SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG dạy học bài NITƠ – hóa học lớp 11 để tạo HỨNG THÚ học tập CHO học SINH - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT ĐÔNG SƠN 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY
HỌC BÀI NITƠ – HÓA HỌC LỚP 11 ĐỂ TẠO HỨNG THÚ
HỌC TẬP CHO HỌC SINH

Người thực hiện: Trịnh Thị Tuyết
Chức vụ:
Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Hóa học


THANH HÓA, NĂM 2019

MỤC LỤC

Trang


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Nói đến các môn khoa học tự nhiên nói chung và môn hóa học nói riêng
học sinh thường hay liên tưởng đến những môn học cứng nhắc, khô khan. Chính
vì vậy mà khi học các môn này không ít học sinh thường có cảm giác “sợ” và dễ
chán nản.
Trong dạy học nói chung, trong dạy học môn hóa học nói riêng vấn đề đặt
ra là phải đổi mới chiến lược đào tạo con người. Đặc biệt cần đổi mới phương
pháp dạy học (PPDH) theo hướng phát triển thế hệ mới năng động sáng tạo, cho

- Tình huống nên để mở, giáo viên không cho trước “kịch bản”, lời thoại.
- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai.
- Người đóng vai phải hiểu rõ nhiệm vụ của mình trong bài tập đóng vai để
không lạc đề.
3


- Nên có biện pháp khích lệ những học sinh nhút nhát tham gia.
- Nên hóa trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của phương pháp
đóng vai.
- Rút ra được kết luận sư phạm: ý đồ đưa ra tình huống để đóng vai, mục
đích của kịch bản, kết quả sư phạm thu được.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
a. Phương pháp dạy học (PPDH) tích cực
PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ
những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của người học.Tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực
thì giáo viên phải nổ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
Muốn đổi mới cách học thì người thầy phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ
đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới
cách dạy của thầy. Chẳng hạn, có trường hợp HS đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt
động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp GV hăng hái áp
dụng PPDH tích cực nhưng không thành công vì HS chưa thích ứng, vẫn quen
với lối học tập thụ động. Vì vậy GV phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để
dần dần xây dựng cho HS phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ
thấp lên cao. Trong đổi mới PPDH phải có sự hợp tác của cả thầy và trò, sự phối
hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công.
b. Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành, làm thử một số

Các nhóm thảo luận, xây dựng kịch bản

Các nhóm đóng vai

Các nhóm khác theo dõi, nhận xét...

Giáo viên kết luận, nhận xét
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Thực trạng dạy học của giáo viên
Nhìn chung giáo viên đã đổi mới phương pháp dạy học như: sử dụng
phương pháp vấn đáp tìm tòi, trực quan tìm tòi, thảo luận nhóm...Tuy nhiên việc
sử dụng các phương pháp trên không thường xuyên, đa phần giáo án chủ yếu là
nội dung bài học chứ chưa chú trọng đến phương pháp, rất ít câu hỏi tư duy. Chỉ
sử dụng hệ thống sơ đồ trong SGK để minh họa cho bài học mà không có thêm
các sơ đồ tự thiết kế từ nội dung SGK liên hệ thực tiễn. Chưa chú ý sử dụng
phương pháp để tạo ra hứng thú học tập môn học cho học sinh.
2.2.2. Việc học của học sinh
Qua thực tế dạy học cho thấy, chất lượng dạy học môn hóa học 11 chiếm tỉ
lệ trung bình cao, ít học sinh khá, giỏi. Nhiều học sinh tiếp thu kiến thức thụ
động chủ yếu là nghe giảng và ghi chép chứ chưa có ý thức phát biểu xây dựng
bài. Một số em còn làm việc riêng trong giờ học, thậm chí một số em còn có
cảm giác “buồn ngủ” và “sợ” môn hóa học. Có khi lớp 39 – 40 em nhưng chỉ có
3 – 4 em tập trung phát biểu xây dựng bài. Các em hầu như không hứng thú với
môn học.
Từ thực tế trên dẫn đến kết quả học tập môn hóa học ở nhiều lớp chưa cao.
Số học sinh giỏi ít (thậm chí không có), khá và trung bình nhiều, yếu kém vẫn
còn. Qua thực tế giảng dạy nếu sử dụng phương pháp đóng vai cùng với những
câu hỏi tìm tòi, kích thích tư duy, gây tranh luận thì không khí học tập sôi nổi
hẳn lên, các em có hứng thú học tập nên rất tích cực phát biểu xây dựng bài.
Ngược lại, ở lớp giáo viên không sử dụng phương pháp đóng vai thì lớp học

Lưu ý: Phải cho Học sinh chuẩn bị trước vì nếu thời gian 45 phút ở lớp
không thể kịp để các nhóm có thể xây dựng kịch bản, phân công vai diễn, học
thuộc lời thoại và trình bày.
Sau đây tôi xin giới thiệu kịch bản của 3 nhóm học sinh lớp 11a3 trường
THPT Đông Sơn 1 lên đóng vai.
+ Nhóm 1: Tình huống như sau: Một diễn viên chính lên giới thiệu vị trí,
tính chất vật lí của nguyên tố nitơ bằng cách sử dụng 16 câu đầu của bài thơ Cô
gái nitơ dưới dạng hát chèo (nếu không hát được thì ngâm thơ), các học sinh còn
lại đóng vai quần chúng.
Diễn viên chính: Này các bạn ơi!
Diễn viên quần chúng: Ơi!
Diễn viên chính: Hỏi khí không phải! Tôi ra đây có phải xưng danh không
nhỉ?
Diễn viên quần chúng: không xưng danh ai biết đó là ai!
Diễn viên chính: Vậy tôi xin phép giới thiệu về mình.

6


Sau đó diễn viên chính sử dụng 16 câu đầu bài thơ cô gái nitơ dưới dạng hát
chèo (nếu không hát được thì ngâm thơ):
Em i í là cô gái nitơ
Tên thật azot anh ngờ làm chi
Không màu cũng chẳng vị gì
Sự cháy, sống chẳng duy trì trong em
Cho dù không giống oxi (Câu này hát ngân lên)
Thế nhưng em vẫn dịu hiền như ai
Nhà em ở chu kì 2
Có 5 electron ngoài bao che
Mùa đông cho tới mùa hè

(2NO2 + H2O → HNO3 + HNO2)
7


Hờn đau bốc khói lên đầy
Nên tim em chịu chua cay một bề
Đêm giông tố rét đêm về
Oxi chẳng được gần kề bên em!
Vì cùng dòng họ phi kim
Cho nên cô bác hai bên bực mình
Oxi từ đó buồn tình
Bỏ em đơn độc một mình bơ vơ
(2NO  N2 +O2)
Em là cô gái nitơ
Lâu nay em vẫn mong chờ tình anh.
Diễn viên quần chúng: mong chờ tình anh.
+ Nhóm 3: Tình huống như sau: Diễn viên lên đọc lại toàn bộ bài thơ cô gái
Nitơ có ghép nhạc chèo Thị Nở (ghép đoạn nhạc khua chuông gõ mõ), (hoặc có
thể chuyển dưới dạng đọc rap).
Em là cô gái nitơ
Tên thật azot anh ngờ làm chi
Không màu cũng chẳng vị gì
Sự cháy, sống chẳng duy trì trong em
Cho dù không giống oxi (câu này hát ngân lên)
Thế nhưng em vẫn dịu hiền như ai
Nhà em ở chu kì 2
Có 5 electron ngoài bao che
Mùa đông cho tới mùa hè
Nhớ ô thứ 7 nhớ về thăm em
Bình thường em ít người quen

Bỏ em đơn độc một mình bơ vơ
(2NO  N2 +O2)
Em là cô gái nitơ
Lâu nay em vẫn mong chờ tình anh.
2.3.2. Giáo án dạy học bài Nitơ – Hóa học 11
2.3.2.1. Mục tiêu
a. Kiến thức
- Nắm vững vị trí của nitơ trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học.
- Học sinh viết được cấu hình electron của nguyên tử nitơ và viết được cấu
tạo phân tử của nó.
- Biết các tính chất vật lí, tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng của nó.
b. Kĩ năng
- Rèn luyện kĩ năng hoạt động nhóm, trình bày trước lớp.
- Vận dụng kiến thức liên môn Hóa học và văn học giúp phát triển kĩ năng
mềm cho các em.
c. Về thái độ
- Tạo hứng thú học tập môn hóa học cho học sinh.
- Yêu thích môn nghệ thuật truyền thống là chèo.
2.3.2.2. Chuẩn bị bài dạy
- Sách giáo khoa.
- Bài thơ cô gái nitơ.
- Đoạn nhạc chèo Thị Nở.
2.3.2.3. Phương pháp dạy học
- Thảo luận nhóm – phương pháp đóng vai – trình chiếu
2.3.2.4. Tiến trình dạy học
Hoạt động của thầy và trò
Nội dung
Hoạt động 1 (2 phút): Khởi động: Giáo
viên trình chiếu một số hình ảnh: Hình 2.1
SGK trang 29 hóa học cơ bản 11, mẩu

hiểu gì về vị trí, tính chất vật lí của nitơ.
- MN = 14
-Viết cấu hình electron của nguyên tử
- Cấu hình electron nguyên tử:
2
nitơ?
1s 2s22p3
- HS trả lời.
- Công thức cấu tạo: N ≡ N
- GV chốt kiến thức.
2. Tính chất vật lí
- Điều kiện thường: Khí, không màu,
không mùi, không vị.
- Không duy trì sự cháy và sự hô hấp.
- Tan ít trong nước.
Hoạt động 4 (5 phút): Tính chất hóa học
III. Tính chất hóa học.
nào của nitơ xuất hiện trong phần đóng
- Ở nhiệt độ thường trơ về mặt hóa
vai của nhóm 1.
học.
GV: N có những số oxi hóa nào?
- Các số oxi hóa của N:
Cho biết vai trò của N2 trong các
-3, 0, +1, +2, +3, +4, +5
phản ứng oxi hóa – khử.
- Trong phản ứng oxi hóa – khử: N2
thể hiện tính oxi hóa hoặc tính khử.
HS thảo luận và lên viết PTHH của
1. Tính oxi hóa

1. Trong phần đóng vai của nhóm 2
em thấy xuất hiện những hợp chất nào của
nguyên tố N.
2NO + O2 → 2NO2 (nâu đỏ)
2. Viết PTHH có thể xảy ra trong
đoạn đóng vai trên.
3. Nêu đặc điểm của 2 khí NO, NO2.
4. Vai trò của N2 trong phản ứng với
oxi.
Hoạt động 6 (3 phút):
IV. Ứng dụng
GV trình chiếu các hình ảnh về ứng
-Là thành phần dinh dưỡng chính của
dụng của nitơ và trạng thái tự nhiên của thực vật.
nitơ từ đó nêu lên những ứng dụng và
- Dùng để tổng hợp NH3, HNO3, phân
trạng thái tự nhiên của N2.
đạm...
- Làm dung môi.
- N2 lỏng bảo vệ máu và các mẫu vật
sinh học .
V. Trạng thái tự nhiên
- Tồn tại dạng đơn chất chiếm 78,16%
thể tích không khí.
- Dạng hợp chất có nhiều trong
khoáng chất NaNO3, gọi là diêm tiêu natri.
Hoạt động 7 (5 phút):
VI. Điều chế
GV trình chiếu sơ đồ sản xuất N2
1. Trong công nghiệp

Mùa đông cho tới mùa hè
Nhớ ô thứ 7 nhớ về thăm em
Bình thường em ít người quen
Người ta vẫn bảo... sao trầm thế cô
Cứ như dòng họ khí trơ!
Ai mà ngỏ ý làm ngơ sao đành
Tuổi em mười bốn xuân xanh
Vội chi tính chuyện yến anh làm gì
Em là cô gái nitơ
Có anh bạn trẻ oxi gần nhà
Bình thường anh chẳng lân la
Nhưng khi giông tố đến nhà tìm em
Gần lâu rồi cũng nên quen
Nitơ oxit (NO) sinh liền ra ngay
Không bền nên chất khí này
Bị oxi hóa liền ngay tức thì
Thêm một nguyên tử oxi (NO2)
Thêm màu nâu đỏ, chất nào đậm hơn
Bơ vơ cuộc sống cô đơn
Thủy tề thấy vậy bắt luôn về nhà
Gọi ngay hoàng tử nước (H2O) ra
Ghép luôn chồng vợ thật là ác thay
(2NO2 + H2O → HNO3 + HNO2)
Hờn đau bốc khói lên đầy
Nên tim em chịu chua cay một bề
Đêm giông tố rét đêm về
Oxi chẳng được gần kề bên em!
Vì cùng dòng họ phi kim
Cho nên cô bác hai bên bực mình
Oxi từ đó buồn tình

giáo viên truyền tải mang tính khô khan, học sinh chỉ quan sát kết quả mà không
có hoạt động của học sinh nên học sinh không chú ý.
- Về kết quả điểm kiểm tra 1 tiết sau khi học bài Nitơ.
Điểm
3-4,5 5-6,5 7-8,5 9-9,5
10
Tổng số bài
Lớp
Thực nghiệm (11A3)
0
5
16
11
3
35
Đối chứng (11A4)
7
7
14
8
1
37
Lớp thực nghiệm có 100% các em đạt điểm trung bình trở lên, trong đó có
85,71% khá giỏi. Có 11 em đạt điểm 9 – 9,5, có 3 em đạt điểm tuyệt đối.
Lớp đối chứng có 30/37 (81,08%) đạt trung bình trở lên, trong đó có
62,16% đạt khá giỏi. Có 8 em đạt điểm 9 – 9,5, có 1 em đạt điểm tuyệt đối.
Qua bài kiểm tra thấy lớp thực nghiệm có kết quả đạt cao hơn lớp đối
chứng đặc biệt là số học sinh đạt điểm 9 – 10 cao hơn hẳn. Nguyên nhân là lớp
thực nghiệm nắm vững kiến thức, đi sâu vào kịch bản đóng vai qua đó tự chủ
động lĩnh hội kiến thức. Còn lớp đối chứng thì do không chủ động lĩnh hội kiến

ngày càng hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Xác nhận của thủ trưởng
đơn vị

Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác

Trịnh Thị Tuyết

14


TÀI LIỆU KHAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Hóa học 11, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, năm
2013.
2. Sách giáo viên Hóa học 11, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, năm 2013
3. Hóa học vui - PGS. PTS. Nguyễn Xuân Trường, Nhà xuất bản Khoa Học
và Kĩ Thuật Hà Nội – 1998.
4. Phương pháp đóng vai trên mạng internet.

15


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC


Kết quả
đánh giá
xếp loại (A,
B, hoặc C)

Năm học
đánh giá
xếp loại

C

2011-2012

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status