MỘT số PHƯƠNG PHÁP dạy học từ hán VIỆT NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG môn NGỮ văn ở TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN QUAN hóa, HUYỆN QUAN hóa - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUAN HOÁ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TỪ HÁN VIỆT NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN QUAN
HÓA, HUYỆN QUAN HÓA

Người thực hiện: Nguyễn Thị Mười
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Thị trấn
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ Văn

THANH HOÁ NĂM 2018


MỤC LỤC
TT Mục
1

Nội dung

1 Mở dầu

Trang
1

2

1.1 Lí do chọn đề tài


Cơ sở lí luận

1

8

2.2

Cở sở thực tiễn

2

9 2.2.1 Nhầm lẫn từ Hán Việt được vay mượn là đảo vị trí các yếu tố
tạo thành từ ghép song âm tiết
10 2.2.2
11

2.3

Nhầm lẫn trong việc phân biệt ý nghĩa của các từ, từ tố Hán Việt
đồng âm
Một số phương pháp giảng dạy từ Hán Việt nhằm nâng cao
chất lượng môn Ngữ Văn.

2
2
3

12 2.3.1 Hướng dẫn HS nhận diện từ Hán Việt




1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Lịch sử dân tộc đã để lại cho chúng ta một vốn từ Hán Việt phong phú và đa
dạng. Số lượng từ Hán Việt chiếm đến 80% kho ngôn ngữ tiếng Việt của chúng ta.
Lớp từ này đã góp một phần tích cực vào việc làm cho tiếng Việt thêm giàu có, tinh
tế, chuẩn xác và uyển chuyển, đủ khả năng đáp ứng một cách tốt nhất mọi yêu cầu
do cuộc sống văn hoá xã hội phát triển và sự cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi tác
phẩm văn học qua việc hiểu cặn kẽ những từ Hán Việt trong mỗi tác phẩm đó.
Tuy nhiên, cũng chính vì sự phong phú ấy khiến cho việc sử dụng ngôn từ
Hán Việt trong cuộc sống nói chung, trong cách hiểu và viết lách của học sinh nói
riêng có nhiều nhầm lẫn. Việc viết/nói sai dẫn đến người đọc/nghe hiểu sai gây ra
những nhầm lần, những hậu quả khó lường.
Thiết nghĩ, là một giáo viên dạy văn, việc hướng dẫn cho học sinh hiểu đúng,
dùng đúng, hơn thế, có thể dùng “hay” trong mỗi câu nói, lời văn là trách nhiệm, là
tâm huyết. Song để thực hiện điều đó là điều không phải dễ dàng, ngày một ngày
hai. Với mong muốn được chia sẻ một vài kinh nghiệm nhỏ trong việc giảng dạy từ
Hán Việt cho các em học sinh, đặc biệt học sinh trung học cơ sở (THCS) để mỗi
giáo viên có thêm trang bị mang đến cho các em những giờ học tốt, hiệu quả nhất,
tôi mạnh dạn chọn đề tài: "Một số phương pháp giảng dạy từ Hán Việt nhằm
nâng cao môn Ngữ văn ở trường THCS Thị trấn Quan Hóa, huyện Quan Hóa”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Để giải quyết tình trạng học sinh còn nhiều bỡ ngỡ với tiếng Hán, với đề tài trên,
trước hết, tôi mong muốn các em học sinh (HS) nhận ra, “hiểu đúng” rồi “dùng
đúng”, vận dụng cao hơn nữa là dùng “hay” từ Hán Việt trong khi nói và viết.
Qua đề tài, tôi mạnh dạn chỉ ra những lỗi cơ bản các em học sinh thường gặp
phải khi sử dụng từ Hán Việt; đồng thời cũng muốn chia sẻ đến các đồng nghiệp
một vài kinh nghiệm nhỏ trong giảng dạy để cùng mang đến cho các em những giờ
học hữu ích, hiệu quả.

(H) - Triển khai (V) [1].
Sự thay đổi này cũng có giới hạn. Cần lưu ý những trường hợp đảo vị trí dẫn
đến ý nghĩa khác hoặc một từ khác.VD: "lai vãng" và "vãng lai" trong Hán ngữ ý
nghĩa không thay đổi, nhưng tiếng Việt "vãng lai" có ý nghĩa chung là lưu động,
không cố định, (tới rồi lại đi như khách vãng lai), còn "lai vãng" cũng có ý nghĩa
chung là qua lại, tới, đến nhưng ngữ khí nặng nề mang ý răn đe, ngăn cấm) [1].
VD: Từ nay tam cấm cửa không cho mày lai vãng đến đây nữa!
2.2.2. Nhầm lẫn trong việc phân biệt ý nghĩa của các từ, từ tố Hán Việt đồng âm
*. Đồng âm giữa từ Hán Việt với từ Hán Việt.
Cũng giống như trong tiếng Việt, tiếng Hán cũng có hiện tượng đồng âm
nhưng khác nghĩa, tức là những từ có chung một âm thanh nhưng lại khác xa nhau
về nghĩa.
Ví dụ: Từ thiên, trong trường hợp đứng cùng với thiên tử, có nghĩa là trời.
Trường hợp khác, từ thiên đứng trong cụm từ thiên kinh vạn quyển thì thiên lại là
nghìn. Trong trường hợp khác nữa, khi chúng ta dùng từ thiên vị thì thiên ở đây lại
hiểu là sự nghiêng về một phía, không công bằng) [1],...
Chính vì sự phong phú về ngôn ngữ ấy, khi học sinh không nắm vững sẽ dẫn
đến dễ bị nhầm lẫn.
*. Đồng âm giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt
Ví như từ "ngoan" trong Hán ngữ có nghĩa là cứng đầu, cứng cổ, bướng bỉnh
cố chấp, cứng cỏi. Nó chỉ xuất hiện với tư cách là yếu tố trong từ ghép Hán Việt
như "ngoan cố, ngoan cường", nhưng trong từ thuần Việt lại có nghĩa gần như trái
ngược: ngoan ngoãn, chăm ngoan,... – ý chỉ những con người có đức tính hiền
lành, biết vâng lời, biết kính trên nhường dưới,....
Từ những nguyên nhân trên, đầu học kì II năm học 2017 – 2018 tôi đã mở
một cuộc điều tra ở các khối lớp 6,7,8,9 bằng cách đưa ra 10 từ Hán Việt để các em
giải nghĩa và sau đó đặt câu với những từ đó. Kết quả là:
2



SL

%

6

29

1

0,3

7

24

15

58,7

4

14,9

1

0,3

7


4

12.9

16

51.6

6

19.3

3

9.7

9

36

1

4

8

32

13



15

11,6

Với kết quả điều tra trên, tôi không khỏi suy nghĩ là làm thế nào để các em
"hiểu đúng" và "dùng đúng" từ Hán Việt.
2.3. Một số phương pháp giảng dạy từ Hán Việt nhằm nâng cao chất lượng
môn Ngữ Văn ở trường THCS
2.3.1. Hướng dẫn HS nhận diện từ Hán Việt bằng cách nắm được đặc điểm
của từ vựng Hán ngữ cổ - từ vựng văn ngôn, nòng cốt của lớp từ Hán Việt
Từ ghép trùng lặp: là hai từ đơn có kết cấu âm tiết và ý nghĩa nội hàm hoàn
toàn giống nhau, sau khi lắp ghép thành một chỉnh thể trở thành một từ ghép song
âm. Ví dụ:
nhân dân: mọi người, tất cả mọi người, ai nấy (đều...)
xứ xứ: khắp nơi, khắp chốn, mọi nơi
gia gia: mọi nhà
niên niên: hàng năm, năm này qua năm khác [1]
Từ ghép kết hợp hai từ đơn có ý nghĩa giống nhau hoặc tương tự nhau tạo
thành một nghĩa mới hàm ý nói chung hoặc tăng thêm sắc thái ý nghĩa. Ví dụ:
bằng hữu: bạn be
hiểm trở: địa thế không thuận lợi cho việc đi lại [1]
Mặt khác, còn phải cho học sinh nắm được một từ (một chữ) Hán có thể có
nhiều nghĩa nhưng cũng lại có hiện tượng một ý nghĩa có thể được biểu đạt bằng
rất nhiều từ (chữ) khác nhau. Tuy nhiên mỗi từ (chữ) này, ngoài nghĩa chung nhất
còn mang nhiều sắc thái khác nhau. Ví dụ:
Để định danh sự vật là "con ngựa" bên cạnh từ "mã" còn có nhiều từ khác để
chỉ các loại ngựa khác nhau:
Câu: Ngựa còn non tuổi, khoẻ mạnh, sung sức, đẹp mã. [1]
" Tuyết in sắc ngựa câu giòn

hình dung khả năng tiết kiệm thời gian lớn đến dường nào: giả sử có 5 từ tố A, B,
C, D, E làm gốc để lắp ráp từng cặp thành những từ ghép nhất định kiểu AB, BC,
CD, DE... ta sẽ có công thức toán học về khả năng lắp ráp n(n - 1): 2, trong đó n là
số lượng các yếu tố dùng để lắp ráp ta có: 5 x 4 : 2 =10 (từ ghép). Đó là chưa kể
ghép nhờ cách đảo vị trí (AB và BA)...
Học từ tố Hán Việt chưa đủ mà còn nắm được công thức cấu tạo nghĩa của từ
ghép Hán Việt nữa. Nếu A, B là những từ tố Hán Việt; a, b là nghĩa của từ tương
ứng, x là nét nghĩa không có trong A, B nhưng có thể suy ra từ ngữ cảnh ta sẽ có:
AB = ab (ái quốc = yêu nước)
AB = ba (đảng kỳ = cờ đảng)
AB = a (x) b (tranh thủ =giành mà nắm lấy)
AB = b (x) a (quốc lộ = đường do nhà nước quản lý)
Tuy thế, phương án này chỉ thích hợp với những em thông minh, có kỹ năng
nhất định trong sử dụng tiếng Việt.
* Phương án " Học ít hiểu kỹ"
Đối với học sinh phổ thông thì điều quan trọng không phải số từ nhiều hay ít
mà là nắm ý nghĩa từng từ và biết sử dụng cho chính xác, nghĩa là đúng chữ, đúng
nghĩa, đúng lúc, đúng màu sắc tu từ, đúng thể loại.
Nguyên tắc là dạy ít, bày cho học sinh phương pháp tìm hiểu chắc chắn, so
sánh với những từ đồng âm, đồng nghĩa, gần nghĩa và đưa ra cách sử dụng thích
hợp. Ở trường phổ thông trí óc các em lớp dưới chưa phát triển khi dạy từ Hán Việt
nên đặt từ vào văn cảnh cụ thể giúp các em tiếp nhận ý nghĩa từ một cách chính
xác, không nên tách rời văn cảnh, tạo cho các em thói quen dùng từ chính xác. Tất
nhiên cách tiếp nhận này thường bị thu hẹp trong văn cảnh cụ thể, còn nếu đổi văn
cảnh, học sinh có thể hiểu sai, dùng sai, vì vậy các em hiểu rộng hơn bằng cách
phân tích các yếu tố thành phần, hiểu nghĩa từng yếu tố rồi suy ra nghĩa của từ,
nghĩa đen và nghĩa bóng, nghĩa cụ thể và trừu tượng, nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo phương án này hứa hẹn nhiều kết quả tốt đẹp.
2.3.4. Yêu cầu khi sử dụng từ Hán Việt
*. Phải hiểu đúng nghĩa khái quát tổng hợp của từ ngữ Hán Việt chứ không

Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Một hai nghêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
6


Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm.
Cung thương lầu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa lên chương,
Một thiên « bạc mệnh » lại càng não nhân.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
Êm đềm trướng rủ màn che
Tường đông ong bướm đi về mặc ai. [5]
* Thuyết minh Hán Việt
a. Giải thích từ ngữ
Tố nga: được dùng để nói về người phụ nữ đẹp, thiếu nữ xinh đẹp
Cốt cách: dáng vẻ, dáng điệu, hình thể.
Đoan trang: đứng đắn nghiêm trang.
Thu thuỷ, xuân sơn: nước mùa thu, núi mùa xuân. Thơ văn cổ còn có câu:
"Nhãn như thu thuỷ, mị tự xuân sơn (mắt trong như nước mùa thu, lông mày xanh

8
9
Tổng


số
29
45
50
36
160

Giỏi
SL
%
3
10,3
4
8.9
6
12,7
3
18,3
16
10

Khá
SL
%
5

5
18.5
2
6,9
3
6,7
1
0,2
5
10
2
4
3
8,3
0
0
16
10 5
3,1

8


3. Kết luận, kiến nghị
Trên đây là một số vấn đề mà tôi suy nghĩ và đã áp dụng trong việc uốn nắn,
sửa chữa thói quen sử dụng từ Hán Việt chưa chính xác ở học sinh khi hiểu và
dùng từ Hán Việt mà tôi cảm thấy có kết quả khả quan trong quá trình giảng dạy bộ
môn Văn - Tiếng Việt ở trường THCS thị trấn huyện Quan Hóa. Thiết nghĩ, lớp từ
Hán Việt khá đặc biệt và vô cùng quan trọng, bởi mặc dù đã được Việt hoá cao
song lớp từ này còn chiếm số lượng tương đối lớn trong ngôn ngữ tiếng Việt và


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Trần Văn Chánh, Từ điển Hán Việt – Hán ngữ cổ đại và hiện đại, Nxb Từ điển
Bách Khoa.
[2] Lê Xuân Thại, Từ Hán Việt và việc dạy từ Hán Việt trong sách giáo khoa Ngữ
Văn THCS, Nxb Giáo dục.
[3] Nguyễn Du, Truyện Kiều, Nxb Văn hóa.
[4] Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên, Nxb Giáo dục.
[5] Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 1, Nxb
Giáo dục, năm 2016.

10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status