Nghiên cứu tính kháng thuốc của quần thể rầy nâu (nilaparvata lugens stal) hại lúa ở một số vùng trồng lúa tại việt nam (tt) - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
------------------------------------------------

BÙI XUÂN THẮNG

NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG THUỐC CỦA QUẦN THỂ
RẦY NÂU (Nilaparvata lugens Stal) HẠI LÚA Ở MỘT SỐ
VÙNG TRỒNG LÚA TẠI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ: 9620112

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HÀ NỘI, 2019


Công trình được hoàn thành tại: Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Hồ Thị Thu Giang
2. PGS.TS. Michael Kristensen

Phản biện 1: ………………………………………………
…………………………………………………………….
Phản biện 2 ………………………………………………
…………………………………………………………..
Phản biện 3: ………………………………………………

Bộ, mặc dù bệnh đã được khống chế nhưng rầy nâu vẫn gây hại trên diện tích 332,941ha. Ở
các tỉnh phía Bắc, rầy nâu luôn là đối tượng nguy hiểm gây hại trực tiếp trên lúa và là mối
nguy hiểm tiềm ẩn tham gia truyền bệnh vi rút LXL, diện tích bị hại năm 2010 là
708.131ha, nhiễm nặng là 95.893ha (Cục BVTV, 2012).
Sử dụng thuốc hóa học vẫn là sự lựa chọn hàng đầu trong các biện pháp phòng chống
rầy nâu hiện nay. Thực tế cho thấy biện pháp này mang lại hiệu quả phòng chống rầy nâu
cao và dập tắt nhanh sự bùng phát dịch ở quy mô lớn. Tuy nhiên, diện tích bị rầy nâu phá
hại tăng sẽ kéo theo lượng thuốc BVTV dùng phòng chống rầy nâu tăng lên (Nguyễn Thị
Me và cs., 2002). Việc tăng số lượng thuốc BVTV để phòng chống rầy nâu dẫn đến nguy cơ
gia tăng khả năng kháng thuốc của rầy nâu và tính kháng chéo giữa các loại thuốc. Ngoài ra,
thời gian cơ cấu mùa vụ giữa các vùng khác nhau, kết hợp với khả năng di cư của rầy nâu là
một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ kháng thuốc của rầy nâu.
Một trong những nguyên nhân làm nhiều loại thuốc sử dụng phòng chống rầy nâu
không đạt hiệu quả cao như trước là do rầy nâu đã hình thành và gia tăng khả năng kháng
thuốc. Khi rầy nâu đã kháng thuốc, sẽ gây ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý rầy nâu
trong sản xuất lúa.
Việc nghiên cứu, theo dõi diễn biến tính kháng của rầy nâu đối với các loại thuốc
BVTV sử dụng phổ biến phòng chống rầy nâu hiện nay trở nên cấp thiết, cần thực hiện có
tính hệ thống và liên tục trong nhiều năm. Từ đó, làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm hạn
chế sự hình thành và phát triển tính kháng thuốc của rầy nâu.
Xuất phát từ những luận điểm nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tính
kháng thuốc của quần thể rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) hại lúa ở một số vùng trồng
lúa tại Việt Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định hiện trạng sử dụng thuốc BVTV và tính kháng thuốc của các quần thể rầy


2
nâu ở một số tỉnh trồng lúa, làm cơ sở khoa học đề xuất giải pháp quản lý tính kháng thuốc
của rầy nâu.

- Đề xuất được một số biện pháp phòng chống rầy nâu đạt hiệu quả và giảm tính
kháng thuốc của rầy nâu.
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nƣớc
Rầy nâu đã hình thành và phát triển tính kháng với nhiều loại thuốc thuộc các nhóm
Carbamate, Neonicotinoid, điều hòa sinh trưởng và Pyridine azomethine. Một số tác giả ở
ngoài nước đã nghiên cứu về tính kháng thuốc của rây nâu hại lúa như: Zewen et al.

(2003), Masumura et al. (2008, 2013), Wang et al. (2008), Catindig et al. (2009),
Wen et al. (2009), Shao et al. (2011), Basanth et al. (2013), Xiaolei Zhang et al.


3
(2014), Padmakumari et al. (2002), Srivastava et al. (2009), Mu et al. (2016), Ping et
al. (2001), Jie Zhang et al. (2010), He YuePing et al. (2011), Wang Peng et al.
(2013). Kết quả nghiên cứu của các tác giả này cho thấy quần thể rầy nâu đã kháng đối với
các hoạt chất thuốc imidacloprid, fenobucar, buprofezin, dinotefuran, nitenpyram,
pymetrozine.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
Một số tác giả ở trong nước đã nghiên cứu về tính kháng thuốc của rây nâu hại lúa
như: Lương Minh Châu (2007), Nguyễn Phạm Hùng (2009), Nguyễn Thị Hồng Vân (2010),
Nguyễn Thanh Hải (2011), Lê Thị Kim Oanh và cs. (2011), Lê Thị Diệu Trang (2012),
Phan Văn Tương và cs. (2013, 2014), Phùng Minh Lộc và cs. (2016, 2017), Đào Bách Khoa
và cs. (2018), Huỳnh Thị Ngọc Diễm và cs. (2017), Nguyễn Hồng Phong và cs. (2012). Kết
quả nghiên cứu của các tác giả trong nước cho thấy quần thể rầy nâu đã kháng hầu hết với
các hoạt chất thuốc được sử dụng phổ biến trong phòng trừ rầy nâu. Tuy nhiên, nghiên cứu
chưa có tính liên tục và biện pháp quản lý tính kháng mang tính đơn lẻ.
Chƣơng 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ năm 2014 - 2018.

- Nghiên cứu giải thích cơ chế kháng thuốc của rầy nâu: Đánh giá hoạt tính enzim
Cytochrome P450-dependent monooxygenase theo phương pháp của Puinean et al. (2010),
enzim Esterase theo phương pháp của Wen et al. (2009), enzim Glutathione S-transferase
theo phương pháp của Ralf Nauen and Natascha Stumpf (2002).
- Khả năng kháng thuốc chéo của quần thể rầy nâu đã kháng hoạt chất imidacloprid
đối với một số hoạt chất khác phòng chống rầy nâu: Sử dụng liều LC50 của thuốc với rầy
nâu ở thế hệ trước, làm liều lượng áp lực chọn lọc cho thế hệ tiếp theo. Sau 12 thế hệ áp lực
chọn lọc đối với hoạt chất imidacloprid, xác định lại mức độ kháng của quần thể rầy nâu đối
với các hoạt chất thuốc.
- Ảnh hưởng của hoạt chất thuốc đến một số đặc điểm sinh vật học của rầy nâu sau
khi tiếp xúc với thuốc: Theo phương pháp của Jie Zhang et al. (2010).
2.4.3. Phƣơng pháp nghiên cứu giải pháp hợp lý để quản lý tính tính kháng thuốc của
rầy nâu
- Nghiên cứu biện pháp sử dụng giống lúa kháng trong quản lý tính kháng thuốc của
rầy nâu
+ Đánh giá mức độ kháng của một số giống lúa với rầy nâu Nilaparvata lugens
(Stål) theo phương pháp của IRRI (1996).
+ Ảnh hưởng của giống lúa đến mức độ kháng thuốc của quần thể rầy nâu An Giang
sau một số thế hệ không tiếp xúc với hoạt chất imidacloprid: Quần thể rầy nâu được nuôi
trên 2 giống lúa TN1 và OM 6976, không tiếp xúc với thuốc. Cứ sau 2 thế hệ tiến hành xác
định mức độ kháng thuốc của quần thể rầy nâu.
+ Ảnh hưởng của giống lúa đến mức độ kháng thuốc của quần thể rầy nâu An Giang
sau một số thế hệ tiếp xúc với hoạt chất imidacloprid: Quần thể rầy nâu được nuôi trên 2
giống lúa TN1 và OM 6976, qua mỗi lần chọn lọc, sử dụng liều LC50 đã xác định của thế hệ
trước làm liều lượng áp lực chọn lọc cho thế hệ tiếp theo.
- Nghiên cứu biện pháp sử dụng thuốc hóa học trong quản lý tính khánh thuốc của
rầy nâu:
+ Đánh giá hiệu lực của một số thuốc theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo
nghiệm hiệu lực của các thuốc trừ rầy hại lúa (QCVN 01 - 29 : 2010/BNNPTNT).
+ Sử dụng luân phiên các thuốc trong phòng chống rầy nâu: Phun lần lượt các thuốc

các tỉnh nghiên cứu năm 2014
Tỷ lệ (%) số hộ nông dân sử dụng theo nhóm thuốc
TT
Nhóm thuốc
HY

NA
PY
AG
1 Điều hòa sinh trưởng
4,17
2,50
6,67
3,33
2 Phenylpyrazol
2,50
0,83
0,83
3 Neonicotinoid
83,33
74,17
98,34
78,33
58,97
4 Carbamate
5,83
4,17
7,50
7,50
5,83

12,50
15,00
13,14
Neonicotinoid
Organophosphate;
15
15,83
13,33
7,36
9,17
Điều hòa sinh trưởng
Neonicotinoid;
16
2,50
Pyridine azomethine
Ghi chú: HY: Hưng Yên; NĐ: Nam Định; NA: Nghệ An; PY: Phú Yên; AG: An Giang


6
Kết quả điều tra nhận thức của người sản xuất trong vệc sử dụng thuốc BVTV ở các
tỉnh Hưng Yên, Nam Định và Nghệ An cho thấy phần lớn nông dân sử dụng hỗn hợp từ 2
đến 3 loại thuốc trong một lần phun. Trong đó, tỷ lệ số hộ nông dân sử dụng hỗn hợp 2 loại
thuốc trong một lần phun tại các tỉnh Hưng Yên, Nam Định và Nghệ An lần lượt là 59,17%,
60% và 57,50%. Tỷ lệ số hộ nông dân sử dụng hỗn hợp 3 loại thuốc trong một lần phun tại
các tỉnh này lần lượt là 33,33%, 30,83% và 35,83%. Nhưng kết quả điều tra tại các tỉnh Phú
Yên, An Giang cho thấy vẫn còn nhiều nông dân sử dụng đơn lẻ 1 loại thuốc trong một lần
phun. Tỷ lệ số hộ nông dân sử dụng 1 loại thuốc trong một lần phun tại các tỉnh Phú Yên,
An Giang lần lượt là 30,83%, 45%. Tuy nhiên, nông dân tại các tỉnh Phú Yên, An Giang
vẫn chủ yếu sử dụng hỗn hợp từ 2 đến 3 loại thuốc trong một lần phun. Tỷ lệ số hộ nông
dân sử dụng hỗn hợp từ 2 đến 3 loại thuốc trong một lần phun lần lượt là 69,17% và 55%.

59,17 60,00 57,50 49,17 41,67
lần phun
3
33,33 30,83 35,83 20,00 13,33
65,00 68,33 66,67 60,00 50,83
Liều
lượng Theo khuyến cáo
thuốc trong 1 Gấp 1,5 lần khuyến cáo
26,67 25,00 23,33 27,50 29,17
lần phun
Gấp 2 lần khuyến cáo
8,33
6,67
10,00 12,50 20,00
1
5,83
7,50
12,50 11,67
8,33
Số lần phun
2
44,17 45,83 40,83 43,33 30,00
thuốc trong 1
3
50,00 46,67 46,67 45,00 57,50
vụ
4-7
0
0
0


NA
PY
AG
HY

NA
PY
AG
HY

NA
PY
AG

8,504 (5,852 - 10,749)
7,642 (5,242 - 9,638)
12,065 (7,627 - 15,598)
17,241 (11,338 - 22,216)
26,490 (16,72 - 34,23)
7,818 (4,794 - 10,099)
7,189 (4,905 - 9,019)
11,199 (6,870 - 14,658)
15,406 (9,128 - 20,428)
33,486 (19,890 - 44,596)
6,748 (4,070 - 8,853)
6,536 (4,461 - 8,205)
10,643 (6,564 - 13,940)
14,351 (8,991 - 18,581)
24,487 (16,643 - 31,083)

161,768
32,599
31,575
51,415
69,328
118,294

Ghi chú: HY: Hưng Yên; NĐ: Nam Định; NA: Nghệ An; PY: Phú Yên; AG: An Giang; RR: tỷ lệ kháng; LC50
của dòng rầy nâu mẫn cảm: 0,207 (0,097 - 0,294) mgl

3.2.1.2. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số tỉnh đối với hoạt chất
nitenpyram
Kết quả xác định mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam
Định, Nghệ An, Phú Yên và An Giang đối với hoạt chất nitenpyram cho thấy hai quần thể
rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định bắt đầu hình thành tính kháng thuốc ở mức kháng nhẹ trong
hai năm 2015 - 2016, có tỷ lệ kháng dao động trong khoảng 4,087 - 4,896. Nhưng đến năm
2017, tính kháng thuốc của hai quần thể rầy nâu này đã phát triển lên đến mức kháng thấp
đối với hoạt chất nitenpyram. Tỷ lệ kháng của hai quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định
đối với hoạt chất nitenpyram biến động trong khoảng 5,175 - 5,230.
Từ năm 2015 - 2017 các quần thể rầy nâu ở Nghệ An, Phú Yên đã có mức kháng
thấp đối với hoạt chất nitenpyram, có tỷ lệ kháng biến động trong khoảng 5,418 - 9,357.
Nhưng quần thể rầy nâu ở An Giang đã có mức kháng trung bình đối với hoạt chất
nitenpyram, có tỷ lệ kháng biến động trong khoảng 16,552 - 24,112.
Tỷ lệ kháng của các quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Phú Yên và
An Giang đối với hoạt chất nitenpyram đều có hiện tượng gia tăng qua các năm theo dõi


8
2015 - 2017. Tỷ lệ kháng của các quần thể rầy nâu này đối với hoạt chất nitenpyram gia
tăng từ năm 2015 đến năm 2017 tương ứng là 4,087 - 5,230; 4,607 - 5,175; 5,418 - 5,932;

2,563 (1,605 - 3,318)
3,721 (2,399 - 4,779)
7,829 (4,980 - 10,102)
2,115 (1,446 - 2,661)
2,316 (1,614 - 2,881)
2,713 (1,753 - 3,471)
3,996 (2,677 - 5,029)
9,013 (5,847 - 11,600)
2,474 (1,735 - 3,062)
2,448 (1,645 - 3,107)
2,806 (1,801 - 3,579)
4,426 (3,093 - 5,526)
11,412 (7,214 - 14,632)

Hệ số góc

RR

5,515 ± 1,162
5,607 ± 0,982
4,372 ± 0,834
3,125 ± 0,572
1,371 ± 0,280
5,594 ± 1,019
5,624 ± 0,903
4,433 ± 0,752
3,194 ± 0,516
1,374 ± 0,218
5,668 ± 0,762
5,454 ± 0,807

khoảng 41,499 - 46,052; 52,296 - 58,301; 82,571 - 89,461 qua các năm theo dõi 2015 –
2017 (bảng 3.10).
Bảng 3.10. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số tỉnh trồng lúa đối
với hoạt chất fenobucarb từ năm 2015 - 2017
Năm

2015

2016

Nguồn rầy

LC50 (mgl) và giới hạn tin cậy 95%

Hệ số góc

RR

HY

NA
PY
AG
HY


168,365 (108,034 - 214,719)
106,054 (66,574 - 136,705)
208,250 (134,792 - 269,612)
263,638 (176,611 - 338,542)

NA
PY
AG

199,472 (127,607 - 258,367)
253,291 (162,313 - 329,643)
373,385 (242,435 - 477,619)
171,651 (111,005 - 221,072)
122,247 (78,865 - 154,810)
187,658 (130,059 - 234,762)
236,484 (149,678 - 308,289)
386,724 (246,648 - 498,823)

0,060 ± 0,010
0,052 ± 0,008
0,032 ± 0,005
0,073 ± 0,012
0,111 ± 0,016
0,063 ± 0,012
0,053± 0,008
0,028 ± 0,006

44,111
56,013
82,571
37,959
27,034
41,499
52,296
85,521

21,626 ± 4,304
1,226
2015
NA
0,529 (0,358 - 0,669)
22,488 ± 3,837
1,426
PY
0,554 (0,354 - 0,718)
21,700 ± 3,704
1,493
AG
0,629 (0,387 - 0,823)
21,124 ± 3,043
1,694
HY
0,537 (0,326 - 0,710)
21,346 ± 3,992
1,447

0,511 (0,271 - 0,703)
21,029 ± 3,990
1,377
2016
NA
0,640 (0,416 - 0,825)
21,265 ± 3,029
1,725
PY
0,650 (0,442 - 0,825)


10
3.2.1.5. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số tỉnh đối với hoạt chất
pymetrozine
Kết quả xác định mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam
Định, Nghệ An, Phú Yên và An Giang đối với hoạt chất pymetrozine qua các năm 2015 2017 cho thấy 3 quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An đã có mức độ kháng
nhẹ đối với hoạt chất pymetrozine, có tỷ lệ kháng tương ứng biến động trong khoảng 2,762 3,435; 3,872 - 4,762; 4,139 - 4,896. Còn các quần thể rầy nâu ở Phú Yên, An Giang đã
kháng trung bình đối với hoạt chất pymetrozine, có tỷ lệ kháng tương ứng biến động trong
khoảng 11,263 - 16,321; 15,946 - 25,664. Tỷ lệ kháng của các quần thể rầy nâu này đối với
hoạt chất pymetrozine đều có xu hướng tăng nhẹ qua các năm theo dõi 2015 - 2017 (bảng
3.12).
Bảng 3.12. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số tỉnh trồng lúa đối
với hoạt chất pymetrozine từ năm 2015 - 2017
Năm
Nguồn rầy
LC50 (mgl) và giới hạn tin cậy 95%
Hệ số góc
RR
HY
57,061 (36,068 - 73,158)
0,221 ± 0,035
2,762

79,810 (46,208 - 106,038)
0,136 ± 0,025
3,872
2015
NA
85,516 (56,127 - 108,743)
0,139 ± 0,025

HY
70,976 (48,367 - 89,074)
0,187 ± 0,027
3,435

98,389 (65,329 - 125,323)
0,137 ± 0,019
4,762
2017
NA
101,165 (70,088 - 127,263)
0,136 ± 0,019
4,896
PY
337,224 (224,241 - 427,879)
0,037 ± 0,006
16,321
AG
530,270 (332,872 - 638,529)
0,022 ± 0,004
25,664
Ghi chú: HY: Hưng Yên; NĐ: Nam Định; NA: Nghệ An; PY: Phú Yên; AG: An Giang; RR: tỷ lệ kháng; LC50
của dòng rầy nâu mẫn cảm: 20,662 (10,385 - 28,864) mgl

3.2.1.6. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số tỉnh đối với hoạt chất
buprofezin
Kết quả xác định mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam
Định, Nghệ An, Phú Yên và An Giang đối với hoạt chất buprofezin qua các năm 2015 2017 cho thấy quần thể rầy nâu ở Nghệ An có mức độ kháng nhẹ đối với hoạt chất
buprofezin, tỷ lệ kháng biến động trong khoảng 4,733 - 5,321. Trong khi đó, hai quần thể
rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định có mức độ kháng thấp đối với hoạt chất buprofezin, tỷ lệ

0,056 ± 0,012
10,203
AG
224,816 (149,494 - 285,253)
0,055 ± 0,009
11,607
HY
140,532 (94,164 - 179,006)
0,092 ± 0,014
7,256

148,030 (101,209 - 186,305)
0,080 ± 0,015
7,657
2016
NA
103,058 (71,327 - 129,084)
0,138 ± 0,018
5,321
PY
221,242 (149,108 - 279,240)
0,056 ± 0,009
11,422
AG
273,367 (194,569 - 338,227)
0,055 ± 0,006
14,114
HY
133,455 (93,516 - 166,313)
0,095 ± 0,015

dinotefuran, tỷ lệ kháng biến động trong khoảng 3,686 - 4,600. Tốc độ gia tăng tính kháng
của các quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Phú Yên và An Giang đối với
hoạt chất dinotefuran chậm qua các năm theo dõi 2015 - 2017 (bảng 3.14).
Bảng 3.14. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số tỉnh trồng lúa đối
với hoạt chất dinotefuran từ năm 2015 - 2017
Năm

2015

2016

Nguồn rầy LC50 (mgl) và giới hạn tin cậy 95%
HY

NA
PY
AG
HY

NA
PY

0,659 (0,426 - 0,843)
0,587 (0,374 - 0,758)
0,602 (0,394 - 0,771)
0,654 (0,446 - 0,821)
1,032 (0,689 - 1,308)
0,674 (0,448 - 0,856)
0,644 (0,434 - 0,815)
0,630 (0,407 - 0,809)


AG
HY

NA
PY
AG

1,158 (0,807 - 1,441)
0,719 (0,491 - 0,902)
0,750 (0,520 - 0,943)
0,685 (0,480 - 0,860)
0,800 (0,560 - 1,006)
1,288 (0,892 - 1,614)

11,248 ± 1,807
18,538 ± 2,723
18,390 ± 2,489
18,513 ± 3,039
18,138 ± 2,124
11,060 ± 1,423

4,136
2,568
2,678
2,446
2,857
4,600

Ghi chú: HY: Hưng Yên; NĐ: Nam Định; NA: Nghệ An; PY: Phú Yên; AG: An Giang; RR: tỷ lệ kháng; LC50

Esterase
rầy nâu
(mOD/phút/mg protein) (mOD/phút/mg protein) (mOD/phút/mg protein)
Hưng Yên
3,60b ± 0,011
1,25a ± 0,051
4,92b ± 0,176
Nghệ An
3,57b ± 0,037
1,19b ± 0,021
3,69c ± 0,079
An Giang
5,70a ± 0,039
1,28a ± 0,036
6,75a ± 0,040
Mẫn cảm
1,67c ± 0,0087
0,77c ± 0,142
1,51d ± 0,0086
Ghi chú: Các chữ cái thường giống nhau trong phạm vi cột không có sự sai khác ở độ tin cậy p ≤ 0,05

Kết quả cho thấy có sự tương quan khá chặt chẽ giữa mức độ tăng cường hoạt tính
của các enzyme Esterase, Glutathione, Cytochrome P450 với mức độ kháng thuốc của các


13
quần thể rầy nâu đối với các hoạt chất thuốc. Các quần thể rầy nâu càng có mức độ
kháng thuốc cao thì hoạt tính của các enzyme cũng càng cao.
3.2.3. Khả năng kháng thuốc chéo của quần thể rầy nâu đã kháng hoạt chất
imidacloprid đối với một số hoạt chất phòng chống rầy nâu khác

(0,097 - 0,294)
(16,72 - 34,23)
(31,524 - 55,071)
0,473
7,829
8,107
Nitenpyram
16,552
17,139
(0,308 - 0,606)
(4,980 - 10,102)
(5,614 - 10,166)
4,522
404,542
195,835
Fenobucarb
89,461
43,307
(2,765 - 5,958)
(253,921 - 523,810)
(132,954 - 246,962)
0,371
0,629
0,554
Sulfoxaflor
1,694
1,493
(0,195 - 0,511)
(0,387 - 0,823)
(0,354 - 0,718)

dạng hình rầy nâu cánh dài và cánh ngắn
Kết quả nghiên cứu cho thấy dạng hình rầy nâu cánh dài sau khi tiếp xúc với 2 hoạt
chất nitenpyram và imidacloprid đều ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của trưởng thành cái rầy
nâu. Nhưng ảnh hưởng của hoạt chất nitenpyram đến sức đẻ trứng của trưởng thành cái rầy
nâu mạnh hơn hoạt chất imidacloprid. Sau khi tiếp xúc với hoạt chất nitenpyram và
imidacloprid, tổng số trứng đẻ của rầy nâu lần lượt là 190,13 (trứng/con cái) và 226,85


14
(trứng/con cái) khi so sánh với công thức không xử lý thuốc là 322,76 (trứng/con cái), kết
quả này có sự sai khác đáng tin cậy ở mức xác xuất P
Thí nghiệm
cái đẻ trứng (%)
Số trứng/con cái Tỷ lệ so với đối chứng (%)
b
Nitenpyram
75,56 ± 2,94
210,77c ± 9,18
52,88
Imidacloprid
76,67b ± 1,93
249,19b ± 11,00
62,52
a
a
Đối chứng
84,44 ± 1,11
398,59 ± 17,25
100,00
Chú thích: trong phạm vi cột các chữ cái khác nhau chỉ sự sai khác đáng tin cậy ở mức xác xuất P
25,48a
71,80c
28,20a
a
c
a
Đối chứng
43,16
56,84
51,84
48,16c
Chú thích: trong phạm vi cột các chữ cái khác nhau chỉ sự sai khác đáng tin cậy ở mức xác xuất P
Giang, có 1 giống lúa có phản ứng ở mức kháng vừa (OM6976); 8 giống lúa có phản ứng ở
mức nhiễm vừa (OM8017, OM7347, OM10041, OM16976, OM5451, OM8108, OM6162,
OM4900); 3 giống lúa có phản ứng ở mức nhiễm (IR50404, OM4218, IR504) và 2 giống
lúa có phản ứng ở mức nhiễm nặng (Jamie85, VĐ20). Từ kết quả trên, đề tài đã lựa chọn
giống lúa OM6976 (có mức độ kháng cao nhất trong số các giống lúa thu thập tại An Giang)
và giống lúa nhiễm TN1 sử dụng cho các nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của giống lúa
kháng rầy nâu đến mức độ kháng của quần thể rầy nâu ở An Giang đối với hoạt chất
imidacloprid.
3.3.1.2. Ảnh hƣởng của giống lúa đến mức độ kháng thuốc của quần thể rầy nâu An
Giang sau một số thế hệ không tiếp xúc với hoạt chất imidacloprid
Quần thể rầy nâu An Giang thu thập ngoài đồng ruộng và được nuôi trong phòng thí
nghiệm trên 2 giống lúa TN1và OM6976, sau 1 thế hệ xác định mức độ kháng thuốc của
quần thể rầy nâu An Giang với hoạt chất imidacloprid. Quần thể rầy nâu An Giang có mức
độ kháng cao đối với hoạt chất imidacloprid, tỷ lệ kháng thuốc (RR) là 127,98 trên giống
lúa TN1 và trên giống lúa OM6976 là 125,27.
Quần thể rầy nâu An Giang nuôi trên 2 giống lúa TN1 và OM6976 không tiếp xúc với
hoạt chất imidacloprid qua 12 thế hệ trong phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy mức độ kháng
thuốc của quần thể rầy nâu đối với hoạt chất imidacloprid giảm khi số thế hệ tăng. Trên giống
TN1, tỷ lệ kháng thuốc của rầy nâu đối với hoạt chất imidacloprid giảm nhanh từ 127,98 ở thế
hệ thứ nhất (G1) xuống 32,63 ở thế hệ thứ 12 (G12). Tỷ lệ kháng thuốc của rầy nâu đối với hoạt
chất imidacloprid giảm nhanh từ thế hệ G3 - G9 và tỷ lệ kháng thuốc giảm chậm sau 9 thế hệ.
Khi rầy nâu được nuôi liên tục trên giống lúa OM6976, tỷ lệ kháng thuốc của rầy nâu đối với
hoạt chất imidacloprid giảm nhanh hơn so với rầy nâu được nuôi trên giống lúa TN1, tỷ lệ
kháng giảm từ 125,27 ở thế hệ G1 xuống 18,96 ở thế hệ G12. Tỷ lệ kháng thuốc của rầy nâu đối
với hoạt chất imidacloprid giảm rất nhanh từ sau thế hệ G1 - G6 và giảm chậm sau 6 thế hệ
(bảng 3.23).
Bảng 3.23. Mức độ kháng thuốc của quần thể rầy nâu An Giang sau một số thế hệ
không tiếp xúc hoạt chất imidacloprid, năm 2015 - 2016
Giống lúa Thế hệ
LC50 (mgl)

G3
G6
G9
G12

25,931
11,722
6,551
4,292
3,925

14,854 - 34,088
5,483 - 16,520
3,610 - 8,899
2,396 - 5,736
1,951 - 5,370

125,27
56,63
31,65
20,73
18,96

Ghi chú: LC50 của dòng rầy nâu mẫn cảm: 0,207 (0,097 - 0,294); G: thế hệ

3.3.1.3. Ảnh hƣởng của giống lúa đến mức độ kháng thuốc của quần thể rầy nâu An
Giang sau một số thế hệ tiếp xúc với hoạt chất imidacloprid
Quần thể rầy nâu An Giang nuôi trên 2 giống lúa TN1 và OM6976 trong phòng thí
nghiệm và được tạo áp lực chọn lọc tiếp xúc với hoạt chất imidacloprid qua các thế hệ đã làm
gia tăng mức độ kháng thuốc của rầy nâu đối với hoạt chất này. Rầy nâu nuôi trên giống TN1,

của các thuốc đều tăng lên. Các thuốc có hiệu lực cao đối với ấu trùng tuổi 1 - 2 của rầy nâu là
thuốc Oshin 20WP, Elsin 10EC, Closer 50WG đạt hiệu lực 91,16 - 94,67%. Các thuốc Applaud
10WP, Bassa 50EC, Chess 50WG có hiệu lực thấp hơn đạt 79,77 - 83,66%. Còn thuốc Admire
50 EC có hiệu lực thấp nhất đối với ấu trùng tuổi 1 - 2 của rầy nâu chỉ đạt 67,22%.
- Hiệu lực của một số thuốc đối với ấu trùng tuổi 3 - 4 của rầy nâu
Sau 72 giờ xử lý, hiệu lực của các thuốc này đối với ấu trùng tuổi 3 - 4 của rầy nâu đều
tăng lên so với 24 giờ đầu xử lý thuốc. Trong đó, hiệu lực của thuốc Applaud 10WP tăng
mạnh nhất từ 13,62% lên đến 79,39%, hiệu lực của thuốc Bassa 50EC tăng chậm nhất từ
72,27% lên đến 78,78% (Bassa 50EC có hiệu lực cao nhất trong số các thuốc sau 24 giờ xử lý).
Các thuốc Bassa 50EC, Applaud 10WP, Chess 50WG, Closer 50WG, Elsin 10EC, Oshin 20WP
có hiệu lực khá cao đối với ấu trùng tuổi 3 - 4 của rầy nâu đạt 77,60 - 85,45% (thuốc Oshin
20WP có hiệu lực cao nhất đạt 85,42%). Còn thuốc Admire 50EC có hiệu lực thấp nhất đối với ấu
trùng tuổi 3 - 4 của rầy nâu đạt 65,12%.
- Hiệu lực của một số thuốc đối với rầy nâu trưởng thành
Rầy nâu cũng như các loài côn trùng khác, khi rầy nâu càng lớn thì mức độ mẫn cảm
của rầy nâu đối với thuốc càng giảm nên hiệu lực của thuốc đối với rầy nâu trưởng thành
thấp hơn so với hiệu lực của thuốc đối với pha ấu trùng của rầy nâu. Sau 72 giờ xử lý, hiệu
lực các thuốc Oshin 20WP, Closer 50WG, Elsin 10EC, Chess 50WG, Bassa 50EC đối với rầy
nâu trưởng thành đạt 60,35 - 66,85% Các thuốc Applaud 10WP và Admire 50EC có hiệu lực thấp
đối với rầy nâu trưởng thành, lần lượt đạt 28,59% và 47,39%. Thuốc Applaud 10WP có hiệu lực
thấp nhất đối với rầy nâu trưởng thành so với các thuốc thí nghiệm khác ngay sau 24 giờ xử lý
thuốc
* Hiệu lực ở ngoài đồng ruộng của một số thuốc sử dụng phổ biến trong sản xuất đối
với rầy nâu
Kết quả cho thấy trong 7 loại thuốc đã được lựa chọn để đánh giá hiệu lực của thuốc
với rầy nâu ngoài đồng ruộng, thuốc Oshin 20WP có hiệu lực đối với rầy nâu cao nhất, đạt
80,15% sau 5 ngày xử lý. Các thuốc Closer 50WG, Elsin 10EC có hiệu lực đối với rầy nâu
thấp hơn thuốc Oshin 20WP, hiệu lực của thuốc Closer 50WG, Elsin 10EC đạt lần lượt là
76,82% và 77,72%. Các thuốc này có hiệu lực cao đối với rầy nâu ngay từ ngày thứ nhất xử
lý và hiệu lực đạt cao nhất sau 5 ngày xử lý thuốc.

Admire 50 EC
0,4
17,34
25,45
55,58
52,62d
2
Applaud 10WP
1,0
16,16 e
45,02b
60,33e
62,07b
3
Bassa 50EC
1,0
40,62b
66,98a
64,63d
56,97c
4
Chess 50WG
0,3
24,91c
44,99b
68,95c
70,32a
5
Closer 50WG
0,2

Oshin 20WP, Closer 50WG có hiệu lực cao đối với rầy nâu (đạt 76,82 - 80,15% ở ngoài đồng
ruộng). Kết quả này là cơ sở để đưa ra những khuyến cáo trong sản xuất về sử dụng thuốc hợp lý
nhằm tăng hiệu quả kinh tế và giảm khả năng hình thành và phát triển tính kháng thuốc của rầy nâu
hại lúa.
3.3.2.2. Hiệu quả luân phiên các thuốc trong phòng chống rầy nâu
Đánh giá sự luân phiên các thuốc đến sự thay đổi giá trị LC50 của thuốc Admire 50EC
đối với quần thể rầy nâu trong phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy ở các công thức 1, 2 và
3, giá trị LC50 của thuốc Admire 50EC với quần thể rầy nâu sau khi luân phiên thuốc đã gia
tăng so với giá trị LC50 của thuốc Admire 50EC ban đầu. Ở công thức 1 (imidacloprid imidacloprid - imidacloprid), khi trong công thức luân phiên chỉ sử dụng thuốc Admire
50EC để phun thì giá trị LC50 của thuốc Admire 50EC đối với quần thể rầy nâu gia tăng
mạnh nhất từ 15,293 lên 16,143 (mg/l). Giá trị LC50 của thuốc Admire 50EC đối với quần
thể rầy nâu ở công thức 2 (imidacloprid - sulfoxaflor - imidacloprid) tăng từ 15,293 lên
15,859 (mg/l), khi trong công thức thí nghiệm sử dụng thuốc Admire 50EC nhắc lại 2 lần.
Còn giá trị LC50 của thuốc Admire 50EC đối với quần thể rầy nâu ở công thức 3
(dinotefuran - imidacloprid - sulfoxaflor) gia tăng nhẹ từ 15,293 lên 15,397 (mg/l), khi trong
công thức luân phiên sử dụng thuốc Admire 50EC chỉ nhắc lại 1 lần (bảng 3.28).


20
Bảng 3.28. Hiệu quả luân phiên thuốc đến sự thay đổi giá trị LC50 của thuốc Admire
50EC đối với quần thể rầy nâu, năm 2017
LC50 (mg/l) sau phun luân
CT
Tên thuốc
Hoạt chất
phiên 3 lần
Admire 50EC
Imidacloprid
16,143
1

Chess 500WP
Pymetrozine
Elsin 10EC
Nitenpyram
9,302
5
Applaud 10WP
Buprofezin
(6,695 - 11,444)
Closer 500WG
Sulfoxaflor
Applaud 10WP
Buprofezin
9,119
6
Oshin 20WP
Dinotefuran
(6,412 - 11,291)
Closer 500WG
Sulfoxaflor
8,107
7
Nước
Nước
(5,614 - 10,166)
Ghi chú: LC50 (mg/l) và giới hạn tin cậy 95% trước khi phun: 15,293 (9,975 - 19,555) mgl

Khi trong các công thức luân phiên không sử dụng thuốc Admire 50EC, giá trị LC50
của thuốc Admire 50EC đối với quần thể rầy nâu sau khi phun luân phiên thuốc đều giảm so
với giá trị LC50 của thuốc Admire 50EC ban đầu. Giá trị LC50 của thuốc Admire 50EC đối

LC50 đối với bọ xít mù xanh (mgl)
LC50 đối với rầy nâu (mgl)
Tên thuốc
24 giờ
48 giờ
24 giờ
48 giờ
0,300
0,171
18,775
15,667
Admire 50EC
(0,205 - 0,381)
(0,119 - 0,214)
(13,238 - 23,499)
(10,636 - 19,757)
3,345
1,894
88,774
51,337
Chess 50WP
(2,271 - 4,256)
(1,276 - 2,396)
(62,189 - 110,241)
(34,366 - 64,896)
5,293
3,345
4,800
2,679
Closer 500WG

10,574
154,587
115,861
Applaud 10WP
(8,029 - 15,844) (7,229 - 13,308) (106,990 - 193,626) (69,273 - 150,344)
Ghi chú: Các giá trị trong ngoặc là giá trị giới hạn tin cậy 95%

3.3.3.2. Chỉ số độc của một số thuốc sử dụng phòng chống rầy nâu đối với bọ xít mù
xanh
Trong 7 thuốc sử dụng để phòng chống rầy nâu, các thuốc Closer 500WG, Elsin
10EC, Oshin 20WP ít độc đối với bọ xít mù xanh hơn đối với rầy nâu với chỉ số lựa chọn >
1. Còn các thuốc Admire 50EC, Chess 50WP, Bassa 50EC, Applaud 10WP độc đối với bọ
xít mù xanh hơn đối với rầy nâu với tỷ lệ lựa chọn < 1 (bảng 3.31).
Tuy nhiên, khi sử dụng thuốc ở liều khuyến cáo ngoài đồng ruộng, các thuốc Chess
50WP, Closer 500WG, Elsin 10EC, Oshin 20WP, Applaud 10WP là khá an toàn đối với bọ
xít mù xanh (chỉ số độc < 50). Mặc dù, các thuốc Chess 50WP, Applaud 10WP độc đối với
bọ xít mù xanh hơn đối với rầy nâu (tỷ lệ lựa chọn < 1).
Kết quả đánh giá độ độc của một số thuốc đến bọ xít mù xanh cho thấy các thuốc
Chess 50WP, Closer 500WG, Elsin 10EC, Oshin 20WP và Applaud 10WP sử dụng để
phòng chống rầy nâu ở liều khuyến cáo khá an toàn đối với bọ xít mù xanh. Các thuốc


22
Bassa 50EC và Admire 50EC sử dụng ở liều khuyến cáo ngoài đồng ruộng không an toàn
đối với bọ xít mù xanh.
Bảng 3.31. Chỉ số lựa chọn một số thuốc sử dụng phòng chống rầy nâu ít độc đối với bọ
xít mù xanh sau 24 giờ xử lý, năm 2017
TT

Tên thuốc


Closer 500WG

Sulfoxaflor

100

1,103

4

Elsin 10EC

Nitenpyram

180

1,239

5

Bassa 50EC

Fenobucarb

500

0,001

6

* Biện pháp sinh học
Không sử dụng thuốc hóa học khi chưa cần thiết, trên bờ ruộng lúa nên trồng cây hoa
có mật để thu hút, bảo vệ kẻ thù tự nhiên như: bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis),
nhện sói vân đinh ba (Lycosa pseudoannulata), nhện linh miêu (Oxyopes javanus),...
* Biện pháp hóa học
- Thời điểm phòng trừ: Giai đoạn trước trỗ, nếu mật độ rầy đạt ngưỡng 1.000 (con/m2
) trở lên và giai đoạn sau trỗ mật độ rầy đạt ngưỡng 2.000 con/m2 trở lên thì sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật để phòng chống. Ngưỡng mật độ này được áp dụng trong phòng chống khi
rầy cám phổ biến (ấu trùng tuổi 1- 3 của rầy nâu).
- Loại thuốc sử dụng: Ưu tiên sử dụng các thuốc rầy nâu chưa biểu hiện tính kháng.
Những thuốc hóa học mà rầy nâu đã biểu hiện tính kháng phải luân phiên với thuốc khác
nhóm theo các công thức luân phiên sau:
Sulfoxaflor - Dinotefuran - Pymetrozine
Buprofezin - Dinotefuran - Sulfoxaflor
Nitenpyram - Buprofezin - Sulfoxaflor


23
Mỗi loại thuốc chỉ nên sử dụng 01 lần/01 vụ và tối đa không quá 3 vụ liên tục, sau đó
phải chuyển sang sử dụng loại thuốc khác.
- Liều lượng, nồng độ: Theo hướng dẫn của nhà sản xuất, phun đủ lượng nước thuốc
quy định (400 - 600 lít/ha).
- Kỹ thuật phun thuốc: Khi lúa tốt, trước khi phun rẽ lúa tạo các băng để có thể phun
sát phần gốc của cây lúa nơi rầy cư trú và dâng nước cao 3 - 5cm để tăng hiệu quả phòng
chống (nếu chủ động được nước). Sử dụng các loại bình bơm đạt tiêu chuẩn. Sau phun
thuốc 3 - 7 ngày cần kiểm tra ruộng nếu mật độ rầy vẫn còn tăng lên cao thì phải phun lại
mới đạt yêu cầu.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status