HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
“ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TRỪ RẦY
CỦA NÔNG DÂN TẠI NGHỆ AN. ĐÁNH GIÁ TÍNH
KHÁNG THUỐC CỦA QUẦN THỂ RẦY NÂU
(NILAPARVATA LUGENS STAL) Ở NGHỆ AN ĐỐI VỚI
MỘT SỐ NHÓM HOẠT CHẤT BVTV VỤ XUÂN 2015”
Người hướng dẫn
: PGS.TS HỒ THỊ THU GIANG
Bộ môn
: CÔN TRÙNG
Người thực hiện
: NGUYỄN TIẾN QUÝ
Lớp
: BVTVA
Khóa
: 56
i
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................i
MỤC LỤC.............................................................................................................ii
DANH MỤC BẢNG............................................................................................iv
DANH MỤC HÌNH.............................................................................................vi
PHẦN I MỞ ĐẦU.................................................................................................1
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ...........................................................................................1
1.2. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU......................................................................2
1.2.1 Mục đích..............................................................................................2
1.2.2 Yêu cầu................................................................................................2
PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU.............................................................4
2.1.Cơ sở khoa học của đề tài............................................................................4
2.1.1 Một số khái niệm về tính kháng thuốc ( Pesticides Resistance) .........4
2.2. Một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học và tính kháng thuốc của rầy
nâu.....................................................................................................................5
2.2.1 Những nghiên cứu ở ngoài nước..........................................................5
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước................................................................13
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...........................18
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu.............................................................18
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu............................................................18
3.3. Nội dung nghiên cứu................................................................................19
3.4. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................19
3.4.1. Phương pháp điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy tại Nghệ anĐối tượng khảo sát: Hộ nông dân của 3 huyện ở tỉnh Nghệ An.................19
3.4.2 Đánh giá tính kháng đối với một số nhóm hoạt chất của quần thể rầy
nâu...............................................................................................................20
Bảng 4.2. Thứ tự các loài sâu rầy quan trọng nhất trong những năm
gần của một số huyện ở tỉnh Nghệ An (đv: tỷ lệ số hộ nông dân trả lời
%)........................................................................................................31
Bảng 4.3. Số loại thuốc thương phẩm và số loại hoạt chất thuốc trừ sâu
trên lúa đã được nông dân sử dụng tại một số huyện ở tỉnh Nghệ An.
.............................................................................................................33
Bảng 4.4 . Các hoạt chất trừ sâu được sử dụng để phòng trừ rầy trên
lúa 2013 của một số huyện ở tỉnh Nghệ An .......................................34
Bảng 4.5. Số loại thuốc trừ rầy được dùng nhiều nhất từ 2003 đến
2013 tại một số huyện ở tỉnh Nghệ An. (đv: tỷ lệ số hộ nông dân trả
lời %)...................................................................................................36
Bảng 4.6. Số lần phun thuốc trừ sâu trong một vụ lúa tại một số huyện
ở tỉnh Nghệ An (đv: tỷ lệ số hộ nông dân trả lời %)..........................37
Bảng.4.7 . Ý kiến của nông dân về kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV tại
một số huyện ở tỉnh Nghệ An. (đv: tỷ lệ số hộ nông dân trả lời %). ..38
Bảng 4. 8. Tỷ lệ % hộ nông dân sử dụng thuốc dưới dạng hỗn hợp
hoặc đơn lẻ tại một số huyện ở tỉnh Nghệ An.....................................40
Bảng 4.9. Ý kiến của nông dân về hiệu quả sử dụng thuốc và cách
khắc phục sự giảm hiệu lực của thuốc tại một số huyện ở tỉnh Nghệ
An........................................................................................................41
Bảng 4.10. Hiệu lực của hoạt chất profenofos đối với rầy nâu Nghệ
An trong phòng thí nghiệm..................................................................44
Bảng 4.11. Hiệu lực của hoạt chất Thiosultarb - sodium đối với rầy
nâu Nghệ An trong phòng thí nghiệm................................................44
Bảng 4.12. Hiệu lực của hoạt chất Imidacloprid đối với rầy nâu ở
Nghệ An trong phòng thí nghiệm.......................................................45
Bảng 4.13. Hiệu lực của hoạt chất Pymethrozin đối với rầy nâu ở
Nghệ An trong phòng thí nghiệm........................................................45
Bảng 4.14. Tính kháng thuốc một số hoạt chất của quần thể rầy nâu
ở Nghệ An...........................................................................................46
PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây lúa là cây trồng cần thiết, lâu đời của nhân dân ta và nhiều dân tộc
khác trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc Châu Á. Khoảng 40% dân số trên thế
giới lấy lúa gạo làm nguồn lương thực chính (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008). Cây lúa
là cây lương thực chủ lực của Việt Nam, giữ vị trí hàng đầu trong ngành nông
nghiệp nước nhà. Trong những năm gần đây, sản xuất lúa gạo ở nước ta đã đạt
những thành tựu to lớn, đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng nội địa và dự trữ quốc,
đồng thời trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới (Nguyễn Thị
Hồng Vân, 2010). Theo cục trồng trọt tổng diện tích lúa của Việt Nam trong
năm 2012 khoảng 7.76 triệu ha năng suất đạt khoảng 56,5 tạ/ha với tổng sản
lượng 43.7 triệu tấn.
Bên cạnh những thành công vượt bậc trong sản xuất lúa đặc biệt là nâng
cao năng suất và sản lượng lúa, thì người nông dân trồng lúa cũng đứng trước
nhiều khó khăn như thiên tai, dịch bệnh, côn trùng gây hại. Có rất nhiều loài côn
trùng gây hại như: rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân….gây
thiệt hại lớn cho người nông dân. Trong đó, rầy nâu Nilaparvata lugens Stal là
loài côn trùng gây hại nguy hiểm nhất hiện nay ở vì ngoài việc chích hút gây hại
cây lúa, loài rầy này còn là môi giới truyền bệnh virus cho cây lúa như bệnh
vàng lùn, vàng xoắn lá.
Rầy nâu xuất hiện và gây hại hầu hết các tỉnh trồng lúa cả nước. Từ lâu
rầy nâu được coi là một trong những loài sâu hại quan trọng ở hầu hết các vùng
sản xuất lúa trọng điểm. Theo thông báo của cục BVTV, 2014 thì diện tích nhiễmrầy
nâu và rầy lưng trắng là 32.243,6 ha (tăng 9.100 ha so với kỳ trước), trong đó nặng
2.916,8 ha. Rầy phân bố nhẹ tại tại các tỉnh Bắc Trung bộ 2.727,6 ha; các tỉnh
ĐBSCL 1.955 ha. Rầy tập trung chủ yếu tại các tỉnh Bắc bộ trên lúa chắc xanh - chín
như Vĩnh Phúc, một số tỉnh miền núi phía Bắc với diện tích nhiễm 27.204 ha , nặng
2.852 ha; ở các diện tích có mật độ rầy cao các tỉnh đã phòng trừ được 26.749 ha. Một
1
huyện Hưng Nguyên,Nghi Lộc và Thanh Chương ở tỉnh Nghệ An.
2
Xác định tính kháng thuốc của quần thể rầy nâu Nghệ An đối với một
số nhóm hoạt chất chính dựa trên phương pháp nhỏ giọt.
Lựa chọn các hoạt chất phù hợp để sử dụng luân phiên nhằm đề xuất
chu kì biện pháp sử dụng thuốc trừ sâu hợp lý có hiệu quả trong phòng chống
rầy nâu hại lúa.
3
PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1.Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Một số khái niệm về tính kháng thuốc ( Pesticides Resistance)
Hiện nay có nhiều định nghĩa về tính kháng thuốc :
Theo định nghĩa của WHO (1976) : tính kháng thuốc là sự giảm sút phản
ứng của quần thể động hay thực vật đối với một số loại thuốc trừ dịch hại, sau một
thời gian dài quần thể này liên tục tiếp xúc với thuốc đó khiếm cho những loài sinh
vật ấy chịu được lượng thuốc lớn có thể tiêu diệt được hầu hết các cá thể cùng loài
chưa chống thuốc. Khả năng này được di truyền qua đời sau, dù cá thể đời sau có
hay không tiếp xúc với thuốc ( Nguyễn Trần Oánh và cộng sự, 2006).
Theo IRAC ( Insecticide Resitance Action Committee) (2000) tính kháng
thuốc trừ sâu là sự thay đổi tính mẫm cảm và di truyền trong quần thể dịch hại, biểu
hiện bằng sự thiệt hại lặp lại khi phòng trừ dịch hại bằng thuốc bảo vệ thực vật theo
khuyến cáo ghi trên nhãn sản phẩm (dẫn theo Nguyễn Thanh Hải, 2011).
Sự giảm sút phản ứng của một quần thể đối với một loại thuốc trừ dịch hại
do kết quả của việc dùng thuốc thường xuyên, khiến chúng trở nên chịu đựng
được những lượng thuốc lớn mà với lượng thuốc này có thể tiêu diệt được hầu
Indonesia, Srilanca, Philippines, Malaysia, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,
Việt Nam. Ký chủ rầy nâu chủ yếu là cây trồng và cây dại thuộc họ hoà thảo. Lúa
nước là ký chủ chính của rầy nâu do đó thời gian không trồng lúa hoặc để ruộng
nghỉ không có lúa chét có thể làm giảm số lượng rầy. Lúa chét có thể góp phần
làm tăng số lượng rầy khi lúa gần chín, có thể là chỗ thích hợp để rầy nâu sinh
sản. Trứng rầy thường được đẻ thành từng ổ ở trong mô của bẹ lúa và trong
phiến lá, khi mật độ rầy quá cao thì rầy có thể đẻ trứng phần trên của cây lúa
hoặc lá lúa. Số lượng trứng tùy thuộc vào giai đoạn của cây lúa.Ở vùng nhiệt
đới, giai đoạn trứng khoảng 7-11 ngày, giai đoạn rầy non từ 10-15 ngày.Thời
gian của từng giai đoạn phụ thuộc vào nhiệt độ và giống cây trồng.Trong điều
thích hợp con cái đẻ từ 100-200 trứng.
2.2.1.2. Tính kháng thuốc của rầy nâu.
Rầy nâu đã tồn tại nhiều năm và gây hại trên diện tích lớn ruộng lúa ở
5
châu Á. Mật độ rầy nâu phát triển rất nhanh và gây hại rất nặng đến mùa màng ở
một vài quốc gia ở châu Á. Theo báo cáo của các nước như Ấn Độ, Indonesia,
Philippines và SriLanka thì rầy nâu là loài côn trùng gây hại trên diện rộng và có
sự di trú không ổn định ở nhiều quốc gia. Rầy nâu là loài côn trùng gây hại lớn
nhất trên ruộng lúa hiện nay, bởi vì chúng không những phá hoại không thể báo
trước mà còn gây hại rất lớn một cách đột ngột(Dyck V. A và B. Thomas ,1979).
Kết quả nghiên cứu của Xue j et al. (2010) cũng cho thấy rằng rầy nâu là
một trong những loài côn trùng gây hại nghiêm trọng nhất trên lúa ở châu Á.
Rầy nâu chủ yếu hút nhựa cây và lan truyền virus thực vật, ví dụ virus lùn xoắn
lá (RRSV) và virus vàng lùn (RGSV). Ở Trung Quốc, rầy nâu đã gây thiệt hại
lên tới hàng triệu tấn lúa mỗi năm kể từ năm 2005. Hiện nay, biện pháp hóa học
vẫn là phương pháp chọn lựa đầu tiên để kiểm soát rầy nâu. Tuy nhiên, việc lạm
dụng thuốc trừ sâu dẫn đến tính kháng thuốc và sự gia tăng mạnh của rầy, và nó
làm nghiêm trọng thêm tình trạng ô nhiễm môi trường.
đã xuất hiện trong rầy ở châu Á (ví dụ như rầy nâu đối với hoạt chất
Imidacloprid và rầy lưng trắng với hoạt chất Fipronil). Tính kháng thuốc trừ sâu
của rầy nâu đối với Imidacloprid xuất hiện ở Châu Á trừ Philippin. Ngược lại,
tính kháng thuốc trừ sâu của rầy lưng trắng đối với Fipronil xuất hiện ở cả Đông
Á và Đông Nam Á (Masaya Matsumura, et al., 2008).
Quần thể rầy nâu thu thập được trên đồng ruộng ở Đài Loan vào năm
1982, với mức kháng cypermethrin, deltamethrin và fenvalerate thấp hơn nhiều
( 10-50 lần) và có tính kháng cao với DDT. Nghiên cứu về tính kháng thuốc trừ
sâu của quân thể rầy nâu tại Đài Loan đối với 14 loại thuốc trong năm 19771983 cho biết trong năm 1980 rầy nâu kháng carbaryl tăng 8.4 lần và carbofuran
tăng 14.8 lần, kháng malathion và monocrotophos đạt mức cao kỷ lục so với
năm 1976. Năm 1981 và 1982, tính kháng với hầu hết các thuốc carbamate và
organophosphates giảm dần nhưng trong 1983 lại kháng với 14 loại thuốc trừ
sâu một lần nữa.Năm 1982, kháng 4 loại thuốc trừ sâu từ 2.4 đến 15.5 lần trong
6 địa phương và trong năm 1983 tăng 2.4 đến 6.4 lần. Wang et al. (l988a) đã
nghiên cứu ở các địa phương về sự khác biệt trong khả năng kháng thuốc trừ sâu
carbaryl, carbofuran, malathion và monocrotophos giữa năm 1982 và năm 1984
7
của rầy nâu trên cây lúa tại Trung Đài Loan. Tỷ lệ ở mức tối đa và ở mức tối
thiểu LC50 đa dạng từ 2.4 đến 15.5 lần cho rầy nâu thu được trong mùa thu năm
1982-1984, nhưng chỉ có 2,3 đến 2,9 lần trong các cuộc điều tra thực hiện trong
cây trồng mùa xuân năm 1984. Wang et al.(1997) theo dõi sự mẫn cảm của rầy
nâu ở phía dưới thung lũng sông Dương Tử 1991-1995 và kết luận rằng tính
kháng hơi khác một chút mặc dù có là biến động trong giá trị LD 50
( Padmakumari et al., 2002)
Sự phát triển của tính kháng thuốc trừ sâu đối với Neonicotinoids của rầy
nâu lần đầu tiên được quan sát thấy ở Thái Lan năm 2003 và từ đó được tìm thấy
ở các nước châu Á khác như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản. Tuy nhiên các
giá trị LD50 của rầy nâu và rầy lưng trắng kháng lại cả 2 loại thuốc trừ sâu
Đông Nam Châu Á.
Một số quần thể rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal) được Zewen et al.
(2003) thu thập và lựa chọn để xác định tính kháng Imidacloprid trong phòng thí
nghiệm. Kết quả cho thấy tính kháng tăng 11,35 lần trong 25 thế hệ và tỷ lệ
kháng đạt 72,83% so với quần thể rầy nâu mẫn cảm trong phòng thí nghiệm.
Các quần thể kháng thuốc đã chọn cho thấy rõ ràng kháng chéo với
acetylcholine (monosultap 1,44 lần, acetamiprid 1,61 lần, tương đồng
imidacloprid JS599 2.46 lần và JS598 3,17 lần).
Kết quả nghiên cứu của Wang et al. ( 2008) cho thấy, Imidacloprid đã
được sử dụng nhiều năm để phòng trừ rầy nâu ở Trung Quốc. Để đánh giá tính
kháng thuốc của rầy nâu tác giả đã thu thập cho 42 quần thể rầy từ 27 địa điểm
bao gồm 8 tỉnh để theo dõi liều lượng phản ứng của chúng và sự thay đổi tính
mẫn cảm với Imidacloprid trong thời gian 11 năm (1996 – 2006). Kết quả cho
thấy hầu hết các quần thể duy trì tính mẫn cảm ngoại trừ một số quần thể từ Quế
Lâm, Quảng Tây, vào năm 1977, cho thấy một mức độ khángImidacloprid thấp.
Tuy nhiên, các cuộc khảo sát tiến hành năm 2005 cho thấy 16 quần thể từ 16
tỉnh nhanh chóng phát triển tính kháng với tỷ lệ kháng khác nhau từ 79 đến 811.
Các số liệu thu được trong năm 2006 cho thấy mức độ kháng trong 12 quần thể
thu được từ 7 tỉnh khác nhau giảm nhẹ (Tỷ lệ kháng = 107 – 316), ngoại trừ
quần thể Châu (tỉnh Giang Tô), đã phát triển tính kháng 625 lần. Sự chiếm ưu
9
thế và sử dụng thâm canh lúa trên phạm vi rộng ở các nước đang phát triển có
thể là một nguyên nhân cho sự phát triển tính kháng. Sự di cư của các loài cũng
tăng đáng kể tính kháng do sử dụng sâu rộng Imidacloprid trong khu vực di cư
và sử dụng liên tục thuốc xịt hóa chất sau di cư. Ngoài ra, chọn lọc tính kháng
trong phòng thí nghiệm bằng cách sử dụng Imidacloprid cho thấy tỷ lệ kháng
tăng 14 lần sau 27 thế hệ, cho thấy rằng sự phát triển nhanh chóng tính kháng có
thể là sự kết hợp với việc sử dụng thường xuyên thuốc trừ sâu trong những năm
Philippin là 0,835-4,877µg/g, LD50 ở Thái Lan là 1,418-1,904 µg/g, LD 50 ở Việt
Nam là 25,450-30,436 µg/g và LD50 ở Trung Quốc là 12,484-44,792µg/g. Như
vậy, trong các quần thể rầy nâu nghiên cứu ở 4 nước thì giá trị LD 50 của hai
quần thể rầy ở Việt Nam và Trung Quốc là tương đối lớn và rất đáng quan tâm
Kết quả của nghiên cứu của Wang et al. (2008) cho biết qua cuộc điều tra
trong vòng 11 năm ở Trung Quốc cho thấy trước năm 2004 hầu hết các quần thể
đều có sự mẫn cảm đối với buprofezin. Tuy nhiên từ sau năm 2004 thì người ta
lại tìm ra mức kháng cao đáng kể ( lên đến 28 lần ) ở hầu hết các khu vực trồng
lúa ở Trung Quốc. Các quần thể được thu thập và nhân nuôi chọn lọc 65 thế hệ
trong phòng thí nghiệm đã cho thấy sự phát triển tính kháng đối với buprofezin
lên gấp 3599 lần. Tiến hành kiểm tra tương tự cho thấy O,O-diethyl-O-Phenyl
phosphorothioate, piperonul butoxide và diethyl maleate làm tăng tính độc của
buprofezin trong chúng kháng chỉ khoảng 1.5-1.6 lần còn esterases, P450monooxygennases và glutathione S-transferases không ảnh hưởng đáng kể đến
sự phát triển tính kháng của buprofezin.
Theo Haibo et al. (2008) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của thuốc trừ sâu
đến hình thành cánh cho thấy nhóm cánh dài khi thử đối chứng bằng acetone thì
tỉ lệ trưởng thành cái và trưởng thành đực lần lượt là 43,53% và 52,56%, nhóm
cánh ngắn thì tỉ lệ này là 13,68% và 21,75%. Ở cả 2 nhóm hoạt chất
imidacloprid và dinotefuran tăng tỷ lệ phần trăm trưởng thành cái và trưởng
thành đực, với hoạt chất Imidacloprid nhóm cánh dài tỉ lệ trưởng thành cái và
trưởng thành đực lần lượt là 65,27% và 66,23%, nhóm cánh ngắn tỉ lệ trưởng
thành cái và trưởng thành đực là 35,77% và 33,28%. Với hoạt chất dinotefuran
nhóm cánh dài tỉ lệ trưởng thành cái và trưởng thành đực lần lượt là 77,19% và
72,01%, nhóm cánh ngắn tỉ lệ trưởng thành cái và trưởng thành đực lần lượt là
43,19% và 38,72%. Triazophos không có tác dụng rõ ràng trong việc hình thành
cánh của 2 nhóm cánh ngắn và cánh dài
12
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Rầy trưởng thành có thể sống từ 3- 50 ngày. Trung bình thời gian phát
dục các giai đoạn của rầy nâu như sau: trứng từ 6- 8 ngày, rầy non từ 12- 14
ngày ( mỗi tuổi 2-3 ngày), rầy trưởng thành từ 20- 30 ngày.
2.2.2.3.Tính kháng thuốc của rầy nâu
Có rất nhiều nghiên cứu về tính kháng thuốc của quần thể rầy nâu đối với
một số hoạt chất trừ sâu từ trước tới nay. Các thí nghiệm nghiên cứu tính kháng
thuốc được nghiên cứu tại các địa điểm và điều kiện địa lý khác nhau trên khắp
cả nước cho biết tính kháng của rầy nâu là khác nhau.
Từ năm 1993, Phạm Văn Lầm và Bùi Hải Sơn (2008) đã làm nghiên cứu
trong vụ lúa đông xuân và vụ lúa mùa năm 1993 nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của
một số thuốc trừ sâu phổ tác dụng rộng đến sự tích lũy số lượng của rầy nâu trên
đồng ruộng. Kết quả cho thấy các thuốc trừ sâu hóa học phổ tác dụng rộng như
thiodan, azodrin, monitor, wofatox, basudin không chỉ không có hiệu lực trừ rầy
nâu, mà còn có khả năng gây ra những hậu quả không mong muốn. Sauk hi
phun các thuốc này 2 – 3 lần, thì mật độ quần thể rầy nâu đều tăng lên nhiều so
với trước khi phun. Hệ số tích lũy quần thể của rầy nâu ở nơi dùng thuốc
wofatox đều đạt rất cao (30 – 73,8). Trong điều kiện thuận lợi cho rầy nâu phát
triển thì việc dùng các thuốc azodrin, monitor, wofatox, basudin dễ dẫn đến hiện
tượng tái phát quần thể rầy nâu. Hệ số tái phát quần thể rầy nâu khi dùng các
thuốc này trong điều kiện như vậy thường là cao và rất cao, tương ứng 3,52;
4,19; 7,25; 7,09. Ngược lại trong điều kiện không thuận lợi cho rầy nâu phát
triển thì việc dùng các thuốc đó chưa thấy gây tái phát quần thể rầy nâu.
Tính kháng thuốc của rầy nâu đối thuốc trừ sâu ở Đồng bằng sông Hồng
đã được tiến hành vào năm 2000 của Nguyễn Thị Me và cộng sự (2000) khi
nghiên cứu về tính kháng của rầy nâu Thái Bình đối với hoạt chất Isoprrocarb và
Carbofuran.Kết quả cho thấy khi so sánh giá trị LD 50của rầy nâu năm 2001 với
năm 1987 đối với 1 số loại thuốc có sự thay đổi tương đối : hoạt chấtIsoprrocarb
(MIPC) tăng thêm 12 lần, hoạt chấtCarbofuran tăng 7,3 lần.
Kết quả nghiện cứu của Lương Minh Châu và cộng sự (2006-2008) cho
14
Theo Lê Thị Kim Oanh và cộng sự (2011), đã tiến hành nghiên cứu tính
15
kháng thuốc của quần thể rầy nâu Nilaparvata lugens Stal ở một số tỉnh đồng
bằng sông Hồng và vùng đông bắc bộ. Kết quả điều tra tại 7 tỉnh đồng bằng
sông Hồng cho thấy có 8 nhóm thuốc trừ sâu được người dân sử dụng trên lúa,
trong đó 3 nhóm sử dụng với tỷ lệ cao là: Phenylpyrazol, Carbamate, Neonicotionid. Tuy nhiên, qua các năm, ở các địa phương khác nhau thì số chủng
loại thuốc sử dụng, mức độ sử dụng các nhóm thuốc là khác nhau. Kêt quả
nghiên cứu cho thấy 7/7 quần thể rầy nâu kháng với hoạt chất Fenobucard với
chỉ số kháng ( 11,18- 33,31). Có 4/7 quần thể rầy nâu kháng với hoạt chất
Imidacloprid với chỉ số kháng ( 20,00- 98,52). Có 2/7 quần thể rầy nâu kháng
với hoạt chất Fipronil với chỉ số kháng ( 11,78- 18,52). Các quần thể rầy nâu
đều có biểu hiện gia tăng mức độ kháng qua các năm. Hoạt chất Fenobucard
mức độ gia tăng tính kháng 6,67 lần, Imidacloprid tăng 4,12 lần và đặc biệt hoạt
chất Fipronil tuy có chỉ số kháng Ri thấp nhất so với các hoạt chất khác nhưng
lại có mức độ gia tăng tính kháng cao, tăng là 9,28 lần ( từ năm 2009- 2010).
Đối với các quần thể rầy nâu có biểu hiện kháng Fenobucard và Imidacloprid thì
hiệu lực trừ rầy nâu ngoài đồng ruộng của hoạt chất này có hiệu lực thấp hơn khi
sử dụng đơn lẻ chúng. Việc hỗn hợp Fenobucard với Imidacloprid hay Fipronil
với Imidacloprid để trừ rầy nâu cho hiệu quả cao hơn.
Theo Nguyễn Thị Hồng Vân ( 2010) nghiên cứu hiện trạng kháng thuốc
của quần thể rầy nâu ở đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đã đánh giá mức
độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu đối với nhóm thuốc Neonicotinoid.
Qua việc xác định chỉ số LD50 đối với hai loại thuốc Clothianidin và Dinotefuran
thì kết quả cho thấy 2 loại thuốc này chưa bị rầy nâu kháng. Tuy nhiên chỉ số Ri
cũng đã tăng so với dòng mẫn cảm từ 1,31 – 1,54 lần đối với thuốc Clothianidin
và 1,10 – 1,48 lần đối với Dinotefuran. Đặc biệt, hai loại thuốc trong cùng nhóm
là Imidacloprid và Thiamethoxam có giá trị Ri tăng so với dòng mẫn cảm từ
2,15 – 4,41 lần đối với Imidacloprid và 2,38 – 4,83 lần đối với Thiamethoxam.
17