A- PHẦN MỞ ĐẦU
I- ĐẶT VẤN ĐỀ
1- CƠ SỞ LÝ LUẬN
Như chúng ta đã biết : Truyện cổ tích là sáng tác dân gian phổ biến, có phạm vi
lưu truyền rộng rãi nhất trong các loại truyện cổ dân gian. Nó thu hút tất cả các đối
tượng trong xã hội từ trẻ con đến người lớn, từ người mù chữ đến các học giả. Trong di
sản cổ tích của mỗi dân tộc bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố mang tính đặc thù
dân tộc và có sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc. Đối với mỗi chúng ta, những câu
chuyện cổ tích đầy màu sắc kỳ ảo luôn là những giấc mơ đẹp, hướng ta đến một tương
lai tươi sáng. Truyện cổ tích đã cùng ta đi suốt cuộc đời từ tuổi ấu thơ nghe bà hay nghe
mẹ kể chuyện cổ tích, ta say sưa sống trong thế giới cổ tích thần kỳ cho tới khi đi học
rồi trưởng thành, ta luôn tìm cho mình nguồn cảm xúc và những bài học sâu sa từ những
chuyện kể " Ngày xửa ngày xưa". Trong nhà trường THCS mảng văn học dân gian
đóng một vai trò rất quan trọng, mà trong đó truyện cổ tích là một phần không thể thiếu
được đối với người học sinh. Mặc dù ở bậc tiểu học các em cũng đã được tiếp xúc với
truyện cổ tích, nhưng lên THCS các em được học kỹ hơn, tìm hiểu sâu hơn và truyện cổ
tích có sự hấp dẫn, lôi cuốn các em nhiều hơn.
Mỗi lứa tuổi, học sinh có một nhu cầu và khả năng tiếp nhận khác nhau, nhất là
đối với thể loại văn học, đặc biệt là truyện cổ tích. Học sinh ở bậc THCS mà đặc biệt là
học sinh lớp 6 lớp 7. Các em còn nghèo nàn về kinh nghiệm sống, còn kém phát triển về
mặt ý thức, tính chất dễ xúc cảm, dễ bị kích động và thiếu vắng ở các em ý thức phê
phán rõ nét đối với kết quả sáng tạo của mình. Các em đã hình dung một cách sinh động
những bức tranh do nhà văn sáng tạo. Tư duy trí tuệ chưa ở mức cao nhưng với nghệ
thuật nói chung thì các em có hứng thú đặc biệt. Truyện kể dân gian là loại hình văn học
được học sinh yêu mến quá đỗi : " Sức bay bổng của ước mơ tưởng tượng của học
sinh mạnh mẽ đến mức các em có thể sống hai cuộc sống một lúc. Cuộc sống thực sự
và cuộc sống sáng tạo nên trong mơ tưởng. Đôi lúc các em không phân biệt được
hiện thực với những kết quả của sự mơ tưởng của chính mình". Khi đọc truyện nhiều
em tìm ngay được lối thoát cho mơ ước. Mặt khác truyện lại thâm nhập vào cuộc sống
của các em học sinh ở lứa tuổi này cũng dễ thay đổi chưa ổn định. Qua những điều trên
1
truyện cổ dân gian lại có những nét đặc trưng riêng biệt. Vậy vấn đề đặt ra là: Chúng ta
nên dạy - học truyện cổ tích như thế nào ?
Trong bài viết này, tôi muốn trình bày về " Những biện pháp tích cực để nâng cao
chất lượng dạy học cổ tích trong nhà trường THCS " bằng việc áp dụng vào truyện cổ
tích “Thạch Sanh" ( Ngữ văn 6 )
II- PHẠM VI ĐỀ TÀI:
Như trên đã nói, đề tài mang tên " Những biện pháp tích cực để nâng cao chất
lượng dạy học cổ tích trong nhà trường THCS " từ đó khái quát lên thành những ý
nghĩa chung của dạy học thể loại.
Việc lựa chọn truyện " Thạch Sanh" chứ không phải tác phẩm nào khác xuất phát
từ nhiều nguyên nhân: Đây là một truyện độc đáo, mở đầu cho phần truyện cổ tích ở
trong phần Ngữ văn lớp 6. Truyện có nhiều chi tiết bất ngờ, thú vị, đề cập đến mối quan
hệ giữa con người với con người và tài năng, phẩm chất bên trong của nhân vật. Ngoài
ra truyện " Thạch Sanh" sau nhiều lần chỉnh lý, thay sách vẫn được đưa vào dạy trong
chương trình THCS , điều đó cho thấy rằng giá trị và ảnh hưởng rộng lớn của tác phẩm
cũng như tính chất tiêu biểu của nó đã được khẳng định chắc chắn. Mặt khác từ năm
học 2002-2003 thực hiện chương trình thay SGK lớp 6 và đổi mới phương pháp dạy học
Ngữ văn nên việc dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học truyện cổ tích nói riêng còn
có nhiều vấn đề bất cập. Vậy mong muốn của tôi là tìm ra được những biện pháp tích
cực để nâng cao chất lượng dạy học cổ tích đặc biệt là với truyện cổ tích "Thạch Sanh".
III- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Dựa vào lý luận dạy học và đặc trưng thể loại truyện cổ tích, đưa ra những biện
pháp tích cực và hợp lý nhất để hiểu và cảm nhận tác phẩm. Trên cơ sở đặt mỗi khía
cạnh của vấn đề vào môi trường lớp học, vào quá trình dạy học để nâng cao chất lượng
giờ dạy. Điều cốt yếu là các em học sinh sẽ được hướng dẫn để hiểu đúng về tác phẩm,
có hứng thú tìm ra cho mình một niềm tin và ước mơ từ tác phẩm - Phù hợp với tâm lý
lứa tuổi và trình độ của các em.
3
B - NỘI DUNG
CHƯƠNG I: Những đặc trưng cơ bản về cổ tích
II/ Vấn đề thi pháp trong truyện cổ tích
Cốt truyện cổ tích giầu chất tưởng tượng và không ít yếu tố kỳ lạ khác thường''
Đọc cổ tích phải nín thở, vì nếu thở mạnh sẽ làm mất hưng phấn của truyện cổ tích''
(Pau top x ki). Cổ tích bảo tồn được những vẻ đẹp nguyên sơ trong sáng của con người.
Cũng giống như cổ tích thế giới cổ tích Việt Nam có kiểu truyện kiểu nhân vật và mô
típ nghệ thuật.
Tập hợp những truyện có cùng chủ đề cốt truyện tương tự như nhau được gọi là
kiểu truyện.
Ví dụ: Kiểu truyện Tấm Cám có những truyện: Tua Gia-Tua Nhi (người Tày) Ý
ưởi-ý Noọng( người Thái), Chiếc giày vàng (người Chàm).
- Kiểu truyện người lấy vật có truyện: Sọ Dừa, lấy chồng Dê, lấy vợ Cóc
- Kiểu truyện dũng sĩ tài giỏi lấy người đẹp : Thạch Sanh
Nhân vật trong truyện cổ tích tuy hành động được cá thể rõ hơn so với truyền
thuyết nhưng chưa được tâm lý hoá. Quy cách hoạt động của nhân vật tạo thành các
kiểu nhân vật:
Kiểu nhân vật bất hạnh ( người em út, người mồ côi, người xấu xí )
Kiểu nhân vật kỳ tài ( có tài kỳ lạ, có sức khoẻ phi thường )
Kiểu nhân vật trí xảo ( thông minh kỳ lạ )
Kiểu nhân vật khờ khạo ( ngốc nghếch )
Tính cách của nhân vật được bộc lộ qua hành động: "Nhân vật trong truyện cổ
tích là hành động của nó" ( Đỗ Bình Trị ). Vì vậy cái nét riêng của nhân vật cổ tích là ở
các kiểu dạng hành động, chẳng hạn như: " Làm theo vợ dặn một cách máy móc", 'Meọ
lừa" nó chưa phải là cái nét riêng của con người.
Về mô típ nghệ thuật: Yếu tố thần kỳ là phương tiện thường dùng trong truyện cổ
tích,nhiều khi nó như một nhân tố cố định cấu kết trong câu chuyện kể, để kết dệt thành
câu chuyện. Đó là những chi tiết nghệ thuật có mặt trong truyện cổ tích của nhiều dân
tộc . Ví dụ như mô típ " Niêu cơm thần" trong truyện Thạch Sanh; "Rơi giày và ướm
5
giày" trong Tấm Cám Những mô típ đó là " Những phần tử đơn vị vừa mang tính đặc
trưng, vừa mang tính bền vững của truyện kể dân gian"
Trong nội dung trình bày của tôi về truyện cổ tích, tôi cũng thống nhất theo quan điểm
phân loại này. Đó là truyện cổ tích bao gồm ba loại:
* Truyện cổ tích động vật
* Truyện cổ tích thần kỳ
* Truyện cổ tích sinh hoạt xã hội.
Tóm lại: Truyện cổ tích là sáng tác dân gian trong loại hình tự sự mà thuộc tính
của nó là xây dựng trên những cốt truyện. Truyện cổ tích là tác phẩm nghệ thuật được
xây dựng thông qua sư hư cấu nghệ thuật thần kỳ. Nó là một thể loại hoàn chỉnh của
văn học dân gian, được hình thành một cách lịch sử. Sự hư cấu thần kỳ trong truyện cổ
tích do hiện thực đời sống quyết định và nó cũng chịu sự biến đổi theo tiến trình lịch sử.
Thế giới cổ tích là một thế giới thật đáng yêu, đặc biệt là đối với trẻ thơ. Điều hấp
dẫn, điều có ý nghĩa với người nghe truyện cổ tích trước hết và chủ yếu là cái thế giới
cổ tích ấy chứ không phải là chỗ thế giới ấy phản ánh thực tế nào. Với chúng ta, những
giáo viên trong nhà trường THCS, là đem đến cho các em những vẻ đẹp đáng yêu của
cái thế giới cổ tích ấy.
CHƯƠNG II- Khảo sát tình hình dạy học truỵên cổ tích trong
nhà trường phổ thông
I- Đối tượng khảo nghiệm:
Trường tôi có 2 lớp 6 năm 2009- 2010 trong đó có lớp 6A1 là lớp chọn học sinh
giỏi . Nhìn chung các em ở lớp 6A1 có sự tiếp thu nhanh hơn, học tốt hơn so với các em
ở lớp 6A2. Từ thực tế đó tôi chọn hai lớp 6A2 làm đối tượng để khảo nghiệm.
II- Tư liệu khảo nghiệm
Toàn bộ truyện cổ tích được học trong chương trình của lớp 6 đều được tôi lấy
làm tư liệu khảo nghiệm. Trong đó có truyện cổ tích của Việt Nam và cả truyện cổ tích
của nước ngoài.
III- Quá trình khảo nghiệm
Trong suốt quá trình dạy học phần truyện cổ tích ở mỗi bài và mỗi phần tôi đều
có những câu hỏi kiểm tra đánh giá việc nhận thức bài học của học sinh và thấy được
phương pháp dạy học của giáo viên. Nhìn chung là chúng tôi thường xuyên thay đổi
cách đưa ra câu hỏi cũng như cách thức làm bài của học sinh.
( Cách thức: Kiểm tra vấn đáp học sinh tham luận theo nhóm và trình bầy)
8
4- Dạy cổ tích, có thể chỉ đi sâu vào câu hỏi ở một chi tiết, một khía cạnh nào đó
mà học sinh hiểu được cả ý nghĩa của truyện.
Ví dụ: Với truyện Thạch Sanh, giáo viên sử dụng câu hỏi sau đây và liên hệ với
một số truyện khác để các em dễ tìm ra câu trả lời hợp lý.
Chi tiết vật ban phát thức ăn vô tận có trong truyện cổ tích dân gian nhiều nước
( Cái khăn, cái bàn ăn, cái túi-truyện dân gian Nga, Pháp, cái giỏ, cái đĩa truyện Mông
cổ, Xi ri ) ở mỗi dân tộc và mỗi truyện, vật ban phát thức ăn vô tận lại có ý nghĩa riêng.
ở truyện cổ tích Thạch Sanh'' Niêu cơm thần'' có ý nghĩa như thế nào?
Trả lời được các câu hỏi này là các em đã nắm được ý nghĩa của câu truyện.
5- Dạy truyện ''Cây bút thần '': Trọng tâm của văn bản là những cuộc đấu tranh
tích cực, liên tục, mạnh mẽ của Mã Lương chống lại những kẻ thù xã hội tham lam, độc
ác và xảo quyệt để bảo vệ mình và nghệ thuật chân chính. Giáo viên có thể đưa ra câu
hỏi có dạng sau:
Em hãy tóm tắt cuộc đấu tranh của Mã Lương để trừng trị bọn, tham ác bằng một
sơ đồ?( Câu hỏi này, giáo viên có thể định hướng cho học sinh.)
9
Bị bắt vẽ ∏ không vẽ ∏ bị nhốt v o chuà ồng ngựa ∏ vẽ lò sưởi, vẽ bánh để
ăn ∏ kẻ thù đến giật v cà ướp bút ∏ Vẽ thang trèo tường để thoát thân ∏
kẻ thù đuổi ∏ vẽ tuấn mã để chạy ∏ vẽ cung tên để tiêu diệt kẻ thù.
Đối với tên địa chủ
Đối với tên vua
Bắt vẽ rồng ∏ vẽ cóc ghẻ ∏ bắt vẽ phượng ∏ vẽ g trà ụi lông ∏ bị cướp bút
bị nhốt v o ngà ục ∏ Vua vẽ núi v ng ra tà ảng đá∏ vẽ thỏi v ng th nh mãng à à
xà∏ vua phải thả ra v dà ỗ d nh em và ẽ ∏ em vẽ biển cả, cá, thuyền, cho vua
v trià ều đình ra khơi ∏ vẽ gió∏( từ nhẹ - mạnh rồi bão lớn) ∏ sóng biển nổi
nên dìm chết kẻ thù.
6- Câu hỏi khảo nghiệm để có sự tích hợp giữa Văn và Tập làm văn giáo viên sử
dụng câu hỏi:
dẫn của sách giáo viên, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo ) để chọn lọc kiến thức, đưa
vào bài dạy những dạng câu hỏi phù hợp cho từng loại truyện, từng kiểu nhân vật ở môi
truyện thì lớp học rất sôi nổi học sinh tham gia phát biểu ý kiến và thảo luận rất tích
cực với số lượng đông. Từ đó dẫn đến việc nhận thức kiến thức của các em khá tốt. Đặc
biệt các em rút ra ý nghĩa của mỗi truyện tương đối hoàn hảo và chính xác. Các giờ học
đều gây được sự hấp dẫn, kích thích hứng thú học tập của các em học sinh.
10
CHƯƠNG III
NHỮNG PHƯƠNG PHÁP VÀ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC ĐỂ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DẠY HỌC TRUYỆN CỔ TÍCH " THẠCH SANH" TRONG NHÀ TRƯỜNG.
I- CÁCH TIẾP CẬN TRUYỆN "THẠCH SANH"
1- Tiếp cận từ góc độ thể loại:
Khác với dòng văn học viết, văn học dân gian đánh dấu sự phát triển của mình
thông qua sự phát triển thể loại. Trước hết đó là thời cực thịnh của thần thoại, sau
chuyển sang truyền thuyết và cổ tích mỗi thể loại có đặc trưng riêng về nội dung và
hình thức, do đó xác đinh rõ ràng thể loại của một câu truyện, giúp ta nắm bắt nó một
cách dễ dàng. Nhưng dù có thể có những đặc trưng khu biệt thì do đặc trưng của văn
học dân gian là tính nguyên hợp nên có nhiều truyện đến nay vẫn chưa có sự phân biệt
rạch ròi. Đối với truyện "Thạch Sanh" thì từ trước đến nay vẫn được coi là truyện cổ
thần kỳ kể về nhân vật kì tài ( Trong 3 loại truyện cổ tích: Truyện cổ tích động vật;
Truyện cổ tích thần kỳ; Truyện cổ tích sinh hoạt xã hội)
Trong kho tàng truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam cũng như truyện cổ tích thế giới,
thật khó có thể tìm thấy một tác vừa lớn về đề tài, nội dung, vừa phong phú về loại hình
nhân vật, chặt chẽ, hoàn chỉnh về kết cấu nghệ thuật như truyện Thạch Sanh. Ở đây vừa
có đấu tranh với thiên nhiên chống các loài yêu quái, vừa có đấu tranh giai cấp trong xã
hội, lại vừa có đấu tranh dân tộc chống ngoại xâm 18 nước chư hầu, rồi đấu tranh cho
tình yêu đôi lứa. Chưa có nhân vật nào có hoạt động rộng lớn, gặp nhiều loại kẻ thù , lập
nhiều chiến công, có nhiều tài năng và phép lạ, nhiều phẩm chất cao đẹp như nhân vật
Thạch Sanh.
Truyện "Thạch Sanh" cũng mang đầy đủ nét đặc trưng của truyện cổ tích thần kỳ.
tộc, không phải lúc nào văn học dân gian cũng có vị trí xứng đáng cảu nó. Dưới
xã hội phong kiến văn học dân gian thường được coi là thứ văn hóa thấp kém,
không được quan tâm một cách đúng mức. Trong xã hội của chúng ta ngày nay
đặc biệt là trong hoạt động sư phạm dạy học chúng ta cần lựa chọn khai thác
những đặc trưng cơ bản cuả văn học dân gian. Trong truyện cổ tích thì đều hấp
dẫn, có ý nghĩa quan trọng với mọi người là thế giới cổ tích chứ không phải là
chỗ thế giới ấy phản ánh thực tế nào.
12
Truyện " Thạch Sanh" được xếp ở loại truyện cổ tích thần kỳ. Trong truyện
cổ tích những chi tiết lỳ lạ làm thay đổi số phận của nhân vật bất hạnh mà thông
minh kỳ tài. Truyện được chọn giảng cho học sinh khối 6 - THCS. Lứa tuổi học
sinh mới lớn, mới tiếp xúc với các môn học ở bậc học THCS nên các em rất hồn
nhiên, ngây thơ, thích khám phá những điều mới lạ trong từng môn học, từng giờ
học, từng tác phẩm văn học Như vậy không phải điều gì mà truyện đề cập đến
ta cũng đưa ra để học sinh tìm hiểu; những vấn đề được lựa chọn phải phù hợp với
học sinh về tâm lý, lứa tuổi, trình độ Đặc biệt là chú ý đến mục tiêu giáo dục và
mục tiêu bài học. Với "Thạch Sanh" chúng ta cần chú ý đến phẩm chất tài năng
đặc biệt cuả nhân vật mồ côi từ tấm bé, nhà là gốc đa cổ thụ, mình trần chỉ có
manh khố che thân, sinh nhai bằng nghề kiếm củi. Thạch Sanh còn là người thật
thà cả tin nên đã bị mẹ con Lí Thông lợi dụng đẩy chàng vào các cuộc chiến với
với các loại yêu quái cả trên cạn, dưới nước, hang sâu nhưng cuối cùng được sống
cuộc đời hạnh phúc.Truyện Thạch Sanh đề cao giá trị chân chính của con người.
Một điều không thể thiếu trong giờ học cổ tích là cả thày và trò đều sống trong
không khí cổ tích và cần tạo nên một không khí đặc thù của giờ dạy học cổ tích.
II- CÁCH THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRUYỆN " THẠCH SANH"
1- Tạo không khí cổ tích
Một trong những đặc trưng lớn nhất của văn học dân gian trong đó có truyện cổ
tích là tính truyền miệng. Phương thức tồn tại của " Thạch Sanh" là gắn liền với đời
sông sinh hoạt quần chúng nhân dân, diễn xướng không gian gia đình, ông bà cha mẹ kể
cho con cháu nghe, nó tạo nên một không khí ấm cúng thần tiên cho đứa trẻ bước vào
nửa thực, nửa hư lung linh đầy chất tưởng tượng.
Trong dạy học Ngữ văn theo hướng tích cực hóa thì học sinh không phải trật tự
mà phải là sự chú ý, các em cần chủ động tích cức tham gia vào bài học đưa ra nhận xét
đánh giá của riêng mình. Tiến trình dạy học như vậy sẽ đạt được hiệu quả cao vừa giữ
gìn được bản chất của văn học vừa có tính chất giáo dục.
Tạo dựng lại không khí cổ tích trong giờ học Ngữ văn là khâu hết sức quan trọng,
song nó chưa phải là đích cuối cùng, cũng như kể chuyện mới chỉ diẽn ra ở phần đầu
giờ học. Không khí cổ tích là môi trường thuận lợi để đưa học sinh vào thế giới câu
14
chuyện và bằng con mắt để cảm nhận, học tập. Từ không khí ấy, giáo viên và học sinh
sẽ khai thác cái hay, cái đẹp trong nội dung nghệ thuật của tác phẩm.
2- Tiếp cận " Thạch Sanh" theo thi pháp truyện cổ tích thần kỳ
Trước hết là yếu tố thần kỳ: "Thạch Sanh" là truyện cổ tích thần kỳ, nên yếu tố
thần kỳ là đặc trưng thi pháp quan trọng nhất, nó vừa khu biệt tác phẩm với các thể loại
khác vừa khu biệt với các nhóm khác nhau trong thể loại cổ tích.
Nằm trong mạch cổ tích với triết lý chính nghĩa chiến thắng gian tà nhưng Thạch
Sanh có vẻ đẹp riêng độc đáo. Nét độc đáo ấy nằm ngay trong nhân vật chính nghĩa đem
đến những điểm mới lạ trong chủ đề truyện. Điều này có liên quan đến yếu tố thần kỳ
của truyện. ở đây yếu tố thần kỳ thấm sâu vào tổ chức kết cấu của tác phẩm từ đầu đến
cuối, nhưng lại không có nhân vật thần kỳ, riêng biệt như Bụt trong 'Tấm cám" "Cây tre
trăm đốt" hay chim thần trong" Cây khế" Yếu tố thần kỳ nằm ngay trong nhân vật
chính: Thạc Sanh là người trần có nguồn gốc thần tiên. Thạch Sanh được miêu tả kĩ về
nguồn gốc: Vốn là Thái tử, con trai Ngọc Hoàng Thượng đế đầu thai vào gia đình ông
bà Thạch Nghĩa, nhân vật có nguồn gốc thần tiên, phi thường, cụ thể. Nó thật kỳ lạ
nhưng lại là mô típ quen thuộc trong truyện dân gian ( sự ra đời của Thánh Gióng,
Thạch Sanh). Đây là điều người xưa suy nghĩ muốn cho nhân vật ra đời kỳ lạ để sau
này làm những việc kỳ lạ, trở thành những con người khác thường xuất chúng. Giáo
viên cần hướng dẫn để học sinh thấy rằng: Nhân dân đã quan tâm đến số phận, địa vị
của những người bất hạnh, đau khổ khi sáng tác truyện này. Bên cạnh đó truyện Thach
Sanh đã đặt nhân vật vào một loạt tình huống thử thách để nhân vật bộc lộ tài năng. Có
vật chức năng được xây dựng chủ yếu nhằm thuyết minh cho một tư tưởng nào đó, là
nơi để các tác giả gửi gắm quan niệm, cảm xúc về hiện thực, là sự hiện thực hóa một
triết lý trừu tượng nào đó.
Đối với truyện Thạch Sanh chúng ta cần hướng dẫn học sinh xác định được kiểu
nhân vật chức năng –Thạch Sanh. Từ đó phát huy trí thông minh tích cực chủ động của
học sinh. Học sinh tìm ra những yếu tố tạo nên vẻ đẹp tuyệt vời về tài năng và phẩm
chất đẹp đẽ bên trong. Đó cũng chính là tiếp cận tác phẩm theo thi pháp truyện cổ tích
thần kỳ. Đó là những yếu tố giúp cho nhân vật phát triển tài năng, phẩm chất của con
người đẹp đẽ hơn. Đây cũng là mô típ biến hình trong truyện dân gian Nhân vật Thạch
Sanh trở thành những kiểu mẫu hoàn hảo nhất về mọi mặt. Sự biến đổi của nhân vật Sọ
Dừa chính là quan điểm dân chủ, thái độ trân trọng, khẳng định của nhân dân đối với
16
những con người bị coi là "hèn kém" trong xã hội có giai cấp. Đó là ước mơ của nhân
dân một sự đổi đời, một sự thay đổi số phận trong xã hội cũ . Và sau đó là sự đề cao con
người theo một tinh thần nhân đạo cao cả.
Nhờ vậy ở truyện Thạch Sanh giá trị chân chính của con người không chỉ
thể hiện ở nhân vật Sọ Dừa mà còn thể hiện ở nhân vật cô út. Nhờ cô út giá trị của Sọ
dừa mới có thể phát lộ thăng hoa.
III- LỰA CHỌN GIÁ TRỊ CỦA "THẠCH SANH" ĐỂ DẠY HỌC CHO HỌC SINH
Trên đây là những lý luận chung mà người giáo viên cần nắm được để nâng cao
chất lượng dạy học cổ tích "Thạch Sanh ". Chúng tôi đã đặt ra nhiều vấn đề và trong
cách giải quyết những vấn đề ấy cố gắng tạo ra những biện pháp tích cực để nâng cao
chất lượng giờ dạy học cổ tích. Từ đó ta đưa ra những khả năng lựa chọn để dạy học
trên lớp nắm được giá trị ,cốt lõi của truyện phù hợp với đối tượng của học sinh.
Theo phân phối chương trình năm 2009- 2010 truyện cổ tích Thạch Sanh dạy
trong hai tiết với học sinh lớp 6. Dựa vào đặc điểm tâm lý, lứa tuổi học sinh và thời gian
cho phép, giáo viên cần định hướng, giúp học sinh phát huy được tính tích cực, giữ vai
trò chủ thể tiếp nhận tự mình "nhập vào" truyện chứ không chỉ thụ động tiếp nhận. Và
trong thời gian đó thày và trò cùng đi vào giá trị lớn nhất của tác phẩm đó là: Truyện ca
ngợi người anh hùng – nghệ sĩ dân gian thật thà, trung hậu, nhân ái,sức khoẻ, tài năng
tích Việt Nam được nhân dân ta yêu thích. Đây là truyện cổ tích về người dũng sĩ diệt
chằn Tinh, diệt đại bàng cứu người bị hại, vạch mặt kẻ vong ân bội nghĩa Truyện thể
hiện ước mơ, niềm tin vào đạo đức, công lí xã hội và lí tưởng nhân đạo, yêu hòa bình
của nhân dân ta. Cuộc đời và những chiến công của Thạch Sanh cùng với sự hấp dẫn
của cốt truyện và của những chi tiết thần kì đã làm xúc động, say mê rất nhiều thế hệ
người đọc, người nghe.
Nội dung hoạt động Hoạt động của thầy và trò
18
I. Giới thiệu chung
- Thạch Sanh là truyện cổ tích tiêu biểu
trong kho tàng truyện cổ tích VNam.
- Thạch Sanh thuộc loại truyện cổ tích thần
kì.
II.Đọc, hiểu văn bản
1.Đọc:
Gợi không khí cổ tích, phân biệt giọng kể
và giọng nhân vật.
2. Chú thích :
Lưu ý chú thích :3, 6, 7, 8, 9, 11, 12, 13
3. Kết cấu, bố cục truyện.
* Mở bài : Lai lịch, nguồn gốc của nhân vật
chính Thạch Sanh.
* Thân bài : gồm các chặng
- Thạch Sanh kết nghĩa với Lý Thông.
- Thạch Sanh diện chăn Tinh bị Lý Thông
cướp công.
- Thạch Sanh diệt đại bàng cứu công chúa
lại bị cướp công.
- Thạch Sanh diệt hồ tinh, cứu Thái tử, bị vụ
oan, vào tù.
+ Sống nghèo khổ bằng nghề kiếm củi.
- *Khác thường :
+ Do Ngọc Hoàng sai Thái tử xuống đầu
thai làm con.
+ Thạch Sanh được thiên thần dạy cho đủ
các môn võ nghệ và mọi phép thần thông.
- *Ý nghĩa :
+ Thạch Sanh là con của người dân thường,
cuộc đời và số phận rất gần gũi với nhân
dân.
+ Tô đậm tính chất kì lạ, đẹp đẽ cho nhân
vật lí tưởng tăng sức hấp dẫn cho câu
chuyện. Ra đời kì lạ, khác thường lập
chiến công. Những người bình thường cũng
là những con người có phẩm chất, khả năng
kì lạ, khác thường.
a.2. Những chiến công thần diệu của
Thạch Sanh.
- Chém chăn tinh, trừ hại cho dân, thu được
bộ cung tên vàng.
- Diệt đại bàng, cứu công chúa.
- Diệt hồ tinh, cứu thái tử con vua Thủy Tề,
được nhà vua tặng cây đàn thần.
- Đuổi quân xâm lược 18 nước chư hầu
bằng tiếng đàn, niêu cơm kì diệu.
Kẻ thù càng hung ác, xảo quyệt, thử
thách càng to lớn, chiến công càng rực rỡ vẻ
vang, chính nghĩa càng sáng tỏ.
tích ?
? Nguồn gốc xuất thân của Thạch Sanh
thần kì ước mơ thực hiện công lí trong
xã hội của nhân dân.
*Tiếng đàn: làm quân xâm lược xin hàng
đại diện cho cái thiện, tình yêu chuộng
hòa bình của nhân dân cảm hóa kẻ thù
lòng nhân ái, ước vọng đoàn kết.
* Niêu cơm : có khả năng phi thường
quân giặc khâm phục tấm lòng nhân đạo,
tình yêu hòa bình của nhân dân ta.
Thạch Sanh là người nhân hậu, độ lượng,
trong sáng vô cùng.
Luôn tin người, sẵn sàng giúp đỡ người
bị hại, không bao giờ nghĩ tới việc người
tranh ,kể lại,và nhận xét từng chiến
công của Thạch Sanh.)
Thảo luận nhóm:
? Có ý kiến cho rằng.
“Thạch Sanh là người dũng sĩ dân
gian bách chiến, bách thắng” Em có
nhận xét gì về ý kiến đó ? Nguyên
nhân nào dẫn đến chiến công của
Thạch Sanh
? Qua những thử thách, chiến công,
Thạch Sanh đã bộc lộ những đức tính gì
đáng quí ?
? Chúng ta cho rằng, cây đàn thần, niêu
cơm là 2 thứ vũ khí, phương tiện, kì diệu
nhất. Vì sao vậy ?
? Ý nghĩa của tiếng đàn kì diệu, niêu
cơm thần kì ở trong truyện ?
- Quy mô tầm vóc sâu, rộng nhất
- Đội hình nhân vật đông dảo nhất.
Sanh luôn tỏ ra ngờ nghệch, dại khờ,
trung hậu quá đỗi ?
? Tại sao chàng luôn bị lừa mà vẫn
không hề oán giận ?
? Có phải Thạch Sanh không biết căm
thù ?
Học sinh thảo luận, phát biểu
? Em có nhận xét gì về sự đối lập tính
cách, hành động cảu 2 nhân vật Thạch
Sanh và Lý Thông.
Tiểu kết : giáo viên khái quát những
phẩm chất của nhân vật Thạch Sanh.
Thạch Sanh là biểu tượng tuyệt đẹp của
con người Việt Nam trong cuộc sống lao
động và chiến đấu trong tình yêu và
hạnh phúc gia đình.
? Em hãy cho biết truyện có kết cục như
thế nào ? Em có nhận xét gì về kết cục
ấy ?
Khái quát những đặc sắc tư tưởng - nghệ
thuật của truyện " Thạch Sanh "
22
- Kết cấu, cốt truyện mạch lạc, sắp xếp tình
tiết rất khéo léo, hoàn chỉnh.
- Hai nhân vật đối lập, tương phản hầu như
xuyên suốt truyện Thạch Sanh và Lý Thông
tạo cho cốt truyện vững chắc, tâp trung.
- Các chi tiết, yếu tố thần kì có ý nghĩa tư
Qua thời gian nghiên cứu và áp dụng đề tài này vào việc giảng dạy truyện cổ tích
cho học sinh lớp 6 là một phương pháp hay, dễ áp dụng. Để có được kết quả cao trong
giảng dạy, thực nghiệm đề tài này, bản thân tôi rút ra một số kinh nghiệm như sau:
+ Với giáo viên:
- Giáo viên phải là người yêu nghề, luôn say mê tìm tòi nghiên cứu tìm ra những cách
dạy phù hợp, hiệu quả với từng thể loại văn học nói chung và truyện cổ tích nói riêng.
Nắm vững những đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích, cũng như các phương pháp cơ
bản dạy thể loại này.
+ Với học sinh:
- Các em phải là những người thực sự say mê môn học, ham hiểu biết, ham đọc
sách. Ngoài những truyện cổ tích được học trong chương trình SGK các em cần tìm tòi
đọc thêm những truyện cổ tích khác trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
- Chuẩn bị bài chu đáo ở nhà trước khi đến lớp theo sự hướng dẫn của giáo viên.
- Trong lớp tập trung nghe giảng, ghi chép
VII. PHẠM VI ÁP DỤNG ĐỀ TÀI:
Để áp dụng kinh nghiệm này được tốt, tôi xin mạnh dạn đề ra một vài yêu cầu.
Cụ thể: Tất cả giáo viên ngữ văn THCS, nhất là giáo viên trực tiếp giảng dạy ở khối lớp
6, đối tượng học sinh lớp 6. Vì phần truyện cổ tích được dạy trong chương trình Ngữ
văn 6.
VIII.VẤN ĐỀ TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
Việc dạy học truyện cổ tích trong chương trình Ngữ văn THCS, bước đầu đã có
những thành công đáng kể, song khi vận dụng cũng gặp không ít khó khăn:
- Chương trình Ngữ văn lớp 6, đưa vào học 4 văn bản truyện cổ tích trong đó có
ba truyện cổ tích Việt Nam và một truyện cổ tích Trung Quốc (Cây bút thần). Nhưng
24
trong ba truyện cổ tích Việt Nam được học thì Truyện Sọ Dừa chuyển thành văn bản
đọc thêm. Nên áp dụng đề tài cần có sự linh hoạt.
- Ngoài những tác phẩm được học trong chương trình học sinh cần có ý thức tự
học và đọc thêm các văn bản truyện cổ tích ngoài chương trình theo sự hướng dẫn của
giáo viên.