HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO THÂN NHÂN BỆNH NHI VỀ DỰ PHÒNG HEN PHẾ QUẢN - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÙI THỊ THÚY HẰNG

HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO THÂN
NHÂN BỆNH NHI VỀ DỰ PHÒNG HEN PHẾ QUẢN

Chuyên ngành: Điều dưỡng
Mã số: 60720501
Luận văn Thạc sĩ Điều dưỡng

Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. TRẦN THỤY KHÁNH LINH
2. TS. ELIZABETH A. ESTERL

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả

Bùi Thị Thúy Hằng



2.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU...................................................................25
2.4. CỠ MẪU....................................................................................................25
2.5. DÂN SỐ NGHIÊN CỨU...........................................................................26
2.5.1. Dân số mục tiêu............................................................................26
2.5.2. Dân số nghiên cứu.........................................................................26
2.6. KỸ THUẬT CHỌN MẪU.........................................................................26
2.7. TIÊU CHÍ CHỌN MẪU............................................................................27
2.7.1. Tiêu chí chọn vào..........................................................................27
2.7.2. Tiêu chí loại ra..............................................................................27
2.8. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU...................................................27
2.8.1. Phương pháp thu thập số liệu........................................................27
2.8.2. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả..........................................................28
2.9. CÔNG CỤ THU THẬP SỐ LIỆU.............................................................28
2.10. KẾ HOẠCH THU THẬP SỐ LIỆU........................................................29
2.11. LIỆT KÊ VÀ ĐỊNH NGHĨA CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU................29
2.12. KIỂM SOÁT SAI LỆCH.........................................................................35
2.13. PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU......................35
2.13.1. Kiểm tra dữ liệu..........................................................................35
2.13.2. Mã hóa thông tin từ phiếu khảo sát.............................................35
2.13.3. Phân tích dữ liệu.........................................................................35
2.14. VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU.......................................36
2.15. TÍNH ỨNG DỤNG CỦA NGHIÊN CỨU..............................................36
TÓM TẮT QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU................................38
Chương 3.........................................................................................................39
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................................39


3.1. THÔNG TIN VỀ BỆNH NHI....................................................................39
3.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA THÂN NHÂN BỆNH NHI..........................................41

PHỤ LỤC 4.....................................................................................................103


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BN

:

Bệnh nhi

BXĐL

:

Bình xịt định liều

BV

:

Bệnh viện

ĐD

:

Điều dưỡng

GDSK


:

Người chăm sóc

PEF

:

Lưu lượng đỉnh thở ra

NCS

:

Người chăm sóc

TC/CĐ/ĐH/SĐH

:

Trung cấp/ Cao đẳng/ Đại học/ sau Đại học

SV

:

Sinh viên

WHO


Bảng 3.14. Mối liên quan giữa thực hành sử dụng thuốc dự phòng hen phế
quản với các đặc điểm nhân khẩu học của các thân nhân bệnh nhi .


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hen phế quản (HPQ) là một trong những bệnh mạn tính ở đường hô
hấp, thường gặp nhất trên thế giới và đang gia tăng tại các nước đang phát
triển[49]. Ảnh hưởng đến 1 -16% dân số ở các nước khác nhau [41].Theo
báo cáo mới nhất của WHO vào tháng 12 năm 2016 về hen toàn cầu ước tính
có khoảng 334 triệu người trên toàn thế giới mắc bệnh hen phế quản dự báo
đến năm 2025 số bệnh nhân có thể tăng lên khoảng 400 triệu người trên toàn
cầu. Tuy nhiên, trong số đó, chỉ có khoảng từ 5% bệnh nhân hen được chẩn
đoán và điều trị đúng cách. Cũng theo báo cáo của WHO có khoảng 383
nghìn người chết do hen phế quản vào năm 2015 [49]. HPQ là một vấn đề y
tế cộng đồng không chỉ cho các nước có thu nhập cao, nó xảy ra ở tất cả các
nước không phân biệt trình độ phát triển. Hơn 80% các trường hợp tử vong
liên quan đến HPQ xảy ra ở các nước thu nhập thấp. Hen phế quản tạo ra
gánh nặng lớn cho các cá nhân và gia đình và thường hạn chế các hoạt động
cá nhân suốt cả cuộc đời [49]. Đó là một vấn đề sức khỏe toàn cầu nghiêm
trọng ảnh hưởng đến tất cả các nhóm tuổi, tăng chi phí điều trị, và gia tăng
gánh nặng đối với người bệnh, gia đình và cộng đồng [41]. HPQ chiếm tỷ lệ
rất cao ở trẻ em. Trên toàn thế giới, HPQ chiếm 12 - 14% trẻ em ở độ tuổi đi
học và thanh thiếu niên [29]. Hen phế quản ở trẻ em phổ biến hơn nhiều ở
các khu vực đô thị, hơn 80% bệnh hen khởi phát trước 6 tuổi [8]. Bên cạnh
đó, tác động của HPQ cũng ảnh hưởng đến cha mẹ của những đứa trẻ và
người chăm sóc, chất lượng sống của họ được liên kết chặt chẽ với các mức
độ mà bệnh được kiểm soát [21].
Ở Việt Nam, có hơn 8 triệu người bị HPQ (hơn 5% dân số) kết quả là



3

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:
• Tỷ lệ các các thân nhân trẻ có nhận thức và thực hành đúng về dự
phòng HPQ trước và sau tư vấn giáo dục sức khỏe là bao nhiêu? Có
sự khác biệt không?
• Có mối liên quan giữa nhận thức, thực hành về dự phòng hen phế
quản với các đặc điểm nhân khẩu học của các thân nhân bệnh nhi hay
không?
• Có mối liên quan giữa nhận thức và thực hành sử dụng thuốc điều trị
dự phòng hen phế quản của các thân nhân bệnh nhi hay không?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát:
Đánh giá hiệu quả chương trình giáo dục sức khỏe thông qua sự thay
đổi trước về nhận thức và thực hành sử dụng thuốc điều trị dự phòng hen
phế quản trước và sau khi được tư vấn giáo dục sức khỏe.
Mục tiêu cụ thể:
1. Xác định tỷ lệ các các thân nhân trẻ có nhận thức và thực hành đúng về dự
phòng HPQ trước và sau tư vấn giáo dục sức khỏe.
2. So sánh tỷ lệ thân nhân bệnh nhi có nhận thức và thực hành đúng trước và
sau tư vấn giáo dục sức khỏe.
3. Xác định mối liên quan giữa nhận thức và thực hành về dự phòng hen phế
quản với các đặc điểm nhân khẩu học của các thân nhân bệnh nhi


4

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

chuẩn về đánh giá các triệu chứng bệnh HPQ xác định tỷ lệ bệnh HPQ toàn
cầu chiếm từ 1 – 16% dân số ở các nước khác nhau [41]
Có các bằng chứng cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ HPQ ở
trẻ em. Ở các nước Tây Âu, tỷ lệ này đã giảm trong những
thập niên gần đây nhưng lại tăng lên ở các khu vực mà trước
đây có tỷ lệ thấp như Châu Phi, Mỹ Latinh, Đông Âu và Châu
Á.
Tỷ lệ mắc hen của các quốc gia trên thế giới khác nhau,
các nước phát
triển thường có tỷ lệ mắc hen cao hơn các nước đang phát
triển. Các thông báo dịch tễ gần đây cho thấy hen đang gia tăng một cách
đáng kể trên phạm vi toàn cầu [40]. Có rất nhiều nghiên cứu về tỷ lệ và tình
hình dịch tễ HPQ. Trong số này có hai nghiên cứu quốc tế đáng lưu ý nhất.
Một nghiên cứu ở trẻ em (ISAAC: International Study of Asthma and
Allergies in Childhood) [18]và một nghiên cứu ở người lớn (European
Community Respiratory Health Survey) [26]. Hai nghiên cứu này đã cho
những nhận xét quan trọng. Đó là hình ảnh khuynh hướng dịch tễ hen ở các
cộng đồng. Trong khi ở một số nước hen có vẻ giảm thì ở một số nước khác
hen lại tăng lên một cách đáng kể, nhất là hen ở trẻ 12 đến 13 tuổi [18]. Các
nghiên cứu cộng đồng cắt ngang cho thấy có sự rất khác nhau giữa các cộng
đồng, điều này được cho là do khác nhau về ghi nhận triệu chứng hơn là tính
đa dạng bệnh học hen thực sự. Tuy nhiên có một sự khác biệt rất rõ từ các
nghiên cứu cả ở trẻ em và người lớn. Ở châu Á (nhất là Trung Quốc và Ấn
Độ) tỷ lệ mắc bệnh thấp (2 - 4%). Trong khi ở các nước kinh tế phát triển
khu vực Tây Âu, Úc, New Zealand và Canada tỷ lệ cao hơn (15 - 20%) [25].
Một điều nữa đáng lưu ý là trẻ 13 - 14 tuổi sống ở Trung Quốc có tỷ lệ mắc


6


tượng bệnh lý cơ bản: viêm, co thắt và gia tăng phản ứng phế quản.
1.1.3.1. Viêm là quá trình chủ yếu trong cơ chế bệnh sinh của hen phế quản
Đây là hiện tượng viêm theo cơ chế miễn dịch – dị ứng có sự tham gia
của nhiều yếu tố khác nhau:
1.1.3.2. Co thắt phế quản
1.1.3.3. Gia tăng tính phản ứng phế quản
1.1.4. Nguyên nhân [9].
1.1.4.1. Những nguyên nhân chủ yếu gây bệnh hen
- Dị nguyên đường hô hấp: là nguyên nhân chủ yếu, thường gặp nhiều
nhất như bụi nhà, nơi có nhiều loại “bet” (acarien) như Dermatophagoid
Pteronyssinu (DP), Dermatophagoid Farinae (DF) thường gặp gây hen ở trẻ
em 3 – 4 tuổi, các loại nấm, mốc gây bệnh ở trẻ em lớn hơn 6 – 7 tuổi trở lên
như Aspergillus, Cladosporium Alternaria… Các loại bụi khói, lông súc vật,
phấn hoa, các khí lạnh, các chất hóa học, chất có mùi, các chất thải của động
cơ nổ như ô tô, xe máy (xăng dầu).
- Dị nguyên thức ăn: đặc biệt là các loại sữa, loại thức ăn tiếp xúc đầu
tiên với trẻ em (sữa bò, sữa trâu, sữa dê và các chế phẩm của sữa), các thức
ăn khác như tôm, cá các loại.
- Thuốc và các hóa chất: đáng chú ý là aspirin là nguyên nhân của nhiều
trường hợp hen phế quản nặng ở trẻ cũng như ở người lớn, sau đó là các loại
thuốc khác như penicillin, sulfamid.


8

- Yếu tố viêm nhiễm như viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi
tái phát nhiều lần, viêm xoang, viêm amidan, VA và các bệnh mạn tính khác
đều có thể là nguyên nhân gây hen phế quản sau này. Đặc biệt là nhiễm
khuẩn do trẻ nhỏ thường gặp là virus hợp bào hô hấp, virus cúm và á cúm.
1.1.4.2. Các yếu tố thuận lợi gây khởi phát cơn hen

- Hen phế quản dị ứng – nhiễm khuẩn: Do các loại vi khuẩn, virus, các
nấm mốc.
1.1.5. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng [9].
1.1.5.1. Triệu chứng cơ năng
Ho: lúc đầu là ho khan, sau xuất tiết nhiều đờm dãi, ho dai dẳng không
có giờ giấc nhất định, ho nhiều về đêm nhất là khi thay đổi thời tiết.
Khạc đờm, khi trẻ ho thường khạc nhiều đờm trắng. Nếu đờm có mủ
tức là có bội nhiễm viêm phế quản do vi khuẩn.
Khó thở: chủ yếu là khó thở ra, kéo dài. Trường hợp nhẹ khó thở chỉ
xuất hiện khi gắng sức, khi ho, khi khóc, cười hoặc khi nuốt.


10

Trường hợp điển hình khó thở biểu hiện thường xuyên kiểu khó thở ra,
có tiếng khò khè. Trước khi xuất hiện cơn khó thở khò khè trẻ thường xuất
hiện một số dấu hiệu báo trước như hắt hơi, ngứa mũi, ngạt mũi, chảy nước
mũi hoặc một số triệu chứng khác như chán ăn, đau bụng, nặng ngực.
1.1.5.2. Triệu chứng thực thể
Gõ phổi: có thể thấy vang hơn bình thường, vùng đục trước tim giảm,
lồng ngực như bị giãn ra.
Nghe: có tiếng ran rít, ran ngáy, tiếng thở khò khè, rì rào phế nang âm
sắc trở nên rít
Trường hợp HPQ kéo dài, lồng ngực có thể nhô ra phía trước, vai nhô
lên trên, xương sườn nằm ngang, các khoảng liên sườn giãn rộng.
1.1.5.3. Thăm dò cân lâm sàng
Xét nghiệm đờm: ở trẻ lớn có thể khạc đờm màu trắng bóng, lẫn bọt và
dính.
Nước mũi có tính chất kiềm, không kích thích đối với niêm mạc mũi và
tổ chức xung quanh.

thấy hình ảnh rối loạn thông khí, có thể xẹp phổi,…
1.1.6. Chẩn đoán [9]: Chẩn đoán HPQ có thể dựa vào các yếu tố sau:
1.1.6.1. Khai thác tiền sử bản thân và gia đình


12

Theo nhiều tác giả, yếu tố gia đình góp phần quan trọng trong chẩn
đoán HPQ (khoảng 50 – 75 % trong gia đình có người bị hen hoặc bị các
bệnh dị ứng khác).
Bản thân trẻ có tiền sử, cơ địa dị ứng như chàm thể tạng, viêm mũi dị
ứng, nổi mề đay, thường có phối hợp HPQ.
Hoặc có tiền sử tiếp xúc với các dị nguyên hô hấp, các hóa chất và
thuốc sau đó lên cơn hen hoặc biểu hiện khò khè.
Hoặc trẻ bị các nhiễm khuẩn hô hấp tái phát nhiều lần
1.1.7.2. Triệu chứng lâm sàng: Các dấu hiệu quan trọng cần lưu ý là:
Thở khò khè với âm độ cao khi thở ra, khò khè có tính chất tái diễn,
thường xuất hiện nhiều hơn vào ban đêm.
Ho xuất tiết tăng nhiều về đêm.
Khó thở tái phát
Nghe phổi có nhiều ran rít, ran ngáy…
1.1.7.3. Thăm dò cận lâm sàng
Thử nghiệm ngoài da (test lẩy da) dương tính
Tăng bạch cầu ái toan trong máu, trong dịch tiết mũi họng
Tăng IgE trong máu
Lưu lượng đỉnh thở ra ( Peak Expiratory Flow: PEF) tăng 15% sau khi
cho trẻ hít thuốc giãn phế quản có tác dụng nhanh trong 15 – 20 phút hoặc
PEF thay đổi trên 20% đo vào buổi sáng ngay sau khi dùng thuốc giãn phế
quản so với 12 giờ sau khi dùng thuốc.


14

1.1.7.4. Phân loại hen phế quản
- Hen dị ứng: dị ứng các dị nguyên
- Hen không dị ứng: hen do virus và hen do vận động
• Hen do virus: thường gặp trẻ nhỏ (3-5 tuổi), thường khởi phát sau
nhiễm trùng đường hô hấp (cảm cúm), sẽ tự khỏi theo thời gian, có thể
hết hẳn khi trẻ 6 tuổi. Tuy nhiên, có những trường hợp kéo dài qua
tuổi đi học hoặc chuyển qua các thể hen khác.
• Hen do vận động: thường gặp ở trẻ nhỏ, khởi phát khi vận động quá
mức: chơi thể thao, chạy nhảy,…
1.1.7.5. Các yếu tố khởi phát cơn hen và biện pháp phòng ngừa
- Các yếu tố khởi phát: thời tiết, virus, gắng sức, lông súc vật, khói bụi, khói
thuốc lá, nước hoa, nước xịt phòng,…
- Các biện pháp phòng ngừa:
• Tuân thủ điều trị
• Tránh tiếp xúc với các yêu tố kích hoạt khởi phát cơn hen: lông súc
vật, khói bụi,…
• Bảo vệ trẻ tránh mắc các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp: vệ sinh mũi
họng, tiêm ngừa cúm, giữ ấm cho trẻ, tránh thay đổi nhiệt độ cho trẻ
• Đối với hen do vận động: Trẻ có thể chơi các môn thể thao nhưng cần
lưu ý: cho trẻ dùng thuốc theo chỉ định của bác sỹ và làm nóng bằng
các bài tập nhẹ trong một vài phút.
1.1.7.6. Các loại thuốc dùng để kiểm soát hen
- Thuốc cắt cơn: Dùng khi trẻ đang lên cơn hen (khi có bất kỳ triệu chứng
nào của hen), đôi khi được dùng trước khi trẻ chơi thể thao hoặc vận động
quá mức
- Thuốc phòng ngừa khởi phát hen: được sử dụng mỗi ngày, theo chỉ định
của bác sĩ




16

1.2. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của Franquet M, Husson M, Dubus JC, Rimet Y (2015) về
“Kiến thức và kinh nghiệm của các bậc cha mẹ trẻ em từ 2 đến 15 tuổi được
tham vấn tại khoa cấp cứu nhi HPQ”. Kết quả cho thấy: Năm mươi phần
trăm các bệnh nhân đều không được theo dõi đầy đủ và và không được điều
trị. Một nửa số phụ huynh cho biết họ chưa bao giờ nhận được bất kỳ thông
tin liên quan đến tình trạng của con em mình. Đa số (86%) không biết
nguyên nhân cơ bản của bệnh, 30% là không thể phát hiện các đặc điểm của
đợt lâm sàng, và 17% không được sử dụng một phương thức cấp cứu đầy đủ.
Kiến thức của các bậc cha mẹ và con cái của họ bị hen là không đủ để kiểm
soát tối ưu và quản lý dịch bệnh. Hướng dẫn về việc phát hiện các dấu hiệu
trầm trọng của HPQ cũng như việc thành lập một phương thức cấp cứu cá
nhân và theo dõi cần được quan tâm hàng đầu và có thể giảm tải cho đơn vị
cấp cứu [23],[33].
Nghiên cứu của Cla´udia Mendes Silva và cộng sự (2013) về “Kiến
thức về hen phế quản, đánh giá chủ quan về mức độ nghiêm trọng và nhận
thức về các triệu chứng của các cha mẹ có con hen phế quản”, kết quả chỉ ra
rằng: Mặc dù tất cả trẻ em được theo dõi bởi một chuyên gia trong đơn vị
Nhi Dị ứng , kết quả cho thấy kiến thức về HPQ nhiều khác biệt, với một số
phụ huynh thể hiện một kiến thức rất hạn chế về các bệnh tật. Sự thiếu hụt
kiến thức quan trọng được tìm thấy trong các lĩnh vực như cơ chế của thuốc
cấp cứu, các chức năng của máy đo lưu lượng đỉnh, vai trò của các tác nhân
kích hoạt trong đợt cấp HPQ, sự thừa nhận của HPQ là một bệnh mãn tính,
sự công nhận của ho là triệu chứng của bệnh HPQ, khả năng hen xấu đi mà
không nhận thấy một sự thay đổi trong sự thở của trẻ và khả năng kiểm soát

giảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status