Tìm hiểu thái độ sống và cách ứng xử của một số nhà văn, nhà thơ trong văn học trung đại, nhằm rèn luyện tư duy logic và năng lực khái quát cho học sinh - Pdf 57

MỤC LỤC
Trang
1.Mở đầu ............................................................................................................ 2
1.2 Lí do chọn đề tài......................................................................................... ....2
1.3 Mục đích nghiên cứu.......................................................................................2
1.3 Đối tượng nghiên cứu................................................................................. ....2
1.4 Phương pháp nghiên cứu............................................................................... .2
2.Nội dung sáng kiến.............................................................................................2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.........................................................2
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.........................3
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề...............................................4
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm............................................................10
3. Kết luận, kiến nghị..........................................................................................11
Tài liệu tham khảo...............................................................................................13

1


1. PHẦN MỞ ĐẦU.
1.1. Lí do chọn đề tài:
Trong chương trình ngữ văn lớp 10, 11 dung lượng tác phẩm văn học trung đại
chiếm tỉ lệ lớn. Mỗi nhà văn, nhà thơ có một một quan niệm khác nhau trong
sáng tác, song những tác phẩm của họ đều có một điểm chung là: Phản ánh hiện
thực xã hội phong kiến và thể hiện được thái độ sống, cách ứng xử của mình
trong hoàn cảnh xã hội rối ren, dâu bể và khi đất nước có giặc ngoại xâm.
Đề tài này, sẽ bước đầu rèn luyện cho học sinh tiếp cận với dạng đề có câu hỏi
liên hệ với những tác phẩm khác trong phần nghị luận văn học, theo cấu trúc đề
thi Ngữ văn THPT quốc gia của bộ giáo dục và đào tạo. Mặt khác, khi chọn đề
tài này, tôi mong muốn góp phần vào việc giảng dạy văn học trung đại được tốt
hơn khi mỗi giáo viên và học sinh đều có cái nhìn khái quát về “ thái độ sống và
cách ứng xử của các, nhà thơ, nhà văn” đối với cuộc sống.

hướng nào đó, trước một vấn đề, một tình huống nào đó.

2


Ứng xử: Là có thái độ, hành động, lời nói thích hợp trong việc xử sự một tình
hống nào đó của cuộc sống.
Những nhà văn thời trung đại, khi đứng trước xã hội có nhiều kẻ nịnh thần,
triều đình mục nát, nhu nhược, những người có tài năng, trung thực, thẳng thắn
bị đè nén, chèn ép, thì họ đã có cách nghĩ, cách nhìn, cách hành động khéo léo
để giữ vững khí tiết thanh cao, liêm khiết. Qua thơ văn, họ vừa thể hiện được
quan niệm sống của mình, vừa phê phán xã hội phong kiến bất công, vừa đồng
cảm với hoàn cảnh của nhân dân lao động. Nhìn chung, thái độ và cách ứng xử
của các nhà văn, nhà thơ trung đại được thể hiện qua các tác phẩm đã góp phần
tiếp nối hai dòng chảy của văn học Việt Nam là: truyền thống yêu nước và tinh
thần nhân đạo.
Môn Ngữ văn là một môn rất quan trọng, có ý nghĩa trong việc hình thành,
định hướng, phát triển nhân cách cho học sinh. Học văn là học làm người, học
phép ứng nhân xử thế trong cuộc sống. Đây cũng là môn học nghệ thuật kích
thích trí tưởng tượng bay bổng, sáng tạo của người học. Việc dạy học đi từ cụ
thể đến khái quát, từ khái quát soi chiếu vào từng vấn đề cụ thể ... giúp nâng cao
hiệu quả của tiết dạy học.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy phương pháp giảng dạy truyền thống
thầy đọc trò chép, là phương pháp không phát triển được tư duy người học . Vì
thế, dạy học theo hướng đi từ tư duy cụ thể đến khái quát, từ khái quát đến cụ
thể là một xu hướng tất yếu của dạy học hiện đại, là biện pháp để tích cực hóa
các hoạt động nhận thức của học sinh. Học sinh được rèn luyện thói quen tư duy,
nhận thức vấn đề một cách có hệ thống và logic.
Về ưu điểm: Dạy học theo chủ đề và liên hệ với nhiều tác giả, tác phẩm giúp

với chữ “trung” trong “Vào phủ chúa Trịnh” của Lê HữuTrác? Vì sao có sự
khác nhau đó?
Thống kê về thực trạng của học sinh làm bài như sau:
Lớp Số Từ 8 điểm trở Từ 6,5 đến 7,9 Từ 5 đến 6,4 Dưới 5 điểm
học
lên
điểm
điểm.
sinh
Số
%
Số
%
Số
%
Số
%
lượng
lượng
lượng
lượng
11B1 39
1
2,6
3
7,7
10
25,6
25
64,1

giữa nhân dân và giai cấp thống trị ngày càng rõ rệt.Nhiều cuộc khởi nghĩa nông
dân diễn ra vào những năm 30- 40 của thế kỉ XVIII.
Từ nửa sau thế kỉ XVIII đến nủa đầu thế kỉ XIX: Chế độ phong kiến đằng
trong, đằng ngoài rơi vào khủng hoảng trầm trọng và có nguy cơ sụp đổ. Phong
trào nông dân khởi nghĩa mạnh như vũ bão, tiêu biểu là phong trào Tâp Sơn,
...thống nhất được đất nước nhưng cuối cùng thất bại. Đất nước đã rơi vào hiểm
họa xâm lăng của thực dân Pháp.
Từ nửa cuối thế kỉ XIX: Pháp xâm lược Việt Nam. Xã hội Chuyển dần từ xã
hội phong kiến sang thực dân nửa phong kiến.
2.3.2. Thái độ sống và cách ứng xử của các nhà văn, nhà thơ trong nền văn
học trung đại.
a. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585)
Ông từng thi đỗ trạng nguyên và ra làm quan dưới triều Mạc. Khi làm quan
ông dâng sớ chém mười tám tên lộng thần, nhà vua không nghe nên ông cáo
quan về ở ẩn. Ở quê nhà 44 năm nhưng lòng không ngày nào quên đời, cái ưu

4


thời mẫn thế lúc nào cũng lộ rõ trong thơ. Thơ ông vừa ca ngợi chữ “nhàn”,
vừa tố áo hiện thực thối nát của cuộc đời.
Vì “mùi thế gian nhiều mặn nhạt”, đường công danh còn nhiều bon chen nên
tác giả muốn lánh đục về trong, để giữ gìn nhân cách. Ông tìm đến sự tiêu dao
tiên phật, bởi chỉ có ở đó ông mới không bị ràng buộc bởi danh hoa phú quí,
không bị khuất phục bởi thế lực gian tà, và ông tìm về với con đường đại ẩn:
Ông ca tụng cảnh nhàn với những thú vui riêng: “Một mai một cuốc một cần
câu”, đây là cái nhàn của tầng lớp sĩ phu yêu nước. Ẩn dật nhưng lúc nào cũng
lo cho dân, cho nước, vẫn giữ được chữ “ trung” của một trang nam tử:
“Nghĩa cả luống quên tôi chúa cũ”
“Ơn chúa đã nhiều chưa báo đáp

“Lính nghìn cửa vác đòng nghiêm ngặt
Cả trời Nam sang nhất là đây
Lầu tầng gác vẽ tung mây
Rèm châu hiên ngọc bóng mai ánh vào

5


Hoa cung thoảng ngọt ngào đưa tới
Vườn ngự nghe vẹt nói đòi phen
Quê mùa cung cấm chưa quen
Khác gì ngư phủ đào nguyên thuở nào”
Lời khen của tác giả có một chút mỉa mai châm biếm “bây giờ tôi mới biết cảnh
giàu sang nơi phủ chúa thực khác đời thường”. Khi được mời ăn tác giả nhận
xét “ mâm vàng chén bạc, đồ ăn toàn của ngon vật lạ, bây giờ tôi mới biết cái
phong vị của một nhà đại gia”. Nói về bệnh tình của thế tử ông khẳng định” Vì
thế tử ở trong màn che, trướng gấm quá lâu, ăn quá no mặc quá ấm nên tạng
phủ yếu đi”. Như vậy, tác giả vẫn khen cái đẹp, cái sang nơi phủ chúa song vẫn
tỏ ra dửng dưng trước những quyến rũ vật chất, và không đồng tình với cuộc
sống quá no đủ, nhiều tiện nghi mà thiếu khí trời.
Lê Hữu Trác còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ, luôn giữ được lòng
trung với vua chúa “nếu ta chữa có kết quả ngay thì bị danh lợi nó ràng buộc,
chi bằng ta dùng thứ thuốc hòa hoãn, nếu không đúng thì cũng không sai bao
nhiêu. Nhưng rồi nghĩ lại: Cha ông mình đời đời chịu ơn của nước, ta phải dốc
hết cái lòng thành, để nối tiếp cái lòng trung của cha ông mình mới được”.
Ông luôn thường trực ý muốn “về núi”- về quê ở ẩn, để tận hưởng cuộc sống
thanh đạm, tự do. Đây là cách xử thế đối nghịch với quan điểm sống của phủ
chúa và bọ quan quyền. Nhưng nét đáng quý là, ông không bao giờ quay lưng lại
với đất nước và nhân dân, dốc hết tâm lực của mình để truyền bá y học và chữa
bệnh cho người nghèo

Chiêm mất đằng chiêm mùa mất mùa”
“Hàng quán người về nghe xao xác
Nợ nần năm hết hỏi lung tung”
“Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo
Nhân tình trắng thế lại bôi vôi”
Trong thơ văn của ông, ta còn thấy ông “tự cười mình, hổ thẹn và gớm giếc”
cho mình vì mang tiếng đỗ đầu ba kì thi nhưng ông không làm được gì cho đất
nước.
“Sách vở ích gì cho buổi ấy
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già:
“Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng”
Ẩn dật, sống vì dân cảm thông với họ, trăn trở về đất nước là thái độ sống tích
cực, là cách ứng xử cao đẹp của một “ tri thức dân tộc, giàu tài năng, sống
thanh bạch, đôn hậu, khí tiết, yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc”.
d. Nguyễn Công Trứ: (1778 – 1858).
Ông đã từng quan niệm: “Đã sinh ra ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”
Muốn có được chữ “danh” thì người con trai trong xã hội phong kiến phải họcđi thi- ra làm quan- phò đời giúp nước. Năm 42 tuổi Nguyễn Công Trứ mới đậu
giải nguyên và được bổ làm quan, và ông đã có dịp thể hiện tài năng của mình
trên con đường hoạn lộ. Cuộc đời làm quan của ông lên xuống đảo điên, lúc làm
tổng đốc, lúc bị giáng xuống làm lính thú ở biên thùy, nhưng dù làm việc gì ông
cũng làm tròn trách nhiệm của mình, thậm chí còn tham lam một cách ngất
ngưởng: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”- tức là ông đã vơ hết mọi việc trong vũ
trụ trời đất làm phận sự của mình. Đây là biểu hiện của cái tôi mạnh mẽ trong
văn học trung đại, đối lập và thách thức cái ta chung của xã hội..
Không như những nhà nho khác, cáo quan giữa chừng để về sống ẩn dật.
Nguyễn Công Trứ hăm hở trên con đường hoạn lộ. Sống giữa chốn quan trường
đầy bon chen, lợi lộc nhưng lúc nào ông cũng giữ được nhân cách của một nhà
nho. Tại sao như vậy? Tại vì ông là con người ‘ ngất ngưởng”, sống khác đời

“Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông”
Câu thơ vừa là lời thách thức bọn quan lại a dua, nịnh thần, bạc nhược , vừa là
câu hỏi, trong triều này có ai tài năng, trung hiếu vẹn toàn, có ai có thể sống
bằng giá trị của mình như Nguyễn Công Trứ. Vừa như vỗ vào mặt đám quan lại,
đồng thời khẳng định cá tính đòi hỏi sự tự do, thoát khỏi sự gò bó chật hẹp của
chế độ phong kiến.
e. Cao Bá Quát (1809 – 1855).
Là nho sĩ, Cao Bá quát không tránh khỏi lối mòn xưa cũ: Học – đi thi – ra làm
quan – phò đời, giúp nước. Năm 1831 ông thi đỗ cử nhân, và ra làm quan với
triều Nguyễn. Nhưng xã hội suy tàn, mục nát và có nguy co tan rã, vì thế ông
cũng không mấy tha thiết với công danh và chức tước. Nếu Nguyễn Công Trứ
luôn tự hào với những ngày tháng được thăng quan thì Cao Bá Quát lại cảm thấy
việc làm quan là con đường mưu cầu danh lợi tầm thường. Ông bất bình với việc
thi cử tuyển chọn nhân tài của triều đình nên nhân một lần làm giám khảo
trường thi ông đã từng lấy muội đèn chữa cho những bài hay, có chất lượng mà
phạm húy, để lấy đỗ. Sự việc bị phát giác ông bị đày ra nước ngoài để lấy công
chuộc tội.
Từ thái độ bắt bình đó, tác giả đã thể hiện rõ sự phê phán trong lối học vô nghĩa
của người trí thức và của mình:
“Đời ta lầm lỡ vì cái danh hờ
Hàng nghìn năm chìm đắm trong bút mực”
Vì lưu luyến sự sáng sủa nên học làm quan
Một chút danh mà lận đận mãi chưa thể nhàn được”
Ông đã từng ví “công danh có một sức cám dỗ lớn” như một thứ rượu ngon, ở
đó người say thì vô số còn người tỉnh thì rất ít:
“Đầu gió hơi men thơm quán rượu
Người say vô số tỉnh bao người”
Và Ông thừa nhận mình là một người say, biết say mà không sao dứt được bởi
ông nghĩ “Vì lưu luyến sự sáng sủa nên học làm quan”. Không ngờ con đường

“Thà đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn có mắt ông cha không thờ
Thà đui mà đặng trọn mình
Còn hơn có mắt đổi hình tóc râu”
Ông không trực tiếp cầm gươm giết giặc , nhưng vẫn cùng với các lãnh tụ
nghĩa quân như Phan Tòng, Trương Định bàn mưu tính kế đánh giặc. Dùng ngòi
bút của mình vừa đâm gian, vừa chở đạo:
“ Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
Đau xót cho nhân dân trước cảnh nước mất nhà tan, vì họ mà lên tiếng oán hờn,
vì họ mà tố cáo tộ ác của triều đình và giặc ngoại xâm:
“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ đàn chim dáo dác bay”
Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”
Giặc đến khiến tất cả đều loạn lạc, chúng vơ vét của cải, đốt phá nhà cửa làng
mạc, khiến của tiền của nhân dân tan nhanh, tan sạch như bọt nước...Câu thơ
thể hiện sự căm hờn cháy bỏng căm hờn của tác giả đối với những thế lực bạo

9


tàn. Từ sự căm hờn đó tác giả quay về oán trách, qui tội, mỉa mai, phê phán sự
bạc nhược của triều đình:
“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng
Nỡ để dân đen mắc nạn này”
Thương dân, sống gần gũi với họ, nên tác giả không chỉ thấy họ bắt hạnh, đói
nghèo mà còn thấy được phẩm chất yêu nước đáng quý đáng khâm phục. Khi có
giặc ngoại xâm họ đã đứng lên chiến đấu như vũ bão: “Đạp rào lướt tới, coi
giặc cũng như không, xô cửa xông vào, liều mình ngư chẳng có...chém rớt đầu

%
Số
%
Số
%
lượng
lượng
lượng
lượng
11B1 39
6
15,4
14
35,9
15
38,4
4
10,3
11B2 39
2
5,1
10
25,6
22
56,4
5
12,9
11B9 40
0
0

thanh cao luôn hướng về nhân dân để cảm thông chia sẻ, và lên tiếng oán trách
những thế lực bạo tàn.
Với đề tài này, tôi muốn góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu và giảng dạy
phần văn học trung đại của đồng nghiệp được tốt hơn. Giúp học sinh nhận ra
điểm tương đồng và khác biệt trong cách ứng xử của các nhà văn để các em trau
dồi, rèn luyện lòng yêu nước, thương dân và có thể giải quyết được những câu
hỏi liên hệ trong phần nghị luận văn học thuộc văn học trung đại.
Bài nghiên cứu đã thu được một số thành công, song cũng không tránh được
hạn chế. Để có được một kết quả tốt cần phải có công tác chuẩn bị tốt. Ngoài
kiến thức bài dạy, cần phải tìm hiểu thêm các kiến thức liên quan ở các bài khác
để liên hệ, mở rộng và nâng cao . Sự thành công đòi hỏi phải có sự hợp tác hai
phía giữa thầy và trò.. Tóm lại, để đạt được mục tiêu giáo dục với những yêu
cầu trên, mỗi giáo viên chúng ta cần có nhiều cố gắng nỗ lực tìm tòi nắm vững
yêu cầu kiến thức và kĩ năng cỏ bản của từng bài học cụ thể, từ đó tìm tòi, lựa
chọn phương pháp tích hợp trong quá trình dạy học. Cần đầu tư cho khâu chuẩn
bị bài dạy học để có thể phát huy tối đa năng lực tìm tòi sáng tạo của học
sinh.Thành công của bài dạy chính là sau bài học, học sinh sẽ có đủ kiến thức và
năng lực để tự khám phá cái hay cái đẹp của tác phẩm văn chương hoặc có thể
tự mình tạo lập văn bản trong những tình huống mà đời sống đặt ra cho các em.
Bản thân tôi nhận thấy, đây chỉ là một cách làm nhỏ, một sáng kiến nhỏ thực
hiện trong phạm vi đơn vị mà mình đang công tác. Nhưng nếu được quan tâm
của lãnh đạo, của đồng nghiệp, của cấp trên đánh giá mặt hạn chế và mặt tích
cực của sáng kiến này để bổ sung, hoàn chỉnh hơn thì việc mở rộng áp dụng có
thể có tính khả thi cao.
3.2. Kiến nghị:
Sau khi nghiên cứu và áp dụng sáng kiến này, tôi thấy kết quả đạt được có phần
khả quan, vì vậy tôi rất mong muốn kinh nghiệm mà tôi đúc rút ra qua quá trình
giảng dạy có thể giúp ích cho đồng nghiệp. Nhà trường cần tạo điều kiện cho
giáo viên và học sinh có những buổi ngoại khóa về các vấn đề thuộc lĩnh vực
văn học . Qua đó sẽ rèn luyện cho học sinh năng lực chủ động sáng tạo khi tìm

[3]: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 11, Nhà
xuất bản giáo dục Việt Nam năm 2010.
[4]: Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 10, Nhà xuất bản Giáo dục ,
xuất bản năm 2006
[5]: Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 11, Nhà xuất bản Giáo dục, xuất
bản năm 2006
[6]: Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, trung tâm từ điển học Hà
Nội, năm 2002.
[7]: Tài liệu tập huấn cán bộ quản lí và giáo viên trung học về xây dựng
ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trên mạng môn Ngữ văn, Sở giáo
dục và đào tạo Thanh Hóa, tháng 12 năm 2018.

13




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status