Vận dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để nâng cao chất lượng học môn địa lí lớp 10 - Pdf 57

1. MỞ ĐẦU
1. 1. Lí do chọn đề tài:
Trong nền kinh tế tri thức, sự phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh toàn
cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những
yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Một trong
những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang
tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình
thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định
hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực, tự
lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người
học. Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách phương pháp dạy học ở nhà
trường phổ thông.
Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại;
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người
học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách
học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới
tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức
hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa
học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”.
Hiện nay, nhiều giáo viên sử dụng phương pháp dạy học truyền thống (Dùng
ngôn ngữ, thực hành, luyện tập…) một cách thụ động, chậm cải tiến, ít áp dụng
phương pháp, Kĩ thuật dạy học tích cực nên hiệu quả bài học chưa cao, chưa đáp ứng
yêu cầu đổi mới theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Giáo viên đã được tập huấn chuyên đề về một số phương pháp và kỹ thuật dạy
học tích cực. Tuy nhiên, việc vận dụng các kỹ thuật dạy học trong môn địa lí không
phải là vấn đề đơn giản, nó phụ thuộc khá nhiều vào yếu tố khách quan như cơ sở vật
chất, thiết bị dạy học, trình độ học sinh... vì vậy, với giáo viên ở nhiều trường, nhiều
địa phương thì các kỹ thuật dạy học tích cực vẫn là vấn đề khá mới mẻ, việc vận dụng

1

Tất cả giáo viên (kể cả giáo viên bộ môn khác có thể vận dụng trong quá trình
giảng dạy của mình).
3


2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
2. 1. Cơ sở lí luận.
a. Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa giáo viên và học sinh trong
phạm trù hoạt động dạy và học nhằm mục đích giáo dục và trau dồi học vấn cho thế
hệ trẻ.
Phương pháp dạy học theo quan niệm hiện nay là cách thức hướng dẫn và chỉ
đạo của giáo viên nhằm tổ chức họat động nhận thức và hoạt động thực hành của học
sinh, dẫn tới việc học sinh lĩnh hội vững chắc nội dung học vấn, hình thành thế giới
quan và phát triển năng lực nhận thức.
Theo quan điểm này thì dạy học chính là quá trình tổ chức cho học sinh lĩnh
hội tri thức. Vai trò của học sinh trong quá trình dạy học là quá trình chủ động. Như
vậy việc dạy học theo những phương pháp dạy học tích cực là vấn đề thật cần thiết.
b. Kĩ thuật dạy học
Kĩ thuật dạy học là biện pháp, cách thức tiến hành các hoạt động dạy học dựa
vào các phương tiện thiết bị nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả giảng dạy và giáo
dưỡng hay có thể nói cách khác đó là cách thức hoạt động dạy học, tổ chức hoạt động
giáo dưỡng để bảo đảm hiệu quả, chất lượng giảng dạy.
Các kĩ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy học độc lập, chúng là
những thành phần của phương pháp dạy học. Kĩ thuật dạy học là đơn vị nhỏ nhất của
phương pháp dạy học. Trong mỗi phương pháp dạy học có nhiều kỹ thuật dạy học
khác nhau, kỹ thuật dạy học khác với phương pháp dạy học. Tuy nhiên, vì đều là cách
thức hành động của giáo viên và học sinh, nên kỹ thuật dạy học và phương pháp dạy
học có những điểm tương tự nhau, khó phân biệt rõ ràng.
Năng lực sử dụng các kỹ thuật dạy học khác nhau trong từng giáo viên và nó

nên cũng rất ít sử dụng các kỹ thuật này. Ngoài ra còn do cơ sở vật chất phục vụ cho
việc dạy học còn hạn chế. Đời sống một bộ phận cán bộ giáo viên còn nhiều khó
khăn nên chưa đầu tư thỏa đáng vào việc đổi mới phương pháp kỹ thuật dạy học.
Đối với học sinh, đa số chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu hỏi
mà giáo viên đặt ra như các em đã chuẩn bị bài mới ở nhà, trả lời các câu hỏi cuối
mục trong bài cho nên khi học các em luôn chú ý để nắm chắc bài hơn. Đa số học
sinh đều tích cực thảo luận nhóm và đã đưa lại hiệu quả cao trong quá trình lĩnh hội
kiến thức.
Tuy nhiên vẫn còn một số học sinh lười học, chưa có sự say mê học tập, một
bộ phận học sinh thường xuyên không chuẩn bị bài ở nhà, không làm bài tập đầy đủ,
trên lớp các em thiếu tập trung suy nghĩ, cho nên không nắm vững được nội dung bài

5


học. Một số học sinh chỉ có thể trả lời được những câu hỏi dễ, đơn giản (như trình
bày), còn một số câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích, so sánh…thì còn rất lúng
túng khi trả lời hoặc trả lời mang tính chất chung chung.
Qua các lần kiểm tra đối với lớp 10A1 tôi có sử dụng đồ dùng dạy học và một
số phương pháp dạy học thông thường, chủ yếu học sinh khá - giỏi tham gia học tập,
số học sinh yếu ít có cơ hội tham gia hoạt động. Chính vì thế nên việc học tập thường
ít hứng thú, nội dung đơn điệu, giáo viên ít quan tâm đến phát triển năng lực cá nhân.
Đầu năm học 2018 – 2019 tôi đã tiến hành khảo sát tình trạng học tập của học
sinh lớp 10A6 và thu được kết quả như sau:
Kết quả khảo sát của lớp 10A6
Sĩ số học sinh lớp: 42 học sinh.
Nội dung

Thường xuyên


4

8

30

Qua kết quả kiểm tra trên cho thấy: mức độ chú ý nghe giảng còn hạn chế.
Học sinh tham gia trả lời câu hỏi, nhận xét ý kiến của bạn còn ít, vẫn còn học sinh
chưa tự giác làm bài tập. Đồng thời, ở nhiều học sinh hoạt động giao tiếp, kỹ năng
sống rất hạn chế, chưa mạnh dạn nêu chính kiến của mình trong các giờ học, không
dám tranh luận nhất là với thầy cô giáo, chưa có thói quen hợp tác trong học tập đã
ảnh hưởng rất không tốt đến việc học tập của học sinh. Có nhiều nguyên nhân cho
những hạn chế trên nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do phương pháp giáo dục.
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Trong quá trình giảng dạy địa lí 10 bản thân tôi đã tích cực sử dụng tối đa các
kỹ thuật dạy học tích cực trong quá trình giảng dạy để nâng cao chất lượng giảng dạy.
Các kỹ thuật dạy học chủ yếu được áp dụng là: Phương pháp dạy học nhóm, kỹ thuật
mảnh ghép, kỹ thuật bản đồ tư duy.
6


2.3.1 Kỹ thuật mảnh ghép:
a. Khái niệm:
Kỹ thuật mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa
cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm mục tiêu:
• Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp
• Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh trong hoạt động nhóm


Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ nhận thức


đến địa hình bề mặt Trái
Đất.

7

Mục II – 1: Quá trình phong hóa.


Tiết
10
Tiết
12
Tiết
28
Tiết
31

Tác động của ngoại lực
Bài 9

đến địa hình bề mặt Trái

Mục II – 2: Quá trình bóc mòn.

Đất (tiếp theo)
Bài 12

Bài 24


39
Tiết
45

Bài 33

Bài 37

Một số hình thức chủ yếu

Mục II: Một số hình thức của tổ chức

của TCLTCN.

lãnh thổ công nghiệp.
Mục I: Đường sắt.

Địa lí các ngành giao
thông vận tải.

Mục II: Đường ô tô
Mục III: Đường ống.

Trong điều kiện giảng dạy trên lớp, trong thời gian 1 tiết học, kỹ thuật mảnh
ghép thích hợp nhất là vào những phần khi thảo luận bao gồm 2 nội dung chính. Cách
tiến hành như sau:
+ Trong giai đoạn 1, giáo viên chia lớp thành 6 hoặc 8 nhóm theo các bàn.
Yêu cầu các nhóm lẻ (nhóm 1,3,5,7,) thảo luận 1 nội dung; các nhóm chẵn (nhóm
2,4,6,8) thảo luận 1 nội dung bài học. Sau thời gian 2 đến 3 phút các thành viên trong
nhóm đã nắm vững nội dung thảo luận của nhóm mình.

Kết quả
- Giai đoạn 2: Sau thời gian 4 phút giáo viên yêu cầu các nhóm 1 và 2; 3 và 4; 5 và 6;

9


7 và 8; 9 và 10; quay lại tạo thành 5 nhóm mới và thảo luận thống nhất nội dung điền
vào bảng.
- Sau 3 phút đại diện các nhóm lên báo cáo, các nhóm khác nhận xét bổ xung.

Khái

PHONG HÓA LÍ HỌC
Là quá trình phá hủy đá thành các khối vỡ vụn có kích thước khác nhau

niệm

mà không làm thay đổi màu sắc, thành phần khoáng vật, hóa học của đá.

Tác
nhân

- Sự thay đổi nhiệt độ, đóng băng của nước, sự kết tinh của các chất muối.
- Tác động ma sát hoặc va đập của gió, sóng, nước chảy, hoạt động sản

xuất của con người.
Kết quả - Làm đá bị rạn nứt, vỡ thành những tảng và mảnh vụn.
- Tại miền khí hậu khô nóng (hoang mạc và bán hoang mạc), sự dao động
nhiệt độ diễn ra mạnh nhất (nhiệt độ ban ngày rất cao, nhiệt độ ban đêm
rất thấp).

(Kĩ thuật mảnh ghép)
11


d. Nhận xét
Qua áp dụng kỹ thuật mảnh ghép trong chương trình Địa lí 10 có thể thấy rõ
kỹ thuật này tạo ra hoạt động đa dạng, phong phú, học sinh được tham gia vào các
nhiệm vụ khác nhau và các mức độ yêu cầu khác nhau. Trong kỹ thuật mảnh ghép đòi
hỏi học sinh phải tích cực nỗ lực tham gia và bị cuốn hút vào các hoạt động để hoàn
thành vai trò, trách nhiệm của mỗi cá nhân. Thông qua hoạt động này hình thành ở
học sinh tính chủ động, năng động, linh hoạt, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao
trong học tập. Đồng thời hình thành ở học sinh các kỹ năng giao tiếp, trình bày, hợp
tác, giải quyết vấn đề…
Tuy nhiên để hoạt động nhóm có hiệu quả giáo viên cần hình thành ở học sinh
thói quen học tập hợp tác và những kỹ năng xã hội, tính chủ động, tinh thần trách
nhiệm trong học tập. Cần lựa chọn nội dung/chủ đề phù hợp. Từ đó xác định một
nhiệm vụ phức hợp để giải quyết ở vòng 2 dựa trên kết quả các nhiệm vụ khác nhau
đã được thực hiện ở vòng 1. Đồng thời giáo viên cần theo dõi quá trình hoạt động của
các nhóm để đảm bảo tất cả mọi học sinh ở các nhóm đều hiểu nhiệm vụ và hoàn
thành nhiệm vụ được giao.
2. 3. 2. Vận dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy Địa lí 10.
a. Khái niệm

12


Sơ đồ tư duy là kĩ thuật dạy học nhằm tổ chức và phát triển tư duy, giúp người
học chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não một cách dễ
dàng. Đồng thời là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả.
Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hình ảnh để

họa về sơ đồ tư duy mà tôi đã sử dụng, học sinh đã vẽ trong một số bài học của
chương trình địa lí 10.
+ Tiết 19 – Bài 17: Thổ nhưỡng quyển và các nhân tố hình thành thổ nhưỡng.

H 4: Sơ đồ bài “ Thổ nhưỡng quyển và các nhân tố hình thành thổ nhưỡng”

14


Hình 5: Sơ đồ tư duy bài “Sóng. Thủy triều. Dòng biển”
(Do các nhóm học sinh làm việc)
d. Nhận xét.
Qua tìm hiểu về sơ đồ tư duy và thực tế giảng dạy có thể thấy rõ một số tác
dụng sơ đồ tư duy như sau:
- Sơ đồ tư duy giúp học sinh học được phương pháp học: Việc rèn luyện
phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả
dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số học sinh học rất chăm
chỉ nhưng vẫn học kém, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau
đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận
dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Phần lớn số học sinh này khi
đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu
kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Sử dụng thành thạo sơ đồ tư duy trong dạy
học, học sinh sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và
phát triển tư duy.
- Sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực. Một số kết quả
nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do
chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụng sơ
đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ
não.



Đôi khi

Không

Chú ý nghe giảng

35

7

0

Tham gia trả lời câu hỏi

31

11

0

16


Nhận xét ý kiến của bạn

36

6


0

0

Tỉ lệ (%)

100

53,5

46,5

0

0

Kết quả học sinh giỏi: Liên tục nhiều năm liền có học sinh đạt giải học sinh
giỏi cấp tỉnh.
Nhiều học sinh đậu vào các trường Đại học trên toàn quốc và đặc biệt có
nhiều học sinh đạt điểm tối đa.

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

17


3.1. Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu, điều tra,thử nghiệm, khảo sát thực tế, sáng kiến kinh
nghiệm đã được thực hiện và đã đạt một số kết quả:


18


Trong quá trình thực hiện , do trình độ và thời gian có hạn nên không tránh
khỏi những thiếu sót. Tôi mong nhận được những đóng góp của đồng nghiệp để đề tài
hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hoá, ngày 15 tháng 5 năm 2019
Xác nhận của hiệu trưởng
viết,

Tôi cam đoan đây là sáng kiến do mình
không sao chép của người khác

Đỗ Thanh Nam

19

Hà Trọng Nam


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Địa lí 10 – Lê Thông (Tổng chủ biên) – Trần Trọng Hà – Nguyễn Minh Tuệ
(đồng chủ biên) – Nguyễn Trọng Hiếu – Phạm Thu Phương – Đỗ Ngọc Tiến –
Nguyễn Viết Thịnh. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
2. Lí luận dạy học địa lí – Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc. Nhà xuất bản Đại
học sư phạm.
3. Dạy và học tích cực: Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học – Bộ giáo dục và
đào tạo. Nhà xuất bản Đại học sư phạm.
4. Một số vấn đề trong dạy học Địa lí ở trường phổ thông – Nguyễn Trọng Phúc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status