Những bài tập bổ trợ và phương pháp rèn luyện phát triển sức mạnh trong nhảy cao hảy cao thông qua một số bài tập bổ trợ - Pdf 57

S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Đề tài: “Những bài tập bổ trợ và phương pháp rèn luyện phát triển
sức mạnh trong nhảy cao”.
1. Mở Đầu.
1.1. Lí do chọn đề tài.
Giáo dục thể chất là một trong những hệ thống giáo dục con người phát
triển toàn diện, đặc biệt là lứa tuổi trung học cơ sở. Đây là giai đoạn tiền đề cho
việc củng cố sức khoẻ cũng như tinh thần để học sinh chuẩn bị tốt cho tương lai
của mình.
Cùng với tiến trình phát triển và đổi mới không ngừng của xã hội, việc
giảng dạy trong nhà trường nói chung và giảng dạy môn thể dục nói riêng đã có
sự đổi mới đáng kể cho phù hợp với trình độ phát triển ngày càng cao của học
sinh, giáo viên trước khi lên lớp phải nghiên cứu tìm ra phương pháp hợp lý để
truyền đạt cho học sinh tiếp thu tốt kiến thức giờ học. Từ đó học sinh sẽ học tập
một cách hăng say tích cựu , mang lại hiệu quả cao hơn. Vậy thì phương pháp
lên lớp đó như thế nào ? mà môn thể dục chủ yếu là học về năng khiếu, hoạt
động chân tay nhiều đặc biệt các em được học ngoài không gian rộng , đòi hỏi
giáo viên ngoài phương pháp lên lớp còn phải bao quát được toàn bộ sân tập,
tránh để các em hoạt động quá khích dẫn đến những chấn thương ngoài ý muốn.
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, dù là hình thái chính trị
nào thì vẫn đặc biệt coi trọng công tác giáo dục thể chất trong các nhà trường. Ở
Việt Nam kể từ ngày hòa bình lập lại đến nay. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm
chăm lo cho công tác giáo dục. Việc đào tạo thế hệ trẻ thành một lớp người phát
triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, có sức khỏe để học có đủ năng lực và ý
chí thực hiện nhiệm vụ xây dựng nước nhà theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước trong thế kỷ XXI đặc biệt có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Bác Hồ đã khẳng định mục đích của rèn luyện sức khoẻ dưới chế độ mới,
để xây dựng một xã hội văn minh. Mục đích của GDTC phát triển toàn diện thế
hệ trẻ Việt Nam, thế hệ trẻ đó phải được phát triển thể chất có chủ định để thực
hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước.
Ngày 27/03/1946 Bác Hồ đã ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục: “Giữ gìn

những phương pháp giảng dạy, những bài tập hợp lí phù hợp với lứa tuổi, giới
tính và trình độ của học sinh để phát triển thành tích môn nhảy cao.
Nhận thức được thực trạng trên, mặc dù là một giáo viên còn trẻ về tuổi
đời, trẻ về tuổi nghề nhưng đã được giảng dạy và tham gia tập luyện cho đội
tuyển đi thi đấu, kết hợp với những kinh nghiệm, kiến thức học hỏi từ đồng
nghiệp tôi quyết định chọn đề tài Xuất phát từ những lí do trên bản thân tôi tự
hỏi làm thế nào để nâng cao được thành tích nhảy cao cho học sinh? Vì vậy tôi
mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Những bài tập bổ trợ và phương pháp rèn luyện
phát triển sức mạnh trong nhảy cao cho học sinh THCS”.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
a. Đối với giáo viên.
- Nâng cao trình độ chuyên môn, phục vụ cho quá trình giảng dạy.
- Làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nâng cao kiến thức.
b. Đối với học sinh.
- Giúp học sinh học tập nhảy cao nói chung và việc tập luyện các môn
điền kinh nói riêng. Trang bị cho học sinh một số kiến thức mới nhằm nâng cao
năng lực học môn nhảy cao giúp các em tiếp thu luyện tập một cách chủ động,
sáng tạo.
- Gây được hứng thú cho học sinh khi luyện tập các bài tập trong
chương trình.
- Thông qua việc chơi trò chơi vận động giúp học sinh thấy rõ mục đích
của việc học và tập luyện môn nhảy cao.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
2


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Đề tài áp dụng đối với học sinh khối lớp 9 Trường THCS.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Trong cuộc sống hiện nay, vị trí công tác TDTT trong nhà trường càng được

luôn mong muốn thử sức mình theo các phương hướng khác nhau, nên hành vi
của các em phức tạp và mâu thuẫn. Vì vậy cần phải thường xuyên giám sát và
giáo dục cho phù hợp trên cơ sở phát huy tính tích cực, sáng tạo, biết điều chỉnh
và tổ chức hoạt động, tạo điều kiện phát triển tốt các khả năng cho các em.
Nhảy cao là môn thể thao không đòi hỏi nhiều về trang thiết bị, kĩ thuật
tương đối đơn giản, dễ phổ cập, phù hợp với mọi lứa tuổi, giới tính, do đó nhảy
cao là một nội dung cơ bản trong chương trình giáo dục thể chất.
Trong các kì Hội Khỏe Phù Đổng từ cấp trường, cấp huyện đến cấp quốc
gia đều có thi đấu nhảy cao, các học sinh nói chung và các vận động viên nói
riêng đã lập được những thành tích đáng khen ngợi. Tuy nhiên thành tích nhảy
3


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
cao của học sinh nước ta so với thành tích của học sinh các nước trên thế giới
còn ở mức chênh lệch quá lớn.
Ở cấp Trung học cơ sở các em được làm quen và tập luyện với kĩ thuật nhảy
cao ở mức độ đơn giản. Việc giảng dạy môn nhảy cao trong nhiều năm qua đã
được chú trọng và đạt kết quả nhất định, song vẫn còn phải phấn đấu nhiều hơn
nữa mới đáp ứng được phong trào ngày càng mạnh mẽ. Để giảng dạy tốt hơn nữa
môn nhảy cao cho học sinh, cần phải nắm chắc được đối tượng và không ngừng
chọn lựa cải tiến, các biện pháp, nội dung giảng dạy cho phù hợp, gây ảnh hưởng
tốt đến sự phát triển toàn diện các bộ phận cơ thể học sinh.
Môn nhảy cao muốn có được thành tích tốt ngoài kĩ thuật còn phải tập
luyện thường xuyên , liên tục và có các bài tập nâng cao. Nhìn lại ở trường
THCS tôi công tác trong những năm qua , do chương trình của Bộ Giáo dục quy
định các kĩ thuật trong môn điền kinh nói chung và môn nhảy cao nói riêng là
phần dạy học bắt buộc trong công tác giáo dục thể chất của nhà trường. Nhìn
chung học sinh đã được học nhưng chưa liên tục và hoàn chỉnh, do đó kết quả
đạt được chưa cao. Nguyên nhân chính là do chưa có điều kiện tập luện thường

khả năng điều hòa hoạt động của tim chưa ổn định nên khi hoạt động quá căng
thẳng sẽ chóng mệt mỏi.
Vì vậy tập luyện thể dục thể thao thường xuyên sẽ ảnh hưởng tốt đến hoạt
động của hệ tuần hoàn, hoạt động của tim dần dần được thích ứng. Nhưng trong
quá trình tập luyện cần phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và nguyên tắc tăng tiến
trong giáo dục thể chất, tránh hoạt động quá sức và đột ngột.
+ Hệ hô hấp:
Phổi của các em phát triển chưa hoàn thiện, phế nang còn nhỏ, các cơ hô
hấp chưa phát triển, dung lượng phổi còn bé.
Vì vậy khi hoạt động các em phải thở nhiều, thở nhanh nên chóng mệt mỏi.
Rèn luyện thể chất cho các em phải toàn diện, phải chú ý phát triển đến các cơ hô
hấp, hướng dẫn các em phải biết cách thở sâu, thở đúng và biết cách thở trong hoạt
động. Như vậy mới có thể làm việc, hoạt động được lâu và có hiệu quả.
Hệ quả của giáo dục thể chất gắn liền với đặc điểm giải phẫu sinh lí, tâm lí
học và đặc điểm phát triển tố chất thể lực ở mỗi lứa tuổi con người. Tác dụng
của giáo dục thể chất là rất lớn, nó không ngừng đem lại sức khỏe cho học sinh
mà còn góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện.
Tố chất thể lực là sự biểu hiện tổng hợp của hệ thống chức năng các cơ
quan cơ thể, tố chất thể lực tăng trưởng theo sự tăng trưởng của lứa tuổi. Sự tăng
trưởng này có tốc độ nhanh, biên độ lớn trong thời kì dậy thì. Giai đoạn lứa tuổi
khác thì tố chất thể lực phát triển khác, tức là trong cùng một lứa tuổi tố chất thể
lực khác phát triển thay đổi cũng không giống nhau.
Tố chất thể lực từ giai đoạn tăng trưởng chuyển qua giai đoạn ổn định
theo thứ tự phát triển sau: Tố chất nhanh phát triển đầu tiên, sau đó là tố chất
bền và tố chất mạnh.
+ Tố chất nhanh: Tố chất nhanh phát triển sớm hơn sự phát triển tố chất
mạnh, thời kì phát triển tố chất nhanh quan trọng nhất ở tuổi học sinh Tiểu học
và Trung học cơ sở.
+ Tố chất mạnh: Khái niệm về sức mạnh cho đến nay vẫn còn có những cách hiểu
khác nhau. Nhưng theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn :“Tố chất sức mạnh có

- Sức mạnh bột phát: Dạng sức mạnh thể hiện trong động tác giậm nhảy
(sức bật).
Theo “Tính chu kỳ trong huấn luyện thể thao” hầu hết các môn thể thao
đều cần sức
mạnh, những tố chất sức mạnh cần thiết cho từng môn thể thao khác nhau gọi là
sức mạnh đặc thù của môn nào đó. Sức mạnh tối đa đóng vai trò quan trọng nếu
không nói là quyết định trong việc tạo ra sức mạnh đặc thù của môn thể thao.
Đối với môn nhảy cao chúng ta cần quan tâm đến sự phát triển sức mạnh tốc
độ của người tập. Để phát triển sức mạnh tốc độ cần xen kẽ tập luyện đúng mức
với phương pháp dùng sức lớn nhất. Như vậy, trong quá trình cho học sinh tập
luyện môn nhảy cao chúng ta cần đưa vào các bài tập phát triển sức mạnh bột phát
của các nhóm chi dưới, giúp cho việc thực hiện động tác giậm nhảy trong nhảy cao
thật nhanh, mạnh, để đưa cơ thể bay lên cao hơn.
+ Tố chất khéo léo: Khéo léo là năng lực tiếp thu nhanh các động tác ứng phó
kịp thời với những thay đổi bất ngờ. Xác định và đánh giá tố chất khéo léo là việc
khó. Có thể tính bằng khoảng thời gian tiếp thu động tác. Để rèn luyện khéo léo
cần phải tập nhiều các loại hình động tác, nhờ quá trình tập để tiếp thu các động
tác đó các tố chất khác cũng phát triển theo.
Tóm lại, trong quá trình giảng dạy và huấn luyện Điền kinh nói chung và
nhảy cao nói riêng, chúng ta cần căn cứ vào đặc điểm phát triển tố chất, đồng thời
6


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
dùng các phương pháp huấn luyện khoa học, xúc tiến cho việc phát triển tố chất
thể lực của người tập nói chung và học sinh nói riêng.
Ở Việt Nam Điền kinh được quan tâm, trong trường Trung học cơ sở Điền kinh
là một nội dung học chính thức trong chương trình Giáo dục thể chất, trong đó Nhảy
cao là môn được đưa vào giảng dạy chủ yếu ở lớp 8 và lớp 9. Việc luyện tập và thi
đấu Nhảy cao là việc làm thường xuyên và cần thiết có tác dụng phát triển thể lực

chất ở nhà trường. Luôn tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để phục vụ tốt
công tác giảng dạy của mình. Trong việc giáo dục thể chất trong trường học. Các
phân môn như Đội hình đội ngũ, Bài thể dục phát triển chung, Bài tập rèn luyện
tư thế và kĩ năng vận động cơ bản, trò chơi vận động và môn tự chọn, đều rất
quan trọng, đó là sự liên kết logic trong giáo dục thể chất cho học sinh. Nhưng
đôi khi giáo viên chưa thực sự coi trọng phần trò chơi vận động, coi đó là phần
7


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
mềm mà trong một tiết học có thể thay đổi được bằng một trò chơi khác hay một
phân môn học khác. Chính vì thế trong khi lên kế hoạch bài dạy hay khi giảng
dạy, giáo viên chưa đưa ra được một phương pháp dạy phù hợp cho từng trò
chơi. Dẫn đến khi học sinh học, chơi trò chơi vận động chưa được hào hứng
hoặc chưa hứng thú chơi trò chơi trong chương trình. Tôi đã đi dự giờ Thể dục
có nội dung trò chơi vận động của đồng nghiệp. Tôi nhận thấy rằng, giáo viên
khi giảng dạy phần trò chơi vận động, phần đa học sinh không hiểu được cách
chơi, chưa thực sự hào hứng chơi.
Đối với lứa tuổi các em được tiếp cận với nhiều môn thể thao là điều rất
tốt vì lứa tuổi này đang ở độ tuổi phát triển rất nhanh về hình thể và tâm sinh lý
nên được tập luyện thường xuyên sẽ có tác dụng rất tốt đến cơ thể và giúp con
người phát triển toàn diện. Nhưng trong thực tế có những em chưa quan tâm
đến TDTT, coi môn thể dục là môn phụ, coi TDTT là khó không đủ tự tin và
kiên trì để vượt qua, có những học sinh lấy kết quả TDTT để làm động cơ ganh
đua thiếu văn hoá, chính vì điều đó mà việc dạy TDTT ở trường còn gặp nhiều
khó khăn.
Trong năm học 2016 - 2017 vừa qua, kết quả kiểm tra đánh giá quá trình
tập luyện nội dung nhảy cao kiểu bước qua đối với học sinh khối lớp 9 còn thấp,
số học sinh đạt mức điểm giỏi chỉ có 15%.
Ngoài việc học ở trường các em còn phải phụ giúp với gia đình trong

* Chuẩn bị đầy đủ các kiến thức về nhảy cao, các bài tập bổ trợ phát triển
sức mạnh.
2.3.2. Biện pháp thực hiện.
a) Chuẩn bị : Tham khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
b) Chuẩn bị các phiếu điều tra:
c) Chuẩn bị các bài tập:
Phương pháp này nhằm mục đích đưa các bài tập mới vào thực tiễn, qua
thực nghiệm góp phần làm sáng tỏ những yếu tố tác động trực tiếp (yếu tố thực
nghiệm) tới kết quả tập luyện của đối tượng nghiên cứu.
d) Chuẩn bị nội dung kiểm tra:
* Tổ chức thực hiện:
+ Phân nhóm học sinh
Sau khi xác định được nhiệm vụ nghiên cứu, căn cứ vào thời gian và
chương trình học tập của Trường THCS tôi chọn đối tượng là 32 em học sinh lớp
9a và 32 em học sinh lớp 9b chia làm hai nhóm.
Nhóm 1: Nhóm thực nghiệm: Gồm 32 em học sinh lớp 9A thời gian tập
luyện mỗi tuần 1 buổi, mỗi buổi 1 tiết nội dung tập luyện do chúng tôi đưa ra
theo các bài tập đã xác định.
Nhóm 2: Nhóm đối chứng: Tôi đã chọn ngẫu nhiên 32 em học sinh lớp 9B
thời gian tập luyện giống như nhóm thực nghiệm mỗi tuần 1 buổi, mỗi buổi 1
tiết nội dung tập luyện theo phân phối chương trình hiện hành.
- Thời gian tổ chức thực hiện từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 3 năm 2018.
+ Chuẩn bị về cơ sở vật chất
Dụng cụ phục vụ cho việc kiểm tra lấy số liệu như:
1. Thước dây.
2. Đồng hồ bấm giờ.
3. Cọc.
4. Xà.
5. Nệm.
6. Hố cát.

- Hiện nay các em học sinh khối lớp 9 ở trường THCS việc thực hiện
tập luyện TDTT đều đặn và khoa học còn rất khiêm tốn. Ngoài 2 tiết TD
trong một tuần học chương trình chính khóa thì rất ít em có ý thức rèn luyện
thêm ngoài giờ, cụ thể như vào các buổi chiều sau khi học xong hoặc buổi
sáng sớm thức dậy.
c. Nguyên nhân khó khăn:
- Do các em chưa ý thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc tập luyện
TDTT để nâng cao sức khỏe cho bản thân,
- Do các em chưa có hứng thú trong tập luyện, khi thích thì tập, không
thích thì thôi. Không duy trì tập luyện thường xuyên, tính tự giác tích cực trong
tập luyện chưa cao.
10


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
- Một số học sinh biểu hiện rất thích thú và bị lôi cuốn vào các trò chơi
điện tử, chát trên mạng, nên ít thời gian dành cho hoạt động TDTT và lao động
chân, tay.
2.3.5. Tổ chức thực hiện tập luyện
Bài tập 1: Bật nhảy bằng hai chân với tay vào vật trên cao
Chuẩn bị: Đứng hai chân cách nhau một khoảng nhỏ hơn vai, mũi hai bàn
chân hơi xoay vào trong, thân người thẳng hai tay buông tự nhiên. Điểm rọi của
vật trên cao chiếu thẳng xuống mặt đất cách nửa bàn chân trên (hoặc mũi bàn
chân) 0,2 - 0,3 m.
Động tác: Co hai chân lấy đà, đồng thời mắt nhìn theo vật treo ở trên cao
phối hợp với hai tay đưa ra sau. Giậm nhảy bằng hai chân bật người hơi chếch
trước, hướng lên cao, hai tay hoặc một tay với vào vật. Cũng có thể treo vật ở
trên cao để nhảy lên đánh đầu chạm vật. Khi rơi xuống chạm đất cần co hai chân
để giảm chấn động, sau đó đứng lên đi về trước để cho người khác vào nhảy
hoặc tiếp tục lấy đà để bật nhảy liên tục trong một số lần.

+ Hai tay đưa ra trước lên cao đồng thời dướn thân người, hai bàn chân
kiễng.
+ Đưa hai tay từ trên cao xuống thấp, ra sau. Hai chân khuỵu gối, hạ thấp
trọng tâm. Chân chạm đất bằng cả bàn chân, thân trên ngả về trước.
+ Dùng sức mạnh của đùi, sức bật của hai bàn chân đạp mạnh xuống đất để
bật người rời khỏi điểm giậm nhảy lên cao ra trước. Hai bàn tay đánh ra trước
lên cao, tiếp mặt bục bằng cả hai chân, khuỵu gối để giảm chấn động.
Quãng nghỉ: Đối với bài tập này ta cho học sinh thực hiện khoảng 3 tổ tập
luyện. Mỗi tổ làm 20 lần / tổ, sau mỗi tổ tập luyện nghỉ từ 3 - 5 phút rồi tiếp tục
thực hiện.
Bài tập 4: Bài tập với dụng cụ, đeo bao cát 0,5 kg vào 2 chân
bật nhảy qua xà ở mức xà quy định
Chuẩn bị: Bao cát có khối lượng 0,5 kg. Đứng vuông góc với xà cách
điểm giậm nhảy khoảng 5 - 7 bước (điểm giậm nhảy cách xà khoảng một
cánh tay).
Động tác: Chạy đà tự nhiên khoảng 5 - 7 bước đà, đặt một chân vào điểm
giậm nhảy rồi giậm nhảy thật mạnh phối hợp với chân kia đá lăng lên cao về
trước, hai tay đánh nâng người lên. Tiếp theo co chân giậm nhảy và hơi ngả thân
13


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
trên về trước để bay qua xà. Sau đó đưa chân giậm nhảy về với chân lăng và cả
hai chân cùng rơi xuống chạm đất, khi chạm đất co hai chân để giảm chấn động
và vươn hai tay để giữ thăng bằng.
Vì hai chân đeo bao cát nên sức các em bỏ ra cũng phải nhiều hơn và bật
cũng phải mạnh hơn để đáp ứng yêu cầu ở mỗi mức xà.
Quãng nghỉ: Đối với bài tập này thì quãng nghỉ là 30 giây/1 lần.
Bài tập 5: Đeo tạ tập 0,5 kg vào 2 chân ke bụng trên
thang gióng hoặc trên ghế

lăng rồi cả hai chân cùng rơi xuống chạm cát, gối khuỵu để giảm chấn động và
vươn hai tay ra trước giữ thăng bằng.
15


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm

Hình 2: Đà một - ba bước giậm

Hình 3: Đà một - ba bước giậm

nhảy bước qua xà
nhảy chân lăng qua xà
*. Kiểm nghiệm.
- Trước khi tiến hành thực nghiệm tôi tiến hành kiểm tra kết quả lần 1 ở
cả hai nhóm thực nghiệm và đối chứng.
Kết quả như sau:
Nhóm
Nhóm đối chứng lớp 9b
Nhóm thực nghiệm lớp 9a
SL

Tỉ lệ

SL

Tỉ lệ

5


4

12,5%

Kém

2

3,2%

0

0%

Loại
Giỏi

Khá

16


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Kết quả được minh hoạ trên biểu đồ như sau :
ĐC
TN

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Trong quá trình tôi dùng phương pháp nói trên lồng ghép vào bài học,


SL

Tỉ lệ

6

18,8%

8

25%

13

40,6%

16

50%

TB

11

34,4%

8

25%

18


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Diễn biến nhịp độ tăng trưởng của hai nhóm thực nghiệm và nhóm đối
chứng đều tăng sau 24 tuần tập luyện. Kết quả kiểm tra của nhóm thực nghiệm có
sự tăng trưởng cao, đồng đều và ổn định hơn so với nhóm đối chứng.
Tóm lại: Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy qua 2 nội dung kiểm tra,
nhóm thực nghiệm đều phát triển hơn nhóm đối chứng. Hệ thống bài tập phát
triển sức mạnh đã thể hiện tính hiệu quả đến việc huấn luyện nâng cao thành tích
nhảy cao cho học sinh trường THCS nơi tôi công tác.
Từ kết quả nghiên cứu cho phép nhận xét:
- Qua nghiên cứu đã chọn được 7 bài tập phát triển sức mạnh cho học sinh
lớp Trường THCS nơi tôi công tác.
- Qua kiểm tra diễn biến nhịp tăng trưởng thành tích của học sinh ở 2 lớp
thực nghiệm và đối chứng đều tăng, nhưng nhóm thực nghiệm có sự tăng trưởng
cao, đồng đều và ổn định hơn nhóm đối chứng.
- Sau 24 tuần thực nghiệm sư phạm ở học sinh trường THCS nơi tôi công
công tác các bài tập huấn luyện phát triển sức mạnh có hiệu quả rất tốt đối với
việc nâng cao thành tích trong môn nhảy cao.
3. KẾT LUẬN.
3.1. Kết luận:
Từ những kết quả nghiên cứu trên cho phép rút ra những kết luận như sau:
+ Qua các bước nghiên cứu đề tài đã xác định được 7 bài tập phát triển sức
mạnh nhằm nâng cao thành tích nhảy cao cho học sinh trường THCS nơi tôi
công tác. Đảm bảo có giá trị thông báo và đủ độ tin cậy.
+ Sau 24 tuần tập luyện thành tích của cả 2 lớp đều tăng, tuy nhiên nhóm
thực nghiệm tăng cao và đồng đều hơn nhóm đối chứng.
+ Muốn đạt được kết quả cao trong giảng dạy cũng như trong thi đấu nhảy
cao thì ngoài việc thực hiện và vận dụng tốt các phương pháp đòi hỏi giáo viên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status