Lồng ghép giáo dục giới tính, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT thông qua giảng dạy bài 12 - Pdf 57

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo quy luật, thế giới tự nhiên không ngừng vận động và phát triển. Con
người cũng vậy kể từ khi chào đời, cơ thể ngày ngày lớn lên, trí tuệ ngày càng
thêm sâu sắc. Có một khoảng thời gian đặc biệt mà con người có những bước
nhảy vọt về cả thể chất lẫn trí tuệ, tâm sinh lý - khoảng thời gian ấy chính là giai
đoạn tuổi vị thành niên, lứa tuổi vị thành niên là một giai đoạn ngắn nhưng lại
ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển toàn diện của cuộc đời mỗi người.
Các em học sinh trung học đang ở độ tuổi vị thành niên có nhiều bỡ ngỡ
trước sự thay đổi của bản thân khi bước vào tuổi dậy thì và có nhiều tò mò, thắc
mắc về vấn đề giới tính nhưng lại không được giải đáp thỏa đáng. Mặt khác, sự
tác động mạnh mẽ của môi trường xã hội hiện nay, đó là sự phát triển một cách
ồ ạt các hệ thống truyền tải thông tin như internet, điện thoại di động…đã làm
ảnh hưởng đến những quan điểm, nhận thức về quan hệ tình dục, tình yêu, hôn
nhân ở thanh thiếu niên. Nhiều thanh thiếu niên bắt đầu quan hệ tình dục trong
khi chưa hiểu biết đúng đắn về sức khỏe sinh sản. Sự thiếu hiểu biết này có thể
dẫn đến những hậu quả trầm trọng: mang thai ngoài ý muốn dẫn đến nạo phá
thai ở độ tuổi vị thành niên,sinh con và nuôi con khi độ tuổi còn quá trẻ, làm dở
dang việc học tập; mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục ảnh hưởng lớn
đến sức khỏe và đời sống tinh thần sau này.
Cung cấp thông tin về giới tính, giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành
niên là việc làm cần thiết nhưng đến nay vẫn còn một số người cho đó là vấn đề
tế nhị, nếu đem vào bài giảng, tức là “ vẽ đường cho hươu chạy”, bên cạnh đó, ở
nhà trường còn rất hiếm có giáo viên nào chuyên trách về vấn đề này. Ở gia
đình, nhiều phụ huynh không đủ trình độ hoặc e dè trước vấn đề giáo dục giới
tính, sức khỏe sinh sản cho con em mình.
Đứng trước thực trạng đó, đặt ra vấn đề: Việc giáo dục giới tính thuộc về
ai? Phải bắt đầu từ độ tuổi nào là hợp lý? Thực hiện dưới hình thức nào và tổ
chức ra sao? Những câu hỏi đó cho đến nay vẫn còn rất mới mặc dù có rất nhiều
chuyên gia đã nghiên cứu, triển khai nhưng nhìn chung hiệu quả chưa cao.
Chính vì vậy là một giáo viên giảng dạy môn GDCD ở trường THPT, tôi

- Phương pháp phân tích và tổng hợp để đảm bảo tính khách quan và
chính xác vấn đề mà đề tài đặt ra.

2

2


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1. Giới tính, giáo dục giới tính là gì?
* Giới tính: Trong những điều cần biết để giáo dục giới tính cho con
người nêu rõ: “Giới tính là sự khác biệt về phương diện sinh học con trai và con
gái (nói cách khác đó là sự khác biệt về giống đực và giống cái), ví dụ con gái
có thể mang thai và sinh đẻ được còn con trai thì không. Sự phân biệt giới tính
và giới đã rõ ràng, nhưng trong thực tế, để nhấn mạnh bản chất xã hội con
người, thuật ngữ “Giới tính” thường được dùng theo nghĩa rộng hơn, bao hàm cả
“Giới tính” và “Giới”.
* Giáo dục giới tính: Là việc cung cấp các thông tin về sự phát triển của
cơ thể, giới tính, tình dục, và các mối quan hệ, cùng với xây dựng kỹ năng để
giúp các bạn trẻ giao tiếp và đưa ra quyết định liên quan đến sức khỏe tình dục.
Giáo dục giới tính dành cho học sinh ở mọi cấp học, với các kiến thức thích hợp
với nền văn hóa và sự phát triển của học sinh. Giáo dục giới tính sẽ bao gồm
thông tin về tuổi dậy thì, biện pháp tránh thai và bao cao su, các mối quan hệ,
phòng chống bạo lực tình dục, hình ảnh cơ thể, giới tính và khuynh hướng tình
dục.
Giáo dục giới tính cần đến với tuổi mới lớn bằng những bài học đầy đủ
nhất về kiến thức ngăn ngừa mang thai ngoài ý muốn và các bệnh lây truyền qua
đường tình dục, nhưng giáo dục giới tính cũng cần phải tôn trọng các quyền lợi
cơ bản của giới trẻ và cần truyền đạt một cách trung thực.

khi quan hệ giới tính không trong sáng.
Tuổi dậy thì chính là giai đoạn đặc biệt trong quá trình phát triển của một
con người. Đó là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành người lớn và được đặc
trưng bởi sự thay đổi mạnh mẽ về cả thể chất, chức năng, tinh thần, hành vi, tình
cảm, đánh dấu giai đoạn “hình thành giới tính” của con người và có khả năng
hòa nhập cộng đồng, lúc này, các hoóc môn sinh dục ở nam và nữ bắt đầu hoạt
động mạnh hơn, độ chín về sinh dục cũng cao hơn.
Ở nữ giới, kinh nguyệt là dấu hiệu của tuổi dậy thì báo hiệu mở đầu của
thời kỳ sinh sản. Các dấu hiệu trước khi có kinh nguyệt như tăng nhanh về chiều
cao, cân nặng và vú phát triển.
Còn ở nam giới biểu hiện dậy thì sau nữ giới từ 2 đến 3 năm, tinh hoàn
bắt đầu hoạt động nội tiết và ngoại tiết, hiện tượng cương dương vật và xuất tinh
cho thấy chức năng sinh sản của nam giới đã bắt đầu.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Kết quả nhận biết của các em về giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên
khi tôi chưa áp dụng dạy học theo định hướng tích hợp giáo dục giới tính, giáo
dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ở các lớp 10A1, 10A2, 10A4, 10A6 với tổng
số 170 học sinh như sau:
Số thứ
Câu hỏi
Trả lời
tự
Biết
Không
biết
1
Em có biết về kiến thức giới tính – sức khỏe 30/170
140/170
sinh sản vị thành niên không?
(17,64%) (82,35%)

10

đường tình dục.
Quan hệ tình dục đúng vào ngày rụng trứng 20/170
mới có thể thụ thai.
(11,77%)
Em có biết về tuổi trưởng thành sinh dục 70/170
của nam giới và nữ giới
(26,5%)

150/170
(88,23%)
125/170
(73,5%)

Từ kết qua tổng hợp cho thấy: Đa số các em đều không biết về giới tính,
tuổi trưởng thành, về quan hệ tình dục, mang thai ở tuổi vị thành niên có ảnh
hưởng gì tới sức khỏe, các cách tránh thai an toàn........
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1Chuẩn bị:
* Giáo viên:
- Yêu cầu học sinh đọc, tìm hiểu các kiến thức liên quan, cách lí giải biện
chứng vấn đề.
- Hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, tư liệu liên quan đến bài học
- Dự kiến các tình huống có thể xảy ra
- Một số câu hỏi trắc nghiệm và bài tập tình huống
* Học sinh: Tìm hiểu các kiến thức về giới tính, sức khỏe sinh sản vị
thành niên...
2.3.2. Tích hợp giới tính – sức khỏe sinh sản vị thành niên vào các phần
trong bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình như sau:

HỌC:
- Thuyết trình, vấn đáp, nêu vấn đề, thảo luận nhóm, thảo luận lớp, sử dựng
các kỹ thuật dạy học tích cực, tạo tình huống, trực quan, …
- Tranh, ảnh, sơ đồ, giấy khổ to, Bài tập tình huống GDCD 10...
- Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn GDCD THPT; SGK,
SGV
- Có thể sử dụng vi tính, máy chiếu Projector.
III.TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Ổn định tổ chức. (Dự kiến 1p):
2. Kiểm tra bài cũ. (Dự kiến 3p):
Em hãy trình bày thế nào là nhân phẩm và danh dự? Lấy ví dụ?
3. Dạy bài mới.
Giới thiệu bài mới
Vấn đề tình yêu, hôn nhân và gia đình là một trong những vấn đề vô cùng
quan trọng trong đời sống mỗi con người nói riêng cũng như sự ổn định của đất
nước nói chúng. Vậy hiểu thế nào cho đúng, cho đủ về vấn đề này thì chúng ta
sẽ cùng đi tìm hiểu bài hôm nay. Bài 12: CÔNG DÂN VỚI TÌNH YÊU, HÔN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
*Hoạt động1: (Dự kiến 12p): Thảo 1.Tình yêu
luận lớp tìm hiểu thế nào là tình yêu.
a, Tình yêu là gì?
*Mục tiêu: Học sinh hiểu đươc thế nào
là tình yêu
*Cách tiến hành:
Giáo viên lồng ghép nội dung giáo dục
giới tính, giáo dục sức khẻo sinh sản vị
thành niên vào phần học này
Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm cho

diện trình bày kết quả thảo luận
1, Những biểu hiện của tình yêu qua
những câu ca dao, đoạn thơ:
- Nhớ nhung, quyến luyến, cuốn hút.
- Tình cảm tha thiết, mong muốn được
gần gũi với nhau
- Sẵn sàng vượt qua mọi thử thách để
đến với nhau.
2, Vài quan niệm về tình yêu:
- Yêu là chết trong lòng một ít.
- Là sự dung cảm của hai người khác
giới mong muôn được sống bên nhau.
- Tình yêu là ánh sáng ban mai đem
cho con người hạnh phúc
Học sinh trả lời:
Tình yêu là sự rung cảm và quyến
luyến sâu sắc giữa hai người khác
giới. Ở họ có sự phù hợp về nhiều
7


dâng cho nhau cuộc sống của mình. mặt…làm cho họ có nhu cầu gần gũi,
Vậy tình yêu là gì?
gắn bó với nhau, tự nguyện sống vì
nhau và sẵn sàng hiến dâng cho nhau
cuộc sống của mình.
Học sinh trả lời:
- Sẵn sàng hiến dâng cho nhau cuộc
sống cuả mình là; sống có trách
nhiệm, quan tâm tới người mình yêu...

8


9

9


( Buồng trứng và trứng)
Sau khi các em đã nắm rõ về giới của
mình giáo viên tiếp tục phân tích:
Như vậy nếu các em hiểu tự nguyện
sống vì nhau và sẵn sàng hiến dâng cho
nhau cuộc sống của mình là cho tất cả
và nhận tất cả, vượt khỏi giới hạn giữa
hai người khác giới, có quan hệ tình
dục thì dẫn tới bạn nữ có nguy cơ có
thai, sinh con ngoài ý muốn, ngoài ra
còn mặc các căn bệnh như HIV, lậu....
Ở trong bài này tự nguyện hiến dâng
cho nhau cuộc sống của mình là sống vì
nhau sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau khi gặp
khó khăn, tự nguyện xác định nghĩa vụ
của mình đối với người mình yêu....
Là học sinh chúng ta không nên yêu vì
đang trong tuồi ăn học, tâm sinh lí các
10

Học sinh trả lời:
Tình yêu luôn luôn mang tính xã hội.

tình yêu cá nhân nhưng có trách nhiệm
hướng dẫn mọi người có quan niệm
đúng đắn về tình yêu, đặc biệt ở những
người bắt đầu bước sang tuổi vị thành
niên.
Ở mỗi xã hội sẽ có những quan niệm
khác nhau về tình yêu:
Xã hội phong kiến “ thọ thọ bất tương
thân” không được gần nhau. Việc hôn
nhân: “ môn đăng hộ đối” “cha mẹ đặt
đâu con ngồi đấy”
Trong xã hội hiện nay tình yêu trước
hết phải là một tình yêu chân chính.
Vậy tình yêu chân chính là gì? Tình
yêu chân chính có các biểu hiện như
thế nào?
*Hoạt động 2: (Dự kiến 14p): Đọc hợp
tác tìm hiểu thế nào là tình yêu chân
chính
Mục tiêu: Học sinh hiểu đươc tình yêu
chân chính là gì
*Cách tiến hành: Giáo viên yêu cầu
học sinh đọc phần thế nào là tình yêu
11

b. Thế nào là một tình yêu chân
chính?
Học sinh đọc nội dung trên, tìm nội
dung chính, tóm tắt phần vừa đọc.
Học sinh trao đổi theo cặp về phần cá

đội địa phương, Hương đã thầm yêu
Tài một chiến sỹ thông tin của đơn vị.
Gia đình, bạn bè đã chê bai Hương vì
sao bỏ những chàng trai có địa vị xã
hội, có trình độ học vấn, tiền của để
yêu một người lính
Tình huống 3:
Mạnh và Lan chơi thân với nhau từ
khi còn học THPT. Hai người thường
xuyên quan tâm giúp đỡ nhau trong
cuộc sống và học tập. Cả hai đều được
vào Đại học và đến năm cuối của
trường đại học, họ chính thức tuyên bố
với bạn bè về tình yêu của họ.
Câu hỏi:
1, Trong 3 tình huống trên em đồng
tình và không đồng tình với tình huống
nào? Vì sao?
2, Tình yêu chân chính là gì? Những
biểu hiện của một tình yêu chân chính?
12

Học sinh cả lớp cùng trao đổi ghi ý
kiến vào phiếu học tập
- Đồng tình với tình huống 2+3:
- Không đồng tình với tình huống 1:
Vì:
- Tình huống 2+3 là biểu hiện của một
tình yêu chân chính...
- Tình huống 1 nó mang tính chất ép

luyến, gắn bó giữa một nam và một nữ
+ Có sự quan tâm sâu sắc đến nhau,
không vụ lợi
+ Có sự chân thành, tin cậy và tôn
trọng từ cả hai phía
+ Có lòng vị tha và sự thông cảm

trọng từ cả hai phía. Trong tình yêu
nếu không có sự chân thành, tin cậy và
tôn trọng từ cả hai phía thì tình yêu rất
dễ biến thành giả dối và dễ dằn vặt,
khinh miệt nhau làm cho tình yêu dễ
tan vỡ.
- Có lòng vị tha và sự thông cảm.
Trong tình yêu rất cần đến hai yếu tố
này bởi lẽ con người không có ai là
hoàn hảo và toàn vẹn cả. Nếu có lòng
vị tha và sự thông cảm sẽ làm cho hai
người yêu và hiểu nhau hơn
C. Một số điều nên tránh trong tình
yêu của nam nữ thanh niên.

*Hoạt động 3: (Dự kiến 12p): Thảo
luận lớp tìm hiểu một số điều nên tránh
trong tình yêu nam nữ thanh niên.
*Mục tiêu: Học sinh hiểu đươc một số
điều nên tránh trong tình yêu nam nữ
thanh niên.
*Cách tiến hành:
Giáo viên lồng ghép nội dung giáo dục

- Giáo viên nêu câu hỏi: Hãy nêu suy
nghĩ của em về những hình ảnh, thông
tin trên?

Học sinh trả lời:
-Suy nghĩ của em về những hình ảnh,
thông tin trên:
+Sự phát triển của xã hội đã làm cho
nhiều nam nữ thanh niên yêu đương tự
do, yêu đương sớm....
+Thiếu hiểu biết, quan hệ tình dục bừa
bãi dẫn tới mang thai khi ở tuổi vị
thành niên....
+Nạo phá thai dẫn đến nhiều hậu quả
cho bản thân bạn gái...

Học sinh trả lời:
- Yêu đương quá sớm
- Yêu một lúc nhiều người, yêu để
chứng tỏ khả năng chinh phục bạn
khác giới hoặc yêu đương vì mục đích
vụ lợi
- Có quan hệ tình dục trước hôn nhân

- Giáo viên nêu câu hỏi: Vậy, theo em ở
lứa tuổi thanh niên nên tránh những
điều gì trong tình yêu?
Giáo viên gợi ý:
15



- Tình huống:
Hoa mới học lớp 10 nhưng rất xinh đẹp, dịu dàng, nên có nhiều chàng trai
“săn đón”. Hoa băn khoăn chưa biết xử lí thế nào. Thấy vậy, Tâm bạn của Hoa
khuyên: “sao mày dại thế mày cứ chọn đại lấy một hai chàng nào đó xem ai hơn
thì yêu”.
Em có đồng ý với ý kiến của Tâm không? Vì sao? Nếu là bạn của Hoa em
sẽ khuyên Hoa như thế nào?
- Làm bài tập 1, 2 sách giáo khoa trang 86.
5. Hướng dẫn học bài cũ và chuẩn bị bài mới
- Về nhà làm bài tập vào vở, học bài cũ và chuẩn bị mới trước khi đến lớp.
- Sưu tầm các câu ca dao, câu chuyện liên quan đến Hôn nhân và Gia đình

17

17


2.3.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Qua các năm giảng dạy, đặc biệt là năm học 2017 – 2018 tôi đã áp dụng
đề tài này cho các lớp: 10A1, 10A2, 10A4, 10A6 với tổng số 170 học sinh. Sau
đó, tôi phát phiếu thăm dò nhận được kết quả rất khả quan : trên 90% học sinh
lĩnh hội được các kiến thức cơ bản về giới tính – sức khỏa sinh sản vị thành
niên, cụ thể:
Số thứ
tự
1

Câu hỏi

6
Dùng bao cao su không những tránh thai mà 160/170
10/170
còn tránh được các bệnh lây truyền qua (94,1%)
(5,9 %)
đường tình dục.
7
Quan hệ tình dục đúng vào ngày rụng trứng 162/170
8/170
mới có thể thụ thai.
(95,3%)
(4,7%)
- Đối với hoạt động giáo dục: Qua bài giảng các em có những hiểu biết cơ
bản về giới tính, sức khỏe sinh sản để tự tin bước vào cuộc sống, trở thành công
dân tốt trong xã hội hiện đại.
- Đối với bản thân: Ngoài những con số chỉ có tác dụng thăm dò trên đây,
tôi còn thu thập được rất nhiều tư liệu, tranh vẽ, hình ảnh và cả những đoạn
phim rất cảm xúc thể hiện ý thức về vấn đề giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành
niên, dân số, kế hoạch hóa gia đình của các em.
- Đối với đồng nghiệp: Tạo ra được phong trào thi đua tích hợp kiến thức
về giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên vào trong quá trình giảng dạy bộ
môn của các đồng nghiệp

18

18


3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1: Kết luận

tâm sự bạn trai, bạn gái, thảo luận, điều khó nói....
- Đối với gia đình các em với vai trò là các bậc phụ huynh: Trong mỗi gia
đình cần có sự gần gũi và tin cậy lẫn nhau của những người thân trong gia đình
giúp các em có thể giãy bày những băn khoăn, thắc mắc những điều thầm kín và
tế nhị; Những người lớn trong gia đình có thể giải đáp thỏa đáng, kịp thời, tránh
các em hiểu nhầm, có thể dẫn đến những hành vi nguy hiểm. Các em có thể
được học từ cha mẹ hình mẫu quan hệ khác giới mang tính văn hóa, đạo đức cao
về tình bạn, tình yêu, sự bình đẳng tôn trọng lẫn nhau và có trách nhiệm với
nhau.

19

19


XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác
Người viết sáng kiến

Hà Thi Duyên

20

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status