán sau:
Bài toán 1 ( Bài 9.4 SBT Toán 6 tập 2 tr 24)
1 1 1
1
1
1
+ + +
+
6 12 20 30 42 56
Tính nhanh A = +
HS quy lạ về quen như sau:
1
1
1
1
1
1
=
;
=
;...;
1 1 1
1
+ 2 + 2 + ... + 2 < 1
2
2 3 4
10
HS quy lạ về quen như sau:
HS dựa vào biểu thức trung gian để so sánh.
Biểu thức trung gian của D với 1 là: A =
1
1
1
1
+
+
+ ... +
. Chính vì vậy
1.2 2.3 3.4
9.10
bài toán 3 đã biết cách giải.
D=
1 1 1
1
1
1
1
Việc rút kinh nghiệm sau mỗi bài kiểm tra thật sự là cần thiết, từ những lần rút
kinh nghiệm học sinh nhận ra mình còn yếu ở phần nào để có thể khắc phục, luyện
thêm.
Để thực hiện khâu này chúng ta chuẩn bị các bài tập theo dạng đề thi những
năm trước cho học sinh làm, có quy định thời gian làm bài, có chấm điểm, có khen
thưởng nếu các em làm bài tốt, nhưng nếu các em làm bài chưa tốt thì ta không nên
quở trách mà chỉ nên động viên để các em cố gắng hơn lần sau. Chúng ta nên đem
20
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở trường trung học cơ sở.
đến cho học sinh sự hứng thú đối với môn học lẫn người dạy, như vậy việc dạy của
chúng ta mới thuận lợi hơn.
HIỆU QUẢ KHI ÁP DỤNG
Tôi đã áp dụng phương pháp trên trong 3 năm học vừa qua và thu được kết quả
như sau:
- Năm học 2015 - 2016, tôi áp dụng kinh nghiệm vào việc bồi dưỡng học sinh
giỏi khối 6 có 5 em tham gia dự thi đều đạt giải cả ba 5 em. Trong đó:
+ 01 em giải nhất, 02 em giải nhì, 01 em giải ba, 01 em giải khuyến khích.
+ Đồng đội đứng thứ 2 toàn Thành phố.
- Năm học 2016-2017 tiếp tục áp dụng kinh nghiệm vào việc bồi dưỡng học
sinh giỏi lớp 6. Kết quả là:
+ Có 4 em tham gia dự thi đạt giải cả ba. Trong đó: 3 em đạt giải ( 2 giải nhì, 1
giải ba).
+ Đồng đội đứng thứ 4 toàn Thành phố
PHẦN III - KẾT LUẬN- BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ
1/ Bài học kinh nghiệm
- Xác định vai trò của người thầy là vô cùng quan trọng.
Việc bồi dưỡng học sinh giỏi giống như chúng ta ươm một mầm non. Nếu
chúng ta biết rào, biết thường xuyên chăm sóc, vun xới thì mầm non sẽ xanh tốt, phát
triển.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi, bản thân tôi đã áp dụng và thu
được những kết quả khả quan mà tôi mạnh dạn đư ra với mong muốn được sự góp ý
bổ sung thêm của đồng nghiệp để bản sáng kiến của này hoàn chỉnh hơn và góp một
phần nhỏ vào việc đổi mới trông công việc bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn
22
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán 6 ở trường trung học cơ sở.
Ý KIẾN HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CỦA TRƯỜNG
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................
C
HỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Ý KIẾN HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
..............................................................................................
.
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG