MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................2
1. Anh (chị) hãy cho biết các thước đo lạm phát, tăng trưởng của một
nền kinh tế và mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng?........................2
1.1. Thước đo lạm phát của một nền kinh tế................................................2
1.2. Thước đo sự tăng trưởng của một nền kinh tế.......................................3
1.3. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng............................................4
2. Anh (chị) hãy cho biết mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng của
Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2018?.........................................................6
3. Anh (chị) hãy bình luận nhận định trên của Thủ tướng được đưa ra
trong bài báo trên?..........................................................................................8
KẾT LUẬN........................................................................................................10
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................12
1
MỞ ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát là hai vấn đề cơ bản và lớn trong kinh tế vĩ mô.
Sự tác động qua lại của tăng trưởng kinh tế và lạm phát hết sức phức tạp và
không phải lúc nào cũng tuân theo những qui tắc kinh tế. Lạm phát là một vấn
đề không phải xa lạ và là một đặc diểm của nền kinh tế hàng hoá và ở mỗi thời
kì kinh tế với các mức tăng trưởng kinh té khác nhau sẽ có những mức lạm phát
phù hợp. Do vậy vấn đề lạm phát và ảnh hưởng của lạm phát tới tăng trưởng
kinh tế là một đề tài rất hấp dẫn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang trong
quá trình hội nhập và phát triển kinh tế hiện nay vấn đề này càng trở nên cần
thiết. Bài tiểu luận sau của em sẽ xem xét và phân tích về lạm phát và việc phát
triển kinh tế. Với kiến thức chưa cao bài làm sẽ còn nhiều thiếu sót, em mong
thầy cô sẽ góp ý sửa chữa để em hoàn thiện kiến thức hơn. Em xin chân thành
cảm ơn !
1. Anh (chị) hãy cho biết các thước đo lạm phát, tăng trưởng của một
chóng do sự thay đổi trong điều kiện cung và cầu trong thị trường thực
phẩm và dầu, nó có thể khó phát hiện các xu hướng dài hạn trong mức giá
khi những giá này được bao gồm. Vì vậy hầu hết cơ quan thống kê cũng
báo cáo một đo lường “lạm phát cơ bản”, trong đó loại bỏ các thành phần
dễ bay hơi nhất (như thực phẩm và dầu) khỏi một chỉ số giá rộng như chỉ
số CPI. Vì lạm phát cơ bản là ít bị ảnh hưởng bởi nguồn cung ngắn hạn và
điều kiện nhu cầu tại các thị trường cụ thể, các ngân hàng trung ương dựa
vào nó để đo lường tốt hơn các tác động lạm phát của chính sách tiền tệ
hiện tại.
1.2. Thước đo sự tăng trưởng của một nền kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là gì ?
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính
bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
Thước đo sự tăng trưởng của một nền kinh tế.
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt
đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm
trong một giai đoạn.
3
Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai
kỳ cần so sánh.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa
quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô
kinh tế kỳ trước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %.
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:
y = dY/Y × 100(%),
Trong đó Y là quy mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng. Nếu
quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ
lần mà thu nhập của người lao động cũng tăng gấp 2 lần, họ sẽ không quan
tâm đến việc tăng giá hàng hóa. Trong trường hợp như vậy, tăng trưởng
không bị suy giảm bởi lạm phát. Nếu lạm phát xảy ra theo hướng này thì
không ảnh hưởng nguy hiểm đến tăng trưởng kinh tế. Nói tóm lại, theo
quan điểm của thuyết trọng tiền, trong dài hạn, giá cả bị ảnh hưởng bởi
cung tiền chứ không thực sự tác động lên tăng trưởng. Nếu cung tiền tăng
nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra. Nếu giữ
cung tiền và hệ số tạo tiền ổn định thì tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm
phát.
Theo lý thuyết tân cổ điển: Tobin (1965, theo Vikesh Gokal, Subrina
Hanif 2004) phát triển mô hình Mundell (1963, theo Vikesh Gokal, Subrina
Hanif 2004) cho rằng lạm phát là nguyên nhân làm cho con người tránh giữ
tiền mà chuyển tiền thành các tài sản sinh lợi. Điều này sẽ làm gia tăng sự
tích lũy vốn trong nền kinh tế và thúc đẩy kinh tế phát triển. Theo mô hình
này giữa lạm phát và tăng trưởng có mối quan hệ cùng chiều.
Bổ sung thêm cho mô hình trên của lý thuyết tân cổ điển nhà kinh tế
học Sidrauski (1967, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif 2004) có cùng quan
điểm với chủ nghĩa trọng tiền, Sidrauski đề cập đến một trạng thái “vô
cùng dửng dưng” (superneutral) với lạm phát. Kết quả nghiên cứu của ông
là khi các biến số độc lập với việc tăng cung tiền trong dài hạn thì việc tăng
lạm phát không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Mô hình của Stockman (1981, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif
2004) – một nhà kinh tế học thuộc trường phái tân cổ điển – thì cho rằng
lạm phát tăng cao sẽ làm cho tăng trưởng giảm.
Sau khi xem xét nhiều quan điểm lý thuyết của các trường phái khác
nhau, tuy mỗi trường phái có một quan điểm riêng, mô hình riêng để chứng
minh mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng nhưng quan điểm chung
của các trường phái có thể nhận thấy là mối quan hệ giữa lạm phát và tăng
trưởng không phải là mối quan hệ một chiều mà là sự tác động qua lại.
5
Giai đoạn 2011 - 2015 đánh dấu thời kỳ giữ lạm phát ổn định ở mức
thấp nhất trong những năm trước đó. Để giải quyết vấn đề lạm phát tăng
cao năm 2011, chính phủ đã ra Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24 tháng 02
năm 2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Mặt khác, trước tình hình tổng cầu
và sức mua của nền kinh tế còn yếu, hoạt động sản xuất kinh doanh gặp
nhiều khó khăn, lạm phát tuy đã được kiểm soát nhưng tiềm ẩn nguy cơ gia
tăng trở lại, qua các năm Chính phủ vẫn duy trì mục tiêu, nhiệm vụ “điều
hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính
sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, ổn định kinh tế
vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, bảo đảm thanh khoản của
các tổ chức tín dụng và nền kinh tế”. Lạm phát ổn định ở mức thấp, ổn định
kinh tế vĩ mô được giữ vững, thị trường ngoại hối, tỷ giá ổn định, dự trữ
ngoại hối tăng lên mức kỷ lục, thanh khoản hệ thống ngân hàng được cải
thiện vững chắc.
Năm 2016 xu hướng lạm phát thấp chủ yếu là do tình hình tăng trưởng
kinh tế chưa có nhiều dấu hiệu khởi sắc. Tốc độ tăng trưởng GDP 6,21%
trong năm 2016 thấp hơn tương đối nhiều so với mục tiêu 6,7%.
CPI bình quân năm 2017 tăng 3,53% so với năm 2016 lạm phát chung
có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản, điều này phản ánh biến động giá do
yếu tố thị trường có mức tăng cao, đó là giá lương thực thực phẩm, giá
xăng dầu và yếu tố điều hành giá cả qua việc điều chỉnh tăng giá dịch vụ y
tế và giáo dục.
Tăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn còn nhờ nhiều vào tín dụng ngân
hàng nhưng giảm dần phụ thuộc. Nếu những năm 2010, mức bơm tín dụng
của ngân hàng vào nền kinh tế luôn trên 30% nhưng GDP tăng trưởng chưa
tương xứng. Từ năm 2013 trở đi, mức bơm tín dụng đã chậm lại nhưng vẫn
ở hai con số 13-18%, tăng trưởng GDP cũng tăng mạnh mẽ trở lại luôn trên
7
chỉnh giảm mức lương thực tế trong những nghành công nghiệp hay khu
vực đang suy thoái, mà sự suy thoái này đồng nghĩa với việc gia tăng trong
tỷ lệ thất nghiệp. Những nhà kinh tế trên cho rằng lạm phát làm “bôi trơn”
8
những bánh xe của thị trường lao động, cho phép tiền lương thực tế có thể
được điều chỉnh dễ dàng hơn. Vì thế để có tốc độ tăng trưởng cao hay
không thì phải duy trì một tỷ lệ lạm phát nhất định nào đó.
Lạm phát cao sẽ kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế, khi lạm phát xảy ra
nó sẽ làm lệch lạc cơ cấu giá cả, kéo theo là nguồn tài nguyên, vốn và
nguồn nhân lực không được phân bố một cách có hiệu quả, kết cục là làm
cho tăng trưởng chậm lại. Lạm phát cao khuyến khích người dân quan tâm
tới lợi ích trước mắt. Khi có lạm phát xảy ra ở một nước thay cho việc ký
thác tiền trong ngân hàng để hưởng lãi suất hay đầu tư vào khu vực sản
xuất kinh doanh hòng tìm kiếm lợi nhuận, dân chúng có thể đổ xô mua
hàng để dự trữ vì kỳ vọng giá hàng hoá còn tăng nữa. Điều này vô hình
dung làm tăng cầu hàng hoá một cách giả tạo và do vậy càng làm cho lạm
phát có nguy cơ bùng nổ đến mức độ cao hơn.
Lạm phát cao ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội
của quốc gia. Toàn bộ hoạt động kinh tế bị méo mó, biến dạng nghiêm
trọng gây tâm lý xã hội phức tạp và làm lãng phí ghê gớm trong sản xuất.
Đặc biệt khi lạm phát cao xảy ra, sức mua đối nội của đồng tiền vào hệ
thống ngân hàng và cao hơn nữa là vào chính phủ sẽ bị xói mòn. Điều này
gây tác hại vô cùng lớn lao đến toàn bộ hoạt động của nền kinh tế đất nước.
Mặt khác, từ khi rơi vào tình trạng lạm phát cao đến khi ra khỏi tình trạng
đó nhìn chung đều cần một thời gian dài với sự hao tổn lớn về mặt vật chất
và uy tín. Lạm phát cao làm giảm các nguồn thu từ thuế cho ngân sách nhà
nước. Những tác động làm giảm này xét trên cả hai phương diện trực tiếp
và gián tiếp. Một mặt, lạm phát cao dẫn đến sản xuất bị đình đốn làm cho
10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Giáo trình Kinh tế học vĩ mô, nxb Giáo dục Việt Nam.
2) Lạm phát, />3) Tăng trưởng kinh tế, />%C6%B0%E1%BB%9Fng_kinh_t%E1%BA%BF - %C4%90o_l
%C6%B0%E1%BB%9Dng_t%C4%83ng_tr%C6%B0%E1%BB
%9Fng_kinh_t%E1%BA%BF
4) Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế,
/>5) Báo cáo vĩ mô – 2018, C:\Users\Admin\Downloads\SBS++Bao+cao+Vi+mo+-+2018.pdf
6) Kinh tế Việt Nam, />7) Diễn biến tình hình của giá cả và tiêu dùng giai đoạn 2011-2015,
/>8) Thực trạng lạm phát ở Việt Nam và những giải pháp,
/>9) Lạm phát ở Việt Nam, thực trạng và các giải pháp;
/>11
%E1%BB%9F_Vi%E1%BB%87t_Nam_th%E1%BB%B1c_tr%E1%BA
%A1ng_v%C3%A0_c%C3%A1c_gi%E1%BA%A3i_ph%C3%A1p
12