(Luận văn thạc sĩ) Đề tài gia đình trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau 1975 từ góc nhìn văn hóa - Pdf 57

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN

ĐỀ TÀI GIA ĐÌNH
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG
SAU 1975 TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2019


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN

ĐỀ TÀI GIA ĐÌNH
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG
SAU 1975 TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Diệu Linh

viết luận văn, khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
của quí Thầy Cô và bạn đọc.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Liên


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN .....................................................................................................................ii
MỤC LỤC..........................................................................................................................iii
MỞ ĐẦU............................................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................................. 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..............................................................................11
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................................12
5. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................12
6. Đóng góp của luận văn ................................................................................................13
7. Cấu trúc luận văn ..........................................................................................................13
NỘI DUNG .......................................................................................................................14
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .......................................................................14
1.1. Gia đình và văn hóa gia đình người Việt ................................................................14
1.1.1. Khái lược về gia đình .............................................................................................14
1.1.2. Văn hóa gia đình người Việt .................................................................................18
1.1.3. Gia đình trong tâm thức người Việt .....................................................................24
1.2. Đề tài gia đình trong văn học Việt Nam hiện đại ...................................................29

3.2. Cách xây dựng cốt truyện mang tính xung đột văn hóa ........................................90
3.2.1. Những xung đột về chuẩn mực, giá trị đạo đức trong gia đình hiện đại .........90
3.2.2. Hệ thống tình huống truyện làm nổi bật tính cách nhân vật..............................95
3.3. Sự phong phú, đa dạng trong việc sử dụng ngôn ngữ và giọng điệu ...................99
3.3.1. Sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ văn hóa dân gian và mang đậm nhãn quan
phong tục tập quán ...........................................................................................................99
3.3.2. Giọng điệu giàu cảm xúc và mang tính triết lý .................................................106
Tiểu kết chương 3 ...........................................................................................................112
KẾT LUẬN.....................................................................................................................113
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................115


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Gia đình được coi là nơi lưu giữ và phát triển các giá trị truyền thống từ
thế hệ này sang thế hệ khác. Gia đình Việt Nam luôn chú trọng việc xây dựng gia
đạo, gia phong và gia lễ. Chính vì vậy văn hóa gia đình giàu tính nhân văn, đề cao
những giá trị đạo đức của mỗi con người. Sau năm 1975, sự giao lưu hội nhập
đem đến cho gia đình Việt Nam nhiều cơ hội phát triển về kinh tế, từ đó nâng cao
đời sống tinh thần. Gia đình Việt Nam thời kỳ hiện đại đã góp phần thúc đẩy sự
phát triển của đất nước tiến đến mục tiêu dân giàu - nước mạnh - xã hội công
bằng, văn minh. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó, gia đình Việt Nam
cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, sóng gió.
1.2. Văn hóa gia đình là một bộ phận hợp thành của nền văn hóa Việt Nam.
Gia đình với những sợi dây liên kết phức tạp, cùng những giá trị văn hóa - đạo
đức đã trở thành một đề tài lớn của văn học Việt Nam qua từng chặng đường
phát triển. Từ những tác phẩm đầu tiên viết về đề tài gia đình của Tự lực văn
đoàn đến những tác phẩm đương đại, các giá trị của văn hóa gia đình đã được

tác phẩm viết về gia đình và những đóng góp của nhà văn ở chặng đường sáng
tác sau 1975 về một mảng đề tài không phải là mới mẻ.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau 1975
Ma Văn Kháng là một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Ông sinh ngày 1 tháng 12 năm 1936, tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn, quê ở
Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội. Bước vào tuổi thiếu niên (15 tuổi), Ma Văn Kháng
đã trở thành một chiến sĩ vệ quốc quân, được cử đi học ở Khu học xá Nam Ninh,
Trung Quốc. Năm 1963, ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm, đi dạy học ở vùng đất
Tây Bắc rồi chuyển sang làm báo, từng giữ chức Phó Tổng biên tập báo Lai
Châu. Từ năm 1976, ông chuyển về công tác tại Hà Nội, đảm nhiệm chức vụ
Phó Giám đốc - Tổng biên tập NXB Lao động. Từ năm 1995, Ma Văn Kháng là
Ủy viên Ban chấp hành, Ủy viên đảng đoàn Hội Nhà văn khóa V, Tổng biên tập
tạp chí Văn học nước ngoài. Vào những năm 60, bút danh Ma Văn Kháng đã tạo


3

cho người đọc sự chú ý đặc biệt. Trong số các nhà văn hiện đại Việt Nam, ông là
người gắn với vùng đất biên ải trong một thời gian khá dài (1964 - 1976). Vì
vậy, lấy bút danh Ma Văn Kháng có lẽ chính là cách để nhà văn ghi nhớ những
kỷ niệm không thể nào quên về một thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, không ngại
gian khó, lăn lộn với công việc dạy học nơi bản làng và bày tỏ niềm tri ân sâu
nặng của mình đối với đồng bào các dân tộc vùng cao. Với những đóng góp tích
cực cho sự vận động và phát triển nhiều mặt của văn học nghệ thuật, Ma Văn
Kháng được tặng giải thưởng Văn học ASEAN năm 1998 và giải thưởng Nhà
nước về Văn học nghệ thuật năm 2001.
Ma Văn Kháng cầm bút từ sớm, nhưng phải đến thập kỉ 80 của thế kỉ XX,
ông mới thực sự trở thành một hiện tượng trong đời sống văn học nước nhà.
Ngay từ những tiểu thuyết đầu tiên đến giai đoạn sau 1975 như Đồng bạc trắng

tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học xã
hội nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội…Tất cả các công trình này đều hướng
tới việc khẳng định sự tiếp nối, phát huy và đổi mới của Ma Văn Kháng trên các
phương diện: đặc trưng thể loại, đề tài và chất liệu văn học, vấn đề nhân vật và
nghệ thuật viết tự sự...Với những tác phẩm viết về cuộc sống con người miền
núi (đề tài nổi bật trong các sáng tác trước năm 1975 của Ma Văn Kháng), nhà
văn được đánh giá là đã thành công trong việc phản ánh hiện thực, ca ngợi hình
ảnh cao đẹp của các cán bộ miền xuôi với sự cống hiến hết mình trong công
cuộc giải phóng vùng biên ải; khắc họa chân thực hình ảnh những con người
miền núi thuần hậu mang trong mình nỗi cay đắng tủi nhục, chịu áp bức, bóc lột
và phong tục lạc hậu, mê muội. Tuy nhiên nhà văn cũng phát hiện và khẳng định
vẻ đẹp tình yêu và khát vọng sống tiềm tàng mãnh liệt trong tâm hồn họ...
Nghiên cứu tiểu thuyết viết về đề tài miền núi của Ma Văn Kháng sau
1975, đặc biệt khi nhận xét về tác phẩm Đồng bạc trắng hoa xòe, tác giả Trần
Đăng Suyền cho rằng: “Ma Văn Kháng, bằng hình tượng nghệ thuật, đã chứng
minh rằng đồng bào các dân tộc ít người, mặc dù bị chìm đắm trong đau khổ,
tăm tối nhưng đều có mầm sống, khả năng cách mạng” [63, 13]. Tìm hiểu về đề


5

tài này trong sáng tác của Ma Văn Kháng, Nguyễn Ngọc Thiện cũng khẳng
định: “Cuốn tiểu thuyết Gió rừng (1977), Đồng bạc trắng hoa xòe (1979),
Vùng biên ải (1983)…là một sự hội tụ, kết tinh cao độ vốn sống về con người và
cuộc sống miền núi, mà ông tích lũy suốt hơn 20 năm gắn bó với nó” [81, 57].
Có thể nói, 11 năm ròng dạy học nơi vùng cao “đã tích tụ trong Ma Văn Kháng
một vốn liếng quý giá vô ngần, chín dần qua năm tháng mãi về sau, trở thành
trầm tích, thành mỏ vàng trữ lượng luôn dồi dào” [99].
Không chỉ thành công ở mảng tiểu thuyết viết về đề tài miền núi, sau
những năm 80, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Ma Văn Kháng lại cho ra

đã phản ánh chân thực những thân phận giữa đời thường, thẳng thắn phơi bày sự
tha hóa đạo đức của con người trong xã hội ở mức độ cao hơn: “Bằng cách nhìn
tinh tế vào hiện thực đời sống, tác giả đã mô tả những người giáo viên sống và
làm việc gặp quá nhiều khó khăn. Những vui buồn của thời thế đã phản ánh vào
những trang tiểu thuyết trở nên sống động, hấp dẫn” [101]. Theo tác giả Lê
Ngọc Y, Ma Văn Kháng “đã có cái nhìn hiện thực, tỉnh táo nên không bị thói
xấu, cái bất bình thường vốn nảy sinh trong xã hội đang vận động lấn át, hoặc
chỉ, thấy một chiều này u ám mà không thấy chiều khác đầy nắng rực rỡ” [101].
Còn Nguyễn Thu Thủy trong công trình luận văn của mình đã bày tỏ quan điểm:
“Đa số các tiểu thuyết của Ma Văn Kháng luôn có giọng suy tư bùi ngùi xen lẫn
với đắng cay chua xót. Ngòi bút của ông luôn soi tìm, đào sâu vào tâm hồn con
người, từ đó phát hiện ra những tâm tư, tình cảm, phẩm chất của từng cá nhân”
[83, 179].
Những công trình chuyên luận nghiên cứu trên đây cùng với nhiều bài báo,
tạp chí có chung định hướng và nội dung nghiên cứu, dù nhiều, dù ít đều đề cập
đến các mối quan hệ, những nhân vật, những vẻ đẹp văn hóa đạo đức và cả
những tổn thương, sa đọa, đổ vỡ, mất mát có khi rất đau đớn, nghiêm trọng và
phũ phàng trong các trang văn của Ma Văn Kháng. Đồng thời ta cũng thấy rõ cái
nhìn tiến bộ, mới mẻ của nhà văn. Tất cả những nhận xét, đánh giá sâu sắc và
khách quan về các tác phẩm sau 1975 của Ma Văn Kháng dưới góc nhìn khác
nhau, đều nhằm khẳng định những đóng góp và thành công của ông trong tiến


7

trình phát triển của Văn học Việt Nam giai đoạn đương đại. Trên tinh thần kế
thừa những thành tựu của những người đi trước để lại, các công trình khoa học
của các học giả, các nhà nghiên cứu trên đây sẽ là những gợi ý vô cùng quan
trọng trong quá trình chúng tôi kiến giải đề tài.
2.2. Những công trình nghiên cứu về đề tài gia đình

hóa gia đình. Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhất làm nên thành công
của tác phẩm…
Năm 1989, tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú ra đời và nhận
được nhiều sự khen chê, đánh giá khác nhau. Sáng ngày 11 tháng 1 năm 1990,
báo Văn nghệ đã tổ chức một hội thảo riêng về tác phẩm này. Tới dự cuộc tọa
đàm có các nhà văn, nhà phê bình: Xuân Cang, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên,
Xuân Thiều, Huy Phương, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Từ Sơn, Phan Hồng
Giang, ông Lê Thanh Tùng và ông Xuân Du - đại diện nhà xuất bản Lao động.
Về phía báo Văn nghệ, ngoài nhà thơ Hữu Thỉnh - Tổng biên tập, còn có các nhà
văn, nhà thơ, nhà phê bình: Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Vĩnh, Hoàng Minh Tường,
Phạm Tiến Duật, Thiếu Mai, Phạm Đình Ân. Toàn văn buổi tọa đàm đã được in
trên báo Văn nghệ, số 6, ngày 10 tháng 2 năm 1990 và in lại trong phần mở đầu
cuốn Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Nxb Văn học, 2017.
Trong buổi tọa đàm, Phan Cự Đệ khẳng định: “Ma Văn Kháng đã viết cái “bi
kịch vỡ mộng” của “một bữa tiệc dang dở, một đám cưới không thành, một cuốn
sách hay để lầm chỗ” đó một cách rất tâm huyết, với tất cả suy nghĩ và trăn trở,
niềm khát vọng và nỗi đau của một nhà văn trước thời cuộc, trước tình trạng
xuống cấp về trình độ tư duy và phẩm chất đạo đức ngay trong một số người tự
cho mình là cán bộ lãnh đạo, là trí thức hay kĩ sư tâm hồn” [60, 13]. Còn nhà
nghiên cứu Hà Minh Đức cho rằng “Tác phẩm có giá trị, có chiều sâu nhưng
đọc còn nặng chất chính luận, triết luận tuy sắc sảo song còn bị lạm dụng” [60,
21]. Tuy vậy, ông khẳng định: “Ma Văn Kháng là một trong những tác giả đổi
mới đầu tiên trong văn xuôi…viết về nhà trường nhưng thực ra ông muốn đề cập
đến một vấn đề xã hội rộng lớn hơn…” [60, 21]. Cũng trong buổi tọa đàm, nhà
văn Nguyên Ngọc cho rằng: “Đám cưới không có giấy giá thú là một cuốn sách


9

hay và rất tích cực. Nó nằm trong dòng vận động chung của sáng tác hiện nay


Hương (2004), Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết của Ma Văn
Kháng, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm, Hà Nội; Nguyễn Thị Hoa
(2008), Tiểu thuyết thế sự đời tư của Ma Văn Kháng, Luận văn thạc sĩ Ngữ
văn, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn. Nghiên cứu riêng về đề tài gia đình
trong tiểu thuyết của nhà văn, chúng tôi nhận thấy có Nguyễn Công Thanh
(2006); Bi kịch gia đình trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma
Văn Kháng, Tạp chí Đại học Vinh, số 4b; Lưu Thị Thanh Nga (2015), Văn hóa
gia đình trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Khóa
luận tốt nghiệp Đại học …Trong đó, phải kể đến Nguyễn Công Thanh với luận
văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh: Vấn đề gia đình trong sáng tác của Ma
Văn Kháng từ 1985 đến nay. Theo tác giả, Mùa lá rụng trong vườn trước hết
là hồi chuông cảnh tỉnh những người có tư tưởng thủ cựu cố duy trì níu kéo kiểu
gia đình truyền thống. Tác phẩm còn đề cập đến một thực trạng đáng báo động
của xã hội buổi giao thời: không ít người có lối sống ích kỉ chạy theo dục vọng
cá nhân, ham muốn vật chất, thoát ly truyền thống, phá vỡ mọi chuẩn mực đạo
đức xã hội. Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Hoa với đề tài Tiểu thuyết thế sự đời tư
của Ma Văn Kháng đã quan tâm tới bi kịch nhân văn, bi kịch thế sự, bi kịch đời
tư phản ánh trong tác phẩm của Ma Văn Kháng. Đặc biệt, tìm hiểu tác phẩm
Mùa lá rụng trong vườn và Đám cưới không có giấy giá thú, Nguyễn Thị Hoa
đã khai thác bi kịch đời tư - bi kịch tình yêu, hạnh phúc gia đình của con người.
Tác giả nhận thấy: “Phần lớn tiểu thuyết thế sự đời tư của Ma Văn Kháng đề
cập đến nỗi khổ đau bất hạnh nhiều hơn niềm vui hạnh phúc trong tình yêu, hôn
nhân, gia đình của con người” [16, 20].
Thực tế nguồn tư liệu trên cho thấy đề tài gia đình trong thể loại tiểu thuyết
của Ma văn Kháng ít nhiều đã được tách riêng ra thành công trình nghiên cứu
biệt lập chuyên sâu. Mặc dù có một vài công trình nghiên cứu về đề tài gia đình
trong tiểu thuyết của ông nhưng tất cả mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những
giá trị và những biến cố của gia đình hiện đại, mà chưa tìm hiểu từ góc nhìn văn
hóa. Chúng tôi nhận thấy: ngòi bút của nhà văn hướng vào đề tài gia đình và trên

- Đám cưới không có giấy giá thú (2017), Nxb Văn học


12

- Côi cút giữa cảnh đời (2012), Nxb Hội nhà văn
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Thấy được những giá trị của văn hóa gia đình trong thời kỳ hiện đại. Góp
phần lí giải những nhân tố tác động làm tha hóa những giá trị cao cả, đẹp đẽ của
gia đình truyền thống.
- Chỉ ra được cái hay, cái đẹp của tiểu thuyết Ma Văn Kháng trong việc thể
hiện các vấn đề về gia đình hiện đại.
- Phần nào đó chỉ ra mối quan hệ giữa nội dung - tư tưởng và hình thức nghệ thuật trong một số tiểu thuyết viết về đề tài gia đình sau 1975 của Ma Văn
Kháng. Qua đó, hiểu thêm được những đóng góp to lớn của nhà văn về nội dung
và nghệ thuật của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát những vấn đề chung về gia đình và văn hóa gia đình người
Việt, đề tài gia đình trong văn học Việt Nam hiện đại.
- Tìm hiểu về đời sống văn hóa gia đình trong tiểu thuyết của Ma Văn
Kháng sau 1975 thông qua một số tiểu thuyết tiêu biểu.
- Chỉ ra một số phương diện nổi bật trong nghệ thuật thể hiện văn hóa gia
đình trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sau 1975.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp nghiên cứu lịch sử
Xem xét sự vận động phát triển của văn học Việt Nam nói chung, sáng tác
của Ma Văn Kháng nói riêng trong dòng chảy ấy. Qua đó thấy được những đóng
góp của nhà văn trong việc đổi mới văn xuôi hiện đại.


14

NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1. Gia đình và văn hóa gia đình người Việt
1.1.1. Khái lược về gia đình
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Quan tâm đến gia đình là đúng
vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt
nhân của xã hội là gia đình (…). Gia đình là một tế bào của xã hội” [102]. Quan
điểm đó được hình thành từ lâu và được thể hiện rõ nhất trong các tác phẩm
nghiên cứu về lịch sử xã hội của nhà nhân chủng học Mỹ L.H - Mooc- gan
(1818- 1881). Sau này chính Ph. Ăng- ghen đã đồng tình và phát triển quan
điểm đó trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của
nhà nước (1884). Trong chương II - Gia đình, Ph. Ăng-ghen đã đánh giá rất xác
đáng về công sức của L.H - Mooc-gan khi nghiên cứu về gia đình: “Việc nghiên
cứu về mặt lịch sử đối với những thiết chế xã hội phát minh trong thời đại văn
minh, là vượt quá khuôn khổ cuốn sách của ông” [89]. Nhưng Ph. Ăng-ghen
cũng khẳng định: “Mooc-gan cũng coi sự phát triển hơn nữa của gia đình cá thể
là một bước tiến, để đi tới sự hoàn toàn bình đẳng giữa hai giới; dù ông không
coi là mục đích đó đã đạt được” [89].
Đồng thời Ph. Ăng-ghen đã trích lại một đoạn văn trong tác phẩm Xã hội
cổ đại như là một thao thức băn khoăn đầy cảnh báo: “Một khi thừa nhận sự thật
là gia đình đã trải qua bốn hình thức nối tiếp nhau, và hiện đang ở hình thức
thứ năm, thì một vấn đề sẽ xuất hiện: hình thức hiện nay đó có tồn tại lâu dài
trong tương lai không? Câu trả lời duy nhất có thể được đưa ra là: nó phải phát
triển và thay đổi, cùng với sự phát triển và thay đổi của xã hội, hệt như trong
quá khứ. Là sản vật của một chế độ xã hội, nó sẽ phản ánh sự văn minh của chế


tụ, chọn lọc và sáng tạo văn hóa của con người và xã hội loài người” [55, 113].


16

Từ góc nhìn này, gia đình được coi là nhân tố tiên quyết, là tế bào của xã hội.
Gia đình đảm nhận các chức năng như: thỏa mãn tình cảm giữa các thành viên;
chức năng sinh sản, xã hội hóa và kinh tế. Trong đó, chức năng giáo dục cho
thấy rõ khía cạnh văn hóa của gia đình. Tế bào gia đình có khỏe mạnh thì xã hội
mới khỏe mạnh. Nó bao gồm cả sự khỏe mạnh về văn hóa.
Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
nước, Ăng - ghen đã cho ta thấy: từ trạng thái quan hệ tính giao bừa bãi thời
nguyên thủy, các hình thức gia đình như gia đình huyết tộc, gia đình punalua,
gia đình đối ngẫu, gia đình cá thể đã phát triển. Trong đó, gia đình huyết tộc
được coi là giai đoạn đầu tiên của gia đình: “Lúc này, các tập đoàn hôn nhân đã
tách ra theo các thế hệ: tất cả ông bà, trong phạm vi gia đình, đều là vợ chồng
của nhau; con của họ, tức là tất cả bố mẹ, cũng thế; con của đời thứ hai, tức là
các cháu, lập thành nhóm vợ chồng chung thứ ba; rồi con của họ, tức là đời thứ
tư, lập thành nhóm thứ tư. Vì thế, trong kiểu hôn nhân này, chỉ có tổ tiên và con
cháu, cha mẹ và con cái, là không có “quyền hay nghĩa vụ vợ chồng” (như ta
vẫn nói) đối với nhau. Còn anh chị em ruột, anh chị em họ ở bậc nào đi nữa thì
đều là anh chị em, chính vì thế nên đều là vợ chồng của nhau” [89].
Bước phát triển thứ hai trong tổ chức gia đình là gia đình punalua. Theo
Ăng-ghen, “bước tiến thứ hai là hủy bỏ quan hệ tính giao giữa anh chị em với
nhau (…). Nó được thực hiện dần dần, bắt đầu với việc hủy bỏ quan hệ tính giao
giữa anh chị em cùng mẹ; trước hết là trong những trường hợp cá biệt, rồi từng
bước trở thành thông lệ; và cuối cùng là cấm kết hôn giữa các anh chị em họ
đời thứ nhất, thứ hai và thứ ba” [89].
Cũng theo Ăng-ghen, gia đình đối ngẫu là “hình thức kết hôn theo từng cặp
nhất định, trong thời gian ngắn hoặc dài, đã tồn tại trong chế độ quần hôn, hoặc

lệ, nằm ở giai đoạn cao của thời dã man. Cho đến xã hội chủ nghĩa, hôn nhân tự
do một vợ một chồng mới có điều kiện phát triển. Các thành viên trong gia đình
bình đẳng về mọi mặt cùng nhau xây dựng hạnh phúc qua nhiều thế hệ.
Xuất phát từ việc gia đình hiện đại có nhiều mối quan hệ (quan hệ hôn nhân
giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà với cháu chắt,


18

quan hệ huyết thống giữa anh, em họ hàng, quan hệ quần tụ trong một không
gian chung...) nên nó tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau như: gia đình hạt
nhân, gia đình mở rộng. Trong hình thái nhỏ nhất - gia đình hạt nhân có ít nhất
ba quan hệ cơ bản: quan hệ vợ chồng; quan hệ cha mẹ và con cái; quan hệ giữa
anh, chị, em ruột với nhau. Gia đình hạt nhân tồn tại như một đơn vị độc lập,
gọn nhẹ, linh hoạt và có khả năng tạo cho mỗi thành viên trong gia đình khoảng
không gian tự do tương đối lớn để phát triển tự do cá nhân. Tuy nhiên, trong gia
đình hạt nhân, do không gian giữa các gia đình ngăn cách nên khả năng hỗ trợ
lẫn nhau về vật chất và tinh thần bị hạn chế, khả năng bảo lưu các giá trị văn hóa
truyền thống trong gia đình cũng giảm.
Những đơn vị lớn hơn gia đình hạt nhân thường được gọi là gia đình mở
rộng. Loại hình này thường có ưu thế trong việc tập trung nhân lực cho sản xuất.
Các thế hệ có thể hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc
sống, khắc phục sức ép về kinh tế, vật chất. Tuy thế gia đình mở rộng dễ dẫn đến
khác biệt và mâu thuẫn thế hệ. Để duy trì nó cần sự nỗ lực lớn của mỗi thành viên
để vượt qua những khó khăn, rạn nứt trong mỗi gia đình.
1.1.2. Văn hóa gia đình người Việt
Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác
nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Tại Hội
nghị của UNESCO tại Mêhicô từ 26/7 đến ngày 06/8/1982 từ “văn hoá” đã được
định nghĩa: “Văn hoá là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh

mật thiết với nhau thành đơn vị cơ sở là gia đình. Trong gia đình truyền thống,
các thành viên liên kết với nhau bằng chuỗi quan hệ huyết thống, che chở,
thương yêu, nương tựa vào nhau. Ở đó, nhiều thế hệ (ông bà, cha mẹ, con cái…)
có thể cùng chung sống đầm ấm dưới một mái nhà mà người ta quen gọi là “tam
đại đồng đường”, “tứ đại đồng đường”, “ngũ đại đồng đường”. Sức mạnh gia
tộc thể hiện ở tinh thần đùm bọc, thương yêu nhau. Người trong họ có trách
nhiệm cưu mang nhau về mặt vật chất: Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì; hỗ trợ
nhau về trí tuệ, tinh thần: Nó lú nhưng chú nó khôn; và dìu dắt nhau, làm chỗ
dựa cho nhau về chính trị: Một người làm quan, cả họ được nhờ…



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status