Mục lục
Trang
1. Mở đầu ........................................................................................................... 2
1.1. Lí do chọn đề tài
....................................................................................... 2
1.2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 2
1.3. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................. 2
1.4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 3
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm..................................................................... 3
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm ..................................................... 3
2.2. Thực trạng vấn đề ....................................................................................... 3
2.3. Các biện pháp thực hiện ............................................................................. 4
2.4. Hiệu quả của sáng kiến .............................................................................. 18
3. Kết luận, kiến nghị ....................................................................................... 19
3.1. Kết luận ..................................................................................................... 19
3.2. Kiến nghị ....................................................................................................
20
Tài liệu tham khảo ........................................................................................... 21
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Ở Tiểu học, giúp các em có những hiểu biết về thế giới xung quanh,
những hiện tượng khoa học, những vấn đề về thiên nhiên là mục tiêu quan
trọng. Môn Khoa học cung cấp cho các em những kiến thức đó. Đó là môn học
tích hợp những kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đóng vai
trò quan trọng trong việc hình thành phẩm chất, năng lực đạo đức của con
tìm hiểu các vấn đề mang tính cụ thể, đồng thời các em cũng rất ưa thích các
vấn đề trực quan mang tính bắt mắt mà các em có thể quan sát một cách dễ
dàng.
Ở trường Tiểu học việc xây dựng chương trình học tập cho học sinh được
chia theo hai giai đoạn: Giai đoạn lớp 1, 2, 3 và giai đoạn lớp 4, 5. Nếu như ở
các lớp 1, 2, 3 việc nắm bắt kiến thức của học sinh còn ở mức sơ giản thì
chương trình của lớp 4, 5 đã mở rộng hơn rất nhiều. Kiến thức về tự nhiên, xã
hội được mở rộng hơn, thể hiện rõ ở môn Khoa học. Với chương trình lớp 4
môn Khoa học được tích hợp các kiến thức như: vật lý, sinh học, hoá học và
một số kiến thức của môn sức khoẻ cũ cũng được tích hợp vào môn học này. Do
đó các nội dung kiến thức của môn học này mang tính trừu tượng, yêu cầu học
sinh phải ghi nhớ. Đồng thời đối với học sinh lớp 4 là lớp bản lề của hai giai
đoạn: Giai đoạn lớp 1, 2, 3 và giai đoạn lớp 4, 5. Mặt khác, lớp 4 cũng là lớp
học bắt đầu của việc tách môn học "Tự nhiên - Xã hội" thành các môn Khoa
học, Lịch sử, Địa lý và cũng là lớp tạo nền tảng cho việc học tập và tìm hiểu
kiến thức các môn học này ở lớp 5 và các lớp trên.
Vì vậy để "tạo hứng thú và phát huy tính tích cực" cho học sinh khi học
môn Khoa học ở lớp 4 là hết sức cần thiết.
2.2. Thực trạng vấn đề
Qua một số tiết dạy những ngày đầu năm học, tôi nhận thấy một tồn tại
trong việc học môn Khoa học của học sinh lớp 4A là các em ngại học, không
hào hứng. Chính vì ngại, không hứng thú nên tính tích cực học tập của các em
còn rất yếu, thể hiện qua một số dấu hiệu sau:
3
+ Học sinh ít giơ tay phát biểu ý kiến của mình về các vấn đề giáo viên
nêu ra (chỉ có khoảng 10% số học sinh cả lớp tham gia phát biểu ý kiến xây
dựng bài trong mỗi tiết học).
+ Nếu được hỏi, học sinh chủ yếu lệ thuộc vào sách giáo khoa, ít tư duy.
21
84%
Từ kết quả thu được cho thấy tình trạng học sinh lười học, ngại học thật
đáng lo, tỉ lệ học sinh ham thích và chủ động học tập còn quá thấp, tỉ lệ học sinh
không hứng thú với môn học quá nhiều (trên 80%). Từ thực trạng nói trên, tôi
thấy cần phải thay đổi thói quen học tập của học sinh đối với môn học Khoa
học. Qua quá trình giảng dạy, tôi đã rút ra được một vài biện pháp giúp học sinh
có niềm yêu thích và tích cực học môn Khoa học hơn, tôi xin mạnh dạn trình
bày một số biện pháp như sau:
2.3. Các biện pháp thực hiện
Biện pháp 1: Khuyến khích học sinh sưu tầm tư liệu và đồ dùng học
tập phục vụ bài học.
Sách giáo khoa hiện nay đóng vai trò quan trọng trong phần cung cấp
kiến thức cho học sinh. Tuy nhiên, ở một số bài học, tư liệu sưu tầm lại đóng vai
trò quan trọng và cần thiết trong việc giúp học sinh chủ động, phát hiện, chiếm
lĩnh kiến thức bài học, chứ không phải tiếp nhận kiến thức một cách thụ động.
Một tiết học đạt hiệu quả tùy thuộc vào sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh
trước buổi học đó. Vì vậy, giáo viên luôn khuyến khích học sinh chuẩn bị bài
cho ngày hôm sau từ việc xem trước bài cho đến việc chuẩn bị các đồ dùng cần
thiết cho bài học sẽ giúp các em có ý thức hơn trong việc học của mình. Cách
làm này rất phù hợp với quá trình nhận thức của học sinh, giúp các em hứng thú
4
học tập đồng thời bước đầu hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học,
chuẩn bị cho các em tiếp tục học lên các lớp trên.
* Ví dụ bài 7: Tại sao cần ăn phối hợp nhiều loại thức ăn?
+ Cây sống dưới nước
+ Cây vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước
- Nhận xét về nhu cầu nước của mỗi loài cây
Sau khi tìm hiểu và phân loại từ những tranh, ảnh, cây đã sưu tầm, học
sinh tự rút ra được kết luận về nhu cầu nước của mỗi loài cây (Mỗi loài cây có
nhu cầu về nước khác nhau).
Biện pháp 2: Rèn học sinh tự làm các thí nghiệm đơn giản.
Ở lớp 4, chủ đề “Vật chất và năng lượng” giúp học sinh bước đầu làm
quen với kiến thức hóa học vô cơ. Nội dung này được thể hiện nhiều là qua các
thí nghiệm, vì vậy khi giảng dạy, giáo viên cần đặc biệt quan tâm đến việc làm
thí nghiệm.
* Phương pháp thí nghiệm có tác dụng :
5
+ Giúp học sinh đi sâu vào tìm hiểu bản chất các sự vật, hiện tượng, sự
vật tự nhiện.
+ Thí nghiệm được sử dụng như “nguồn” dẫn học sinh đi tìm tri thức
mới, vì thế các em sẽ hiểu sâu nhớ lâu.
+ Rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng: đặt thí nghiệm, lắp ráp dụng cụ
thí nghiệm, quan sát diễn biến thí nghiệm, ...
* Để dạy học theo phương pháp thí nghiệm thông thường cần tuân theo
các bước sau:
a) Xác định mục đích của thí nghiệm:
Các thí nghiệm trong chương trình khoa học 4 có thể phân thành 3 loại
chính:
- Loại nghiên cứu mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả.
- Loại nghiên cứu điều kiện (cái này là điều kiện của cái kia hoặc hiện
tượng kia).
- Loại nghiên cứu tính chất của một vật.
- Giáo viên giao nhiệm vụ, học sinh tự làm, giáo viên theo dõi và đưa ra
chỉ dẫn kịp thời nếu thấy cần thiết.
Vì thế trừ một số thí nghiệm đòi hỏi tính chính xác cao phải do giáo viên
thực hiện (ví dụ bài 31: thí nghiệm chứng minh tính chất của không khí: Không
khí nở ra khi nóng lên và co lại khi lạnh đi; bài 37: Thí nghiệm chứng minh
không khí chuyển động từ nơi lạnh đến nơi nóng, không khí chuyển động tạo
thành gió) các thí nghiệm nêu ở sách giáo khoa, tôi chia lớp thành nhiều nhóm
để thực hành.
Đối với mỗi thí nghiệm yêu cầu học sinh thực hiện đúng theo các bước
sau:
Bước 1: Chuẩn bị dụng cụ.
Bước 2: Tiến hành thí nghiệm.
Bước 3: Quan sát thí nghiệm.
Bước 4: Giải thích thí nghiệm
* Ví dụ bài 35: Không khí cần cho sự cháy
Hoạt động 1: Tìm hiểu vai trò của ô - xi đối với sự cháy
Mục tiêu: Làm thí nghiệm chứng tỏ: Càng có nhiều không khí càng có
nhiều ô - xi để duy trì sự cháy được lâu hơn
Bước 1: Chuẩn bị:
+ Hai lọ thủy tinh ( 1 lọ to, 1 lọ nhỏ)
+ Hai cây nến bằng nhau
Bước 2: Cách tiến hành
Giáo viên cho học sinh đọc cách tiến hành trong SGK để học sinh nắm
được cách làm thí nghiệm như sau:
+ Lấy 2 lọ thủy tinh cùng úp đồng thời vào 2 cây nến đang cháy
+ Quan sát sự cháy của các ngọn nến
Bước 3: Quan sát thí nghiệm
- Học sinh quan sát để thấy được ngọn nến trong lọ thủy tinh to thời gian
Giáo viên chỉ làm mẫu cách quấn giấy vào cốc sau đó yêu cầu học sinh
tiến hành thí nghiệm theo nhóm 4.
Bước 3: Quan sát thí nghiệm
Học sinh đo và ghi lại nhiệt độ của từng cốc sau mỗi lần đo.
Lần 1: Nước trong cốc được quấn giấy báo nhăn và không buộc chặt có
nhiệt độ cao hơn nước trong cốc được quấn giấy báo thường chặt
Lần 2: Đo cách lần một 5 phút, nước trong cốc được quấn giấy báo nhăn
và chặt vẫn có nhiệt độ cao hơn nước trong cốc được quấn giấy báo thường
chặt.
Bước 4: Giải thích hiện tượng
Học sinh dựa vào tính chất của không khí để giải thích hiện tượng nước
trong cốc quấn giấy báo nhăn quấn lỏng còn nóng hơn nước trong cốc quấn giấy
báo thường và quấn chặt như sau:
Nước trong cốc quấn giấy báo nhăn quấn lỏng còn nóng hơn vì giữa các
lớp báo quấn lỏng có chứa rất nhiều không khí nên nhiệt độ của nước truyền
8
qua cốc, lớp giấy báo và truyền ra ngoài môi trường ít hơn, chậm hơn nên nó
còn nóng lâu hơn.
Sau đó học sinh tự rút ra kết luận không khí là vật cách nhiệt.
* Ưu điểm của biện pháp này là:
- Học sinh có kỹ năng thao tác thành thạo trong việc thực hiện thí nghiệm
dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
- Học sinh được trực quan (mắt thấy, tai nghe hoặc cảm nhận qua các giác
quan) các hiện tượng, kết quả thí nghiệm, chứ không bị áp đặt, chấp nhận kết
quả thí nghiệm một cách gián tiếp thông qua sách giáo khoa.
Biện pháp 3: Tăng cường việc học tập theo nhóm để phát huy tính tích
cực của học sinh.
Dạy học theo nhóm là hình thức giảng dạy học sinh vào môi trường học
- Mọi người biết rõ việc cần làm, giúp đỡ lẫn nhau, đều lo lắng tới công
việc chung.
9
- Vai trò của nhóm trưởng, thư ký, báo cáo viên ... được thực hiện luân
phiên.
Chính vì thế giáo viên cần có sự chuẩn bị kỹ càng từ việc tự làm thử thí
nghiệm trước khi lên lớp đến cách tổ chức, giao việc để tránh gây lôn xộn hoặc
học sinh không nắm bắt được yêu cầu kiến thức của tiết học. Muốn vậy, giáo
viên cần chú ý:
+ Mệnh lệnh đưa ra rõ ràng, ngắn gọn (chia nhóm nhỏ, lớn).
+ Giao việc cụ thể cho từng nhóm.
+ Phân công nhiệm vụ cho các em.
Trong nhóm thường có các thành phần:
+ Trưởng nhóm: Quản lý chỉ đạo, điều khiển nhóm hoạt động.
+ Thư ký nhóm: Ghi chép lại các kết quả công việc của nhóm sau khi đạt
được sự đồng tình của nhóm.
+ Báo cáo viên: Trình bày trước lớp kết quả công việc của nhóm.
+ Các thành viên khác trong nhóm có trách nhiệm tham gia tích cực vào
các hoạt động của nhóm.
Mỗi nhóm chỉ nên có khoảng từ 2 đến 6 em.
* Ví dụ bài 20: Nước có những tính chất gì ?
Hoạt động 1: Quan sát vật thật
Mục tiêu:
Phát hiện màu, mùi, vị của nước.
Cách tiến hành:
Bước 1: Tổ chức, hướng dẫn
+ Giáo viên yêu cầu các nhóm đem cốc đựng nước và cốc đựng sữa đã
chuẩn bị ra quan sát và làm theo yêu cầu như đã ghi ở trang 42 sách giáo khoa.
suốt, nhìn rõ chiếc thìa
Trắng đục, không nhìn rõ
chiếc thìa
2. Lưỡi - nếm
Không có vị
Có vị ngọt của sữa
3. Mũi - ngửi
Không có mùi
Có mùi của sữa
+ Giáo viên gọi một số học sinh nói về một số tính chất của nước được
phát hiện trong hoạt động này.
Kết luận: Qua quan sát ta có thể nhận thấy nước trong suốt, không màu,
không mùi, không vị
* Ví dụ bài 40: Bảo vệ bầu không khí trong sạch
Mục tiêu: Nêu được những việc nên làm và việc không nên làm để bảo vệ
bầu khồng khí trong sạch.
Bước 1: Hướng dẫn học sinh quan sát và trả lời câu hỏi: Bức tranh vẽ gì ?
Bước 2: Thảo luận nhóm
+ Giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ. Phát cho học sinh mỗi nhóm
một tập thẻ có ghi nội dung việc làm ở từng bức tranh vừa được quan sát
+ Các nhóm thảo luận để chọn ra những việc nên làm hay không nên làm
và giải thích cho từng lựa chọn của nhóm mình. Giáo viên đi đến từng nhóm để
ưa ẩm ướt
Cây vừa sống
trên cạn vừa
sống dưới nước
............................ ............................. ............................. ..........................
+ Giáo viên phát phiếu thảo luận cho các nhóm, 2 nhóm làm vào giấy khổ
to.
Bước 2: Làm việc theo nhóm
+ Nhóm trưởng điều khiển các bạn quan sát và cử thư kí ghi lại kết quả
thảo luận của nhóm mình.
Giáo viên đi giúp đỡ các nhóm, hướng dẫn học sinh dựa vào cây và đã
chuẩn bị và bằng vốn hiểu biết của mình ghi tên các loài cây vào từng cột trong
phiếu.
Bước 3: Làm việc cả lớp
+ Giáo viên gọi đại diện các nhóm lên trình bày những gì nhóm đã tìm
hiểu được trước cả lớp.
+ Các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
+ Giáo viên gọi một số học sinh giới thiệu thêm về cây mình đã mang đi
để cả lớp cùng quan sát và lắng nghe.
Kết luận: Qua quan sát và tìm hiểu ta có thể nhận thấy mỗi loài cây có
nhu cầu về nước khác nhau, có cây sống dưới nước, có cây ưa ẩm, có cây chịu
được khô hạn, có cây vừa sống được trên cạn vừa sống được dưới nước.
(Học sinh thảo luận nhóm 4 để phân loại các loài cây theo nhu cầu nước)
* Việc học tập theo nhóm đã đem lại một số kết quả học tập như sau:
+ Học sinh tham gia tích cực hơn, tự tin hơn vào bản thân.
+ Rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh trước tập thể.
12
nắm được cách chơi.
+ Cho học sinh chơi thử (nếu cần).
+ Tiến hành chơi (giáo viên điều khiển trò chơi phải nắm vững tiến trình
và theo dõi chặt chẽ).
+ Đánh giá kết quả chơi: Sau mỗi lần chơi giáo viên nhận xét, đánh giá
đúng thực chất của cuộc chơi. Nêu ưu, nhược điểm của từng cá nhân, tập thể.
Xếp giải nhất, giải nhì... công bằng rõ ràng để kích thích những lần chơi tiếp
theo.
Kết thúc: Giáo viên hỏi xem học sinh đã học được những gì qua trò chơi
hoặc giáo viên tổng hợp lại những gì cần học được qua trò chơi này; Lưu ý: Đối
với những trò chơi đơn giản, không nhất thiết phải thực hiện đầy đủ các bước
trên.
* Ví dụ dạy bài 41: Âm thanh
Trò chơi : Đoán tên âm thanh (thời gian 3 phút)
Mục đích: Giúp học sinh khắc sâu kiến thức về những âm thanh trong
cuộc sống phát ra từ đâu và luyện tập các cách khác nhau để làm cho vật phát ra
âm thanh.
13
Chuẩn bị: Các dụng cụ phát ra âm thanh như: trống, kèn, viên sỏi ...theo
nhóm.
Cách tiến hành:
+ Giáo viên phổ biến luật chơi:
Chia lớp thành hai nhóm. Mỗi nhóm có thể dùng bất cứ vật gì để tạo ra
âm thanh. Nhóm kia sẽ đoán xem, âm thanh đó do vật nào gây ra và đổi ngược
lại. Mỗi lần đoán đúng tên vật được tặng 1 ngôi sao, đoán sai bị lấy đi 1 ngôi
sao.
+ Tổng kết.
+ Tuyên dương nhóm thắng cuộc.
+ Học sinh dưới lớp chỉ trả lời đúng hoặc sai.
+ Tìm được tên con vật sẽ nhận được một món quà.
- Cho học sinh chơi thử.
Ví dụ: Học sinh đeo con vật là con hổ, hỏi:
+ Con vật này có 4 chân phải không ? - Đúng.
+ Con vật này có sừng phải không ? - Sai.
+ Con vật này ăn thịt các loại động vật khác có phải không ? - Đúng.
+ Đấy là con hổ - Đúng. (cả lớp vỗ tay khen bạn).
- Cho học sinh chơi theo nhóm.
- Cho học sinh xung phong chơi trước lớp.
- Nhận xét, khen ngợi các em đã nhớ những đặc điểm của con vật, thức
ăn của chúng.
Biện pháp 5: Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại (màn hình, máy
chiếu, băng hình ...) để học sinh hứng thú với bài học.
Việc tạo hứng thú, phát huy tính tích cực cho học sinh trong học tập phải
đi đôi với đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp dạy học. Đặc biệt đối với
môn Khoa học, trực quan sinh động có ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp thu bài
của học sinh. Bởi lẽ có những kết luận có thể diễn giải được bằng lời nhưng
cũng có khi không thể trình bày hết được. Nhưng chỉ bằng một lần được quan
sát, tận mắt chứng kiến chắc chắn các em sẽ ghi nhớ lâu hơn. Mặt khác, có
những kiến thức mà trong thực tế các em có điều kiện quan sát, đối với những
dạng bài này, việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp các em tiếp nhận kiến
thức tốt hơn như Video clip, hình ảnh được trình chiếu bằng PowerPoint mà
trong thời điểm hiện tại các em không thể quan sát được.
Tuy nhiên khi giảng giáo viên cần hạn chế kênh chữ, tập trung vào kênh
hình và các hiệu ứng hoặc trang trí trong các slide không nên quá cầu kì, làm
mất tập trung của học sinh và giảm hiệu quả của tiết dạy.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học không chỉ tạo ra nhũng
hình thức quan sát sinh động mà còn giúp giáo viên tiết kiệm thời gian tổ chức
các hoạt động trên lớp. Không những thế, điều này còn giúp học sinh phát huy
huống mới.
+ Hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của học sinh.
Trên đây là những biện pháp tôi đã áp dụng trong giảng dạy môn Khoa
học. Các biện pháp này đã góp phần không nhỏ trong việc tạo hứng thú và phát
huy tích tích cực trong học tập của học sinh lớp tôi chủ nhiệm.
Sau đây tôi xin trình bày bài soạn mẫu minh họa cho những vấn đề vừa
nêu:
KHOA HỌC
Bài 58: NHU CẦU NƯỚC CỦA THỰC VẬT
I. MỤC TIÊU: Sau bài học HS biết :
- Trình bày nhu cầu nước của thực vật và ứng dụng thực tế của kiến thức
đó trong trồng trọt.
16
- Rèn cho HS kĩ năng hợp tác trong nhóm nhỏ. Kĩ năng trình bày sản
phẩm thu thập được và thông tin về chúng.
II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC:
- Sưu tầm tranh, ảnh hoặc cây thật sống ở những nơi khô cạn, nơi ẩm ướt
và dưới nước.(HĐ1)
- Phiếu học tập (HĐ1):
Cây sống dưới
nước
Cây sống trên
cạn chịu được
khô hạn
…...................... …......................
…...................... ..........................
to.
Bước 2: Làm việc theo nhóm
a- Nhóm trưởng điều khiển các bạn quan sát và cử thư kí ghi lại kết quả
thảo luận của nhóm mình.
- Giáo viên đi giúp đỡ các nhóm, hướng dẫn học sinh dựa vào cây và đã
chuẩn bị và bằng vốn hiểu biết của mình ghi tên các loài cây vào từng cột trong
phiếu.
Bước 3: Làm việc cả lớp
17
- Giáo viên gọi đại diện các nhóm lên trình bày những gì nhóm đã tìm
hiểu được trước cả lớp.
- Các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
- Giáo viên gọi một số học sinh giới thiệu thêm về cây mình đã mang đi
để cả lớp cùng quan sát và lắng nghe.
- HS rút ra kết luận: Qua quan sát và tìm hiểu ta có thể nhận thấy mỗi loài
cây có nhu cầu về nước khác nhau.
- GVKL: Mỗi loài cây có nhu cầu về nước khác nhau, có cây sống dưới
nước, có cây ưa ẩm, có cây chịu được khô hạn, có cây vừa sống được trên cạn
vừa sống được dưới nước.
Hoạt động 3 (14'): Tìm hiểu nhu cầu về nước của thực vật ở những
giai đoạn phát triển khác nhau.
Mục tiêu: HS hiểu được: Cùng một cây, trong những giai đoạn phát triển
khác nhau cần những lượng nước khác nhau
- HSQS hình vẽ SGK thảo luận theo nhóm đôi: Cây lúa cần nhiều nước
vào giai đoạn nào? Vì sao?
- HS thảo luận trả lời câu hỏi.
- Kết luận: Cây lúa cần nhiều nước khi mới cấy để cây phát triển, vào giai
đoạn làm đòng cần nhiều nước để cây tạo hạt.
hồ hởi. Nhiều tiết học đã trở thành sân chơi lí thú. Thông qua các hoạt động
theo nhóm, được thực hành thí nghiệm, quan sát tranh, ảnh, video clip... kiến
thức bài học đã được các em tiếp nhận một cách tự nhiên, hiệu quả. Không chỉ
hứng thú với môn học hơn so với trước kia, với những hình thức, phương pháp
tổ chức như trên đã dần hình thành ở các em sự năng động, mạnh dạn trước tập
thể. Thái độ học tập tích cực không chỉ được thể hiện ở môn Khoa học mà đã
tác động rất lớn đến các môn học khác.
Kết quả được thể hiện rõ khi tôi tiến hành dạy bài: Nhu cầu nước của
thực vật (Tuần 29) ở lớp 4A có sử dụng các biện pháp tạo hứng thú và phát huy
tính tích cực của học sinh; lớp 4B không sử dụng các biện pháp tạo hứng thú và
phát huy tính tích cực.
Đánh giá sau tiết dạy như sau:
Lớp
Lớp 4A
(25 HS)
Lớp 4B
(25 HS)
Hứng thú, tích cực với
tiết học
SL
TL
Ít hứng thú, thờ ơ
với tiết học
SL
TL
19
bài giảng của mình, khiến các em chăm chú, thích thú với những kiến thức mà
giáo viên truyền tải - đó mới chính là sự thành công của giáo viên trong một tiết
học.
Bản thân giáo viên cũng cần bồi dưỡng cho mình kiến thức về khoa học
để có thể dẫn chứng, mở rộng thêm cho bài giảng phong phú. Qua kinh nghiệm
của tôi cho thấy, đôi khi học sinh đặt những câu hỏi về khoa học tự nhiên ngoài
19
phạm vi sách giáo khoa, nếu giáo viên không tự bồi dưỡng tìm kiếm kiến thức
sẽ rất khó xử lí trong những tình huống ấy. Khi được giải đáp những thắc mắc,
học sinh sẽ ghi nhớ được kiến thức khoa học lâu hơn, các em sẽ thấy yêu thích
môn Khoa học hơn. Khi học sinh thích thú với môn Khoa học, cũng đồng nghĩa
với việc các em sẽ tích cực trong việc tìm tòi những kiến thức về thế giới tự
nhiên, về sinh vật, về những đồ dùng gia dụng, về cách giữ gìn sức khỏe bản
thân,...Sau này trưởng thành các em sẽ trở thành những người có nhiều cống
hiến cho xã hội từ những kiến thức các em học được.
Đối với tôi, cách dạy môn Khoa học theo những biện pháp nêu trên, tôi
thấy mình đã tạo được sự say mê, hứng thú trong học sinh, góp phần không nhỏ
vào việc dạy học và giáo dục các em - những mầm non tương lai của đất nước.
3.2. Kiến nghị
Để các biện pháp trên được thực hiện có hiệu quả, tôi xin đề xuất một số
kiến nghị sau:
- Nhà trường cần tạo điều kiện cho giáo viên được tham gia giao lưu học
tập, tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học, bố trí nhiều tiết dạy mẫu…để
giáo viên vận dụng một cách linh hoạt trong việc giảng dạy với từng đối tượng
học sinh. Đồng thời nhà trường nên thường xuyên mở các chuyên đề Khoa học
cho giáo viên học tập.
- Nhà trường cần thường xuyên sinh hoạt chuyên môn trong tổ. Trong các
buổi sinh hoạt chuyên môn tổ giáo viên cần đưa ra những vướng mắc, khó khăn
- Một số tạp chí tiểu học.
- Kinh nghiệm của đồng nghiệp.
21