điều tra hiện trạng sử dụng thuốc và đánh giá tính kháng thuốc của quần thể rầy nâu hưng yên (nilaparvata lugens stal) - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

BÙI THANH HƯƠNG

ðIỀU TRA HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC VÀ ðÁNH GIÁ
TÍNH KHÁNG THUỐC CỦA QUẦN THỂ RẦY NÂU HƯNG
YÊN (NILAPARVATA LUGENS STAL)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

BÙI THANH HƯƠNG

ðIỀU TRA HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC VÀ ðÁNH GIÁ
TÍNH KHÁNG THUỐC CỦA QUẦN THỂ RẦY NÂU HƯNG
YÊN (NILAPARVATA LUGENS STAL)

CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ: 60.62.01.12

LỜI CẢM ƠN
ðể hoàn thành ñề tài tốt nghiệp ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi ñã nhận
ñược rất nhiều sự quan tâm giúp ñỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người thân.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Hồ Thị Thu
Giang, Trưởng Bộ môn Côn Trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông Nghiệp Việt
Nam ñã tận tình hướng dẫn và giúp ñỡ tôi trong quá trình thực hiện ñề tài và
hoàn thành bản luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Côn Trùng ñã
tạo ñiều kiện, góp ý, chỉ bảo và giúp ñỡ tôi trong quá trình thực hiện ñề tài.
Tôi xin cảm ơn sự phối hợp và giúp ñỡ của các công ty sản xuất kinh
doanh thuốc BVTV, các ñại lý thuốc BVTV, các Trạm BVTV, Chi cục BVTV
Hưng Yên ñể tôi hoàn thành ñược ñề tài này.
Bên cạnh ñó tôi xin gửi lời cám ơn tới tất cả người thân, bạn bè và những
người luôn bên cạnh ñộng viên giúp ñỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện
luận văn này.
Hà Nội, ngày

tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Bùi Thanh Hương

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page iii


MỤC LỤC


Tính cấp thiết của ñề tài

1

2

Mục ñích và yêu cầu của ñề tài

2

3

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài

3

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU

4

1.1 Cơ sở khoa học của ñề tài

4

1.1.1 Tính kháng của côn trùng

4

1.1.2 Cơ chế kháng thuốc của rầy nâu


1.2.7 Tính kháng với các nhóm thuốc khác

17

1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước

20

1.3.1 Sự gây hại của rầy nâu

20

1.3.2 Sử dụng thuốc

20

1.3.3 Nghiên cứu tính kháng thuốc của rầy

23

CHƯƠNG 2NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

28

2.1 ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu

28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp



2.4 Phương pháp nghiên cứu

31

2.4.1 Phương pháp ñiều tra tình hình sử dụng thuốc

31

2.4.2 ðánh giá tính kháng ñối với một số nhóm hoạt chất của quần thể
rầy nâu

31

2.4.3 Xác ñịnh ảnh hưởng của một số hoạt chất thuốc trừ sâu ñến một số
ñặc ñiểm sinh vật học của rầy nâu sau khi tiếp xúc với thuốc.

36

2.5 Phương pháp tính toán

37

CHƯƠNG 3KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

39

3.1 Hiện trạng sử dụng thuốc

39


60

3.3 Ảnh hưởng của một số hoạt chất thuốc trừ sâu ñến một số ñặc ñiểm sinh
vật học của rầy sau khi tiếp xúc với thuốc

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

62

Page v


3.3.1 Ảnh hưởng của một số hoạt chất ñến sức sinh sản, tỷ lệ sống sót
của quần thể rầy nâu Hưng Yên

63

3.3.2 Ảnh hưởng của một số hoạt chất ñến tỷ lệ giới tính, loại hình cánh
của quần thể rầy nâu Hưng Yên

64

KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ

65

4.1 Kết luận

65

1,4-dithiothreitol

EDTA

Editic acid

FAO

Food and agriculture organization of the United nationals

IRRI

International rice research institute

LC50

Lethal concentration 50

LC95

Lethal concentration 95

LD50

Lethal doses 50

NADPH

β-Nicotinamide adenine dinucleotide phosphate


Page vii


DANH MỤC BẢNG

STT
1.1

Tên bảng

Trang

Số lượng tên thương phẩm của một số nhóm hoạt chất chính trừ
rầy nâu hại lúa

3.1

21

Ý kiến của các Công ty thuốc về mức ñộ tác hại của rầy và cung
ứng thuốc trừ rầy

40

3.2

Ý kiến của các công ty thuốc về các ñại lý thuốc BVTV

42



48

Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu thu thập thông tin từ các ñại lý tại
Hưng Yên (tiếp)

49

3.7

Số lần phun thuốc trừ rầy nâu trong một vụ lúa tại Hưng Yên

51

3.8

Tình hình kháng thuốc của rầy nâu tại Hưng Yên

52

3.9

Chỉ ñạo phòng trừ và khắc phục kháng thuốc tại tỉnh Hưng Yên

54

3.10

Mức ñộ kháng của quần thể rầy nâu Hưng Yên ñối với một số hoạt chất


64

Page viii


DANH MỤC HÌNH

STT
1.1

Tên hình

Trang

Lượng thuốc thành phẩm nhập khẩu trong 3 năm (2012-2014) của
một số hoạt chất trừ rầy

22

2.1

Hoạt chất thuốc BVTV sử dụng ñánh giá tính kháng

29

2.2

Lồng lưới và lồng mica nhân nuôi quần thể rầy nâu tại Hưng Yên

29


2.8

Dung dịch Acetone

33

2.9

Thuốc ñã pha ra các nồng ñộ

33

2.10

Chuẩn bị mạ

34

2.11

Theo dõi rầy sau thử thuốc

34

2.12

Phương pháp nhúng thân

35


2.18

Thí nghiệm nuôi sinh học

37

3.1

Tỷ lệ (%) thuốc thương phẩm của các công ty cung ứng năm 2013

44

3.2

Giá trị Ri của quần thể rầy nâu Hưng Yên ñối một số hoạt chất

58

3.3

Giá trị mật ñộ quang OD của quần thể rầy nâu Hưng Yên và rầy
nâu mẫn cảm

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

62

Page ix



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 1


hóa học trong kiểm soát rầy nâu ñược xác ñịnh nguyên nhân do một số quần thể
rầy nâu ñã xuất hiện tính kháng thuốc.
Tại Việt Nam theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Me và cs. (2001), Lê Thị
Kim Oanh và cs. (2011) cho thấy một số loại thuốc hóa học ñang ñược sử dụng
phổ biến ñể trừ nhóm rầy nói chung và rầy nâu nói riêng ở một số tỉnh phía Bắc
ñang dần kém hiệu lực do các quần thể rầy nâu ñã bắt ñầu có dấu hiệu suy giảm
tính mẫn cảm ñối với thuốc hóa học. Một trong các tỉnh ñã xảy ra hiện tượng
kháng thuốc của rầy nâu ở phía Bắc ñó là Hưng Yên. Hưng Yên là một tỉnh có
diện tích trồng lúa ñược giữ ổn ñịnh khoảng 81 nghìn ha/năm, trong ñó diện tích
lúa chất lượng cao ñạt trên 57%, diện tích lúa lai chiếm trên 15% tổng diện tích
gieo cấy. Toàn tỉnh ñã xây dựng ñược 56 cánh ñồng chuyên canh sản xuất lúa
hàng hóa với tổng diện tích là 1.646 ha. Do vậy, việc quản lý tốt tính kháng thuốc
của rầy nâu hiện nay tại Hưng Yên là biện pháp cần thiết ñể duy trì ñược hiệu
quả phòng trừ bằng biện pháp hóa học trong tương lai.
ðể có những thông tin về cung ứng, kinh doanh thuốc BVTV của một số
công ty ñồng thời có thêm dẫn liệu khoa học cụ thể về tính kháng thuốc của rầy
nâu ñối với một số nhóm thuốc hóa học ñang dùng phổ biến hiện nay, nhằm giúp
cho việc quản lý phòng trừ rầy nâu có hiệu quả hơn chúng tôi ñã thực hiện ñề tài:
“ðiều tra hiện trạng sử dụng thuốc và ñánh giá tính kháng thuốc của quần
thể rầy nâu Hưng Yên (Nilaparvata lugens Stal)”.
2. Mục ñích và yêu cầu của ñề tài
2.1. Mục ñích.
ðiều tra tình hình sử dụng thuốc trừ rầy thông qua một số công ty kinh
doanh thuốc BVTV, các ñại lý, các trạm BVTV, Chi cục BVTV ñể nắm ñược

trọng trong quá trình chỉ ñạo sản xuất: lựa chọn và khuyến cáo việc sử dụng các
hoạt chất chưa xuất hiện tính kháng ñể trừ rầy nâu trên lúa tại Hưng Yên một
cách hiệu quả, hợp lý. Mặt khác, kết quả cũng góp phần ñảm bảo sự ổn ñịnh và
bền vững trong quá trình sản xuất lúa gạo, ñảm bảo an ninh lương thực quốc gia
và an sinh của toàn xã hội.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của ñề tài
1.1.1 Tính kháng của côn trùng
Theo ñịnh nghĩa của WHO (1976): kháng thuốc là sự suy giảm tính mẫn
cảm của 1 quần thể ñộng thực vật với một loại thuốc BVTV, sau một thời gian
dài ( trong quá trình sản xuất, bảo quản), quần thể này liên tục tiếp xúc với thuốc
ñó, khiến cho loài sinh vật ấy chịu ñược lượng thuốc lớn có thể tiêu diệt ñược
hầu hết các cá thể cùng loài chưa chống thuốc. Khả năng này của dịch hại có thể
di truyền qua ñời sau, dù các cá thể ñời sau có hay không tiếp xúc với thuốc (dẫn
theo Nguyễn Trần Oánh, 2012).
Hiện tượng kháng thuốc ở côn trùng ñược ghi nhận từ năm 1887 và ñược
mô tả lần ñầu vào năm 1914 ñối với rệp sáp vảy Quadraspidiotus perniciosus
Comst. kháng lưu huỳnh vôi. Trong khoảng thời gian 1914-1946 có 11 trường
hợp ñược phát hiện là côn trùng ñã kháng các thuốc trừ sâu vô cơ. Tính kháng
thuốc của dịch hại gây trở ngại cho việc dùng thuốc BVTV và gây tâm lý nghi
ngờ hiệu quả của các loại thuốc ñược dùng. Các thuốc trừ dịch hại mới ra ñời ñã
không kịp thay thế cho các thuốc ñã bị dịch hại hình thành tính kháng (dẫn theo
Nguyễn Trần Oánh, 2012).

hóa chất bị phân giải chia ra làm các cơ chế:
Cơ chế kháng sinh hoá: ðây là cơ chế kháng thuốc cơ bản, thông dụng và
phổ biến nhất. Các cá thể kháng thuốc theo cơ chế này có khả năng giải ñộc.
Bằng cách phân giải các thuốc trừ sâu trước khi ñến ñược vị trí tác ñộng dưới tác
ñộng của một hay nhiều men (enzym), nhanh hơn các cá thể mẫn cảm, nên hiệu
lực của thuốc bị mất hay giảm ñi một phần. Trong một số trường hợp, tính kháng
ñột biến cao bất thường là do sự sản sinh quá mức các chất giải ñộc.
Cơ chế kháng sinh lý: Là sự thay ñổi một hay nhiều chức năng sinh lý ñể
làm giảm ñộ ñộc của thuốc BVTV và tính kháng thuốc ñược hình thành. Các cá
thể kháng thuốc không phân giải thuốc BVTV thành các chất ít ñộc hơn, mà ñiều
chỉnh tác ñộng của thuốc bằng thay ñổi các chức năng sinh lý.
ðối với rầy nâu, một số nghiên cứu tại các nước trồng lúa ở ðông Nam Á
ñã ghi nhận hiện tượng ngay sau khi phun thuốc hóa học ñã làm cho mật ñộ quần
thể của rầy nâu giảm ñi rõ rệt, nhưng chỉ sau một thời gian rất ngắn, rầy nâu lại
phát sinh một ñợt mới với mật ñộ cao hơn và gây hại nghiêm trọng hơn ñợt rầy
nâu trước. ðây là hiện tượng tái phát quần thể của rầy nâu. Hiện tượng tái phát

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5


quần thể của rầy nâu ñã ñược ghi nhận ở Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế từ năm
1968. Thuốc decis và wofatox có khả năng gây tái phát quần thể rầy nâu rất
mạnh. Hệ số tái phát quần thể của rầy nâu ở nơi phun thuốc decis và wofatox
tương ứng là 16,4 và 6,0 (Heinrichs, 1979).
Phòng chống nhóm rầy hại lúa, ñặc biệt rầy nâu phụ thuộc nhiều vào việc
sử dụng thuốc hóa học. Hậu quả, rầy ñã phát triển tính kháng với nhiều loại thuốc
hóa học bao gồm lân hữu cơ, carbamate, pyrethroid và neonicotinoid. Tính kháng
thuốc của rầy ñã ñược xác ñịnh chủ yếu liên quan ñến tính kháng trao ñổi chất

ở một số nước nhiệt ñới khu vực Châu Á. Theo báo cáo của các nước Ấn ðộ,
Indonesia, Philppines và SriLanka… thì rầy nâu là loại côn trùng gây hại trên
diện rộng và có sự di trú không ổn ñịnh ở nhiều quốc gia. Rầy nâu và rầy lưng
trắng ñang là loại côn trùng gây hại lớn nhất trên ruộng lúa ở Châu Á hiện nay,
trước hết bởi vì sự phá hoại không thể báo trước, sự gây hại rất lớn và một cách
ñột ngột (Dyck and Thomas, 1979).
Catindig et al. (2009), nghiên cứu về diện tích nhiễm rầy nâu của một số
quốc gia có diện tích trồng lúa lớn khu vực Châu Á từ năm 1998 - 2007 cho thấy
diện tích lúa bị nhiễm rầy ngày càng tăng, ñặc biệt như các nước Trung Quốc,
Thái Lan và Việt Nam. Tại Trung Quốc, rầy nâu ñã gây hại rất lớn làm mất 9,4
triệu ha năm 2006 và 8,7 triệu ha năm 2007. Trong khi ñó tại Việt Nam thiệt hại
năm 2006 là 348,927ha và năm 2007 là 572,419ha.
1.2.2 Sử dụng thuốc BVTV
ðể ngăn chặn những thiệt hại do rầy nâu gây ra, hầu hết nông dân các
quốc gia trồng lúa phải dựa vào thuốc hóa học và việc sử dụng thuốc hóa học ñã
trở lên phổ biến và là biện pháp quan trọng trong việc phòng trừ loại rầy này.
Nghiên cứu của Viện lúa quốc tế IRRI cho thấy lượng thuốc sử dụng của
các loại thuốc trừ sâu chính cũng ñã giảm từ 3,79kg ai/ha năm 1993 xuống
0,16kg ai/ ha năm 2006 (giảm 95,8%). Số lượng hoạt chất sử dụng là 13 hoạt
chất, trong ñó 11 hoạt chất là nhóm 2 (theo phân loại của WHO), 01 nhóm 3 và
01 nhóm 4. Carbofuran ñược sử dụng nhiều nhất chiếm 60%, sau ñó ñến
chlorpyrifos là 7% và fipronil là 4%. Hai hoạt chất fenobucarb và carbamate
ñược sử dụng ñể phòng trừ rầy lượng thuốc sử dụng cũng giảm từ 0,47kg ai/ha
năm 1993 xuống 0,03kg ai/ha. Các hoạt chất khác cũng ñược sử dụng trên ñồng
ruộng

từ

năm


cải cách các phương pháp khác nhau xác ñịnh tính kháng các hoạt chất. Heinrichs et
al. (1981); Kilin et al. (1981);Hirai (1993;, Ping et al. (2001); Nagata et al.
(2002);Matsumura et al.(2008) và Heong et al. (2011) …cũng ñã ñánh giá tính
kháng của rầy nâu bằng phương pháp nhỏ giọt ñối với một số hoạt chất.
Trong khi ñó Wang et al. (2008b);Liu et al. (2010) và Shao et al. (2011)
ñã sử dụng phương pháp nhúng thân (dipping method) ñể xác ñịnh tính mẫn cảm
của quần thể rầy nâu.
1.2.4 Tính kháng với nhóm neonicotinoid
Ping et al. (2001), xác ñịnh sự mẫn cảm của rầy nâu thu thập từ Trung
Quốc và Nhật Bản năm 1997. Kết quả cho thấy LD50 của rầy nâu là 0,0270,062µg/g ñối với nitenpyram, 0,083-0,14mg/g ñối với imidacloprid, 0,58-0,88
µg/g ñối với silafluofen và 0,78-1,2µg/g ñối với ethofenproxin, ngược lại là 67130 µg/g ñối với malathion, 51-93µg/g ñối với fenitrothion và 57-94µg/g ñối với
DDT. Mặc dù vậy, LD50 của chlornicotinyl và pyrethroid là nhỏ hơn rất nhiều so
với organophosphate và organochloride. Tính mẫn cảm của organophosphate
vàcarbamate ñối với quần thể rầy nâu là không có sự khác biệt trong các năm từ
1992 ñến 1997.
Liu et al. (2002), (dẫn theo Krishbaiahet al., 2006) khi nghiên cứu về tính

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 8


kháng neonicotinoid của rầy nâu ở 3 vùng của Trung Quốc là Guilin, Anquing và
Dongtai. Kết quả cho thấy tính kháng neonicotinoid ñã phát triển ở mức thấp.
Tuy nhiên, quần thể rầy ở Anquing và Dongtai kháng cao hơn một mức so với
quần thể rầy ở Guilin.
Nagata et al. (2002), ñã ñánh giá mức ñộ mẫn cảm của rầy nâu ở Nhật
Bản, Trung Quốc (3 ñịa ñiểm) và Malaysia trên 10 loại thuốc trừ sâu trong năm
2000. LD50 của quẩn thể rầy nâu từ Nhật Bản tương tự như hai quần thể rầy nâu ở
Trung Quốc, nhưng một quần thể còn lại từ Trung Quốc giá trị LD50 imidacloprid

trong năm 2005 và 2006 ñã báo cáo. Kết quả cho thấy 12 mẫu thu năm 2005, chỉ
có 2 mẫu thu thập muộn từ Ấn ðộ ñã tăng tỷ lệ sống sót, trong khi các mẫu còn
lại vẫn duy trì ñược tính mẫn cảm ñối với imidacloprid. Nhưng ñến năm 2006, tất
cả 13 mẫu thu ñược ñã tăng tỷ lệ sống lên ñến 100 lần so với dòng mẫn cảm
chuẩn. ðiều này cho thấy sự hình thành và phát triển tính kháng imidacloprid của
rầy nâu có khả năng tăng lên trong 1 thời gian rất ngắn.
Wang et al. (2008a), cũng ñã chỉ rarằng sự biến ñổiñáng kể tính mẫn cảm
của các thuốc trừ sâukhác nhau ñối với rầy nâu. Quần thể rầy trên ñồng ruộng ñã
phát triển tính kháng ñối với neonicotinoid,mức kháng cao là imidacloprid (tỷ lệ
kháng: 135,3-301,3lần), mức kháng trung bình làimidaclothiz(tỷ lệ kháng: 3541,2lần), mứckhángthấp là thiamethoxam(9,9lần) và không kháng là dinotefuran,
nitenpyramvàthiacloprid(tỷ lệ kháng
trên

ñã

phát

triển

mạnh

trong

vài

năm

gần

ñây.

Imidaclopridvàdinotefurangiảmsức sinh sảncủa rầy nâu là 68,8% và52,4% (cánh
dài), 57,9% và43,1% (cánh ngắn). Ngược lại, triazophosvàfenvalerate lại làm
tăngkhả năng sinh sản của rầy.
Khi nghiên cứu về 2 quần thể rầy nâu ñược thu thập từ Delhi và Palla của Ấn
ðộ thì sự mẫn cảm khác nhau của 2 quần thể rầy nâu trên là 1,50 lần ñối với
imidacloprid, 1,75 lần ñối với acetamiprid, 1,47 lần ñối với thiamethoxam, 0,45 lần
ñối với fipronil, 1 lần ñối với flubendiamide và endosulfan (Srivastava et al., 2009).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


kháng cao nhất là quần thể rầy nâu ở Tongzhou (Jiangsu) (799 lần) và thấp nhất
là ở Nanning (Guangxi) (200 lần). Tuy nhiên, mức ñộ kháng giảm xuống còn
135-233 lần trong năm 2007, sau khi giảm sử dụng các thuốc hóa học. Trong

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


phòng thí nghiệm, sau khi nhân nuôi 23 thế hệ, tỷ lệ kháng của rầy nâu ñã tăng từ
200 ñến 1.298 lần. Các thí nghiệm cũng ñã chỉ ra rằng: chủng kháng với
imidacloprid kháng chéo với imidaclothiz (t = 2,96, d.f. = 1, P0,05),
buprofezin (t = 0,6, d.f. = 1, P>0,05) và fipronil (t = 0, d.f. =1, P>0,05).
Catindig et al. (2009), ở Thái Lan, có xảy ra hiện tượng kháng khả năng
kháng fenobucarb là 3-5,6 lần và imidacloprid là 3-4,1 lần khi ñược thí nghiệm
vào năm 2002 và 2006.
Theo Matsumura and Morimura (2010), từ năm 2005, sự bùng phát của
rầy lúa ñã xảy ra ở các nước ðông Á như Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản.
Sự bùng phát này có liên quan chặt chẽ với sự phát triển tính kháng thuốc trừ sâu
ở các nước này. Kết quả nghiên cứu sự mẫn cảm của rầy nâu ñược thu thập từ
Nhật Bản, Trung Quốc, ðài Loan, Việt Nam và Philippin trong năm 2006 cho
thấy: Giá trị LD50của imidacloprid trong các chủng rầy nâu từ ðông Á (Nhật
Bản, Trung Quốc và ðài Loan) và Việt Nam ñã cao hơn so với quần thể rầy ở
Philippin và cho thấy khả năng kháng imidacloprid ñã phát triển ñối với rầy nâu
ở ðông Á. Tình trạng kháng thuốc trừ sâu của rầy nâu ñang ngày càng trở lên
nguy hiểm ñối với các nước trồng lúa như Nhật Bản, Trung Quốc, ðài Loan,
Philippin và Malaysia.

Tính kháng thuốc rầy nâu cũng như cơ chế kháng thuốc của chúng ñã ñược
trung tâm thí nghiệm Kyushu, Nhật Bản nghiên cứu. Theo ñó tính mẫn cảm của rầy
nâu ñối với malathion và metolcard ñã giảm từ 1/39 và 1/25 của mức ban ñầu sau 45
lựa chọn, tương ứng. Trong khi ñó metolcarb giảm xuống 1/2,5 và 1/4,2 (Endo et
al., 1988)
Mức ñộ mẫn cảm của quần thể rầy nâu ở Ono và Hyogo (Nhật Bản) trong
vòng 8 năm (1980-1987) cũng ñã ñược báo cáo bởi Hirai (1993). Kết quả cho
thấy rầy nâu thu thập năm 1984 và 1985 có giá trị LD50 lớn nhất ñối với cả hai
nhóm

carbamate

(BPMC,

MTMC,

MIPC,

carbaryl,

carbosulfan)



organophosphate (diazinon, malathion, propaphos).
Cũng theo Endo and Tsurumachi (2001), khi nghiên cứu về tính mẫn cảm
của rầy nâu ñược thu thập từ Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam thì giá
trị LD50 của malathion ñối với quần thể rầy nâu Nhật Bản tương tự như quần thể
rầy nâu ở phía Bắc Việt Nam khoảng 24-3,9µg/g. Nhưng giá trị LD50 của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

rầy nâu. Từ năm 1980, sự mẫn cảm của quần thể rầy nâu ñối với methamidophos
giảm dần(tỷ lệ kháng là > 10 lần).
Quần thể rầy nâu thu thập từ Ấn ðộ có mức ñộ mẫn cảm 1,32 lần ñối với

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status