BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Ngọc Nhung
ẢNH HƯỞNG CỦA QUAN HỆ CHÍNH TRỊ ĐẾN
KHẢ NĂNG SINH LỜI DOANH NGHIỆP:
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Ngọc Nhung
ẢNH HƯỞNG CỦA QUAN HỆ CHÍNH TRỊ ĐẾN
KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP:
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng (Hướng ứng dụng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. Lê Phan Thị Diệu Thảo
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2019
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..............................................................3
1.4.
Phương pháp nghiên cứu ............................................................................4
1.5.
Kết cấu của nghiên cứu ...............................................................................4
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC
NGHIỆM .................................................................................................................... 6
2.1.
Các khái niệm...............................................................................................6
2.1.1.
Khả năng sinh lời của doanh nghiệp ................................................... 6
2.1.2.
Quan hệ chính trị .................................................................................. 8
2.2.
Lý thuyết thể chế..........................................................................................8
2.3.
Thống kê mô tả ..........................................................................................21
4.2.
Phân tích tương quan ................................................................................24
4.3.
Kết quả hồi quy ..........................................................................................25
4.4.
Thảo luận kết quả nghiên cứu ..................................................................30
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN ....................................................................................... 32
5.1. Kết luận ......................................................................................................32
5.2. Gợi ý chính sách .........................................................................................32
5.3. Hạn chế của đề tài ......................................................................................33
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1. DANH SÁCH CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT TRÊN
HOSE ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG DỮ LIỆU
PHỤ LỤC 2. KẾT QUẢ TỪ PHẦN MỀM STATA
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm nội địa
FGLS
Feasible Generalized Least
Phương pháp bình phương tối thiểu
Squares
tổng quát khả thi
Pooled OLS Pooled Ordinary Least
Phương pháp bình phương tối thiểu gộp
Squares
FEM
Fixed Effects Model
Mô hình tác động cố định
REM
Random Effects Model
25
26
Bảng 4.5. Lựa chọn mô hình hồi quy với biến phụ thuộc ROA
28
Bảng 4.6. Kiểm tra tính đa cộng tuyến của các biến trong mô hình
28
Bảng 4.7. Kiểm định tự tương quan của các biến trong mô hình
nghiên cứu
Bảng 4.8. Kết quả hồi quy mô hình theo phương pháp FGLS
Tên hình
Hình 3.1. Doanh nghiệp có quan hệ chính trị và doanh nghiệp
không có quan hệ chính trị trong mẫu dữ liệu
29
30
Trang
19
TÓM TẮT
Kết nối tốt với các cơ quan Nhà nước sẽ giúp doanh nghiệp nắm nhiều ưu điểm hơn
so với doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp kết nối này có thể đạt được điều kiện ưu
đãi khi huy động nguồn vốn trên thị trường và có cơ hội lớn nhận được sự cứu trợ
Phát triển từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền kinh tế thị
trường, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đều xuất thân từ tổng công ty
Nhà nước hoặc do doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá. Người đứng đầu của doanh
nghiệp kết nối chính trị này hầu như đều do cơ quan Nhà nước quyết định. Hầu hết
những thành viên này đều có liên hệ với Chính phủ hoặc từng giữ chức vụ hoặc vị
trí trong tổ chức Nhà nước. Tương tự như Việt Nam, Trung Quốc là một nền kinh tế
chuyển đổi và có nhiều bài nghiên cứu về yếu tố chính trị như giá trị doanh nghiệp
bị ảnh hưởng như thế nào bởi kết nối chính trị (X. Tang và cộng sự, 2016), cũng
như ảnh hưởng đối với công ty tư nhân vừa được thành lập (N. Boubakri và cộng
sự, 2008), hay liên quan đến sự phát triển của các doanh nghiệp gia đình (Xu và
cộng sự, 2015) và các yếu tố khác trong doanh nghiệp. Theo đó, mối quan hệ chính
trị cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Ngày nay, khi nền kinh tế chuyển dần theo hướng thị trường hóa, Nhà nước vẫn can
thiệp nhiều vào nền kinh tế. Nhà nước áp dụng các biện pháp hành chính để kiểm
soát giá cả của các sản phẩm thiết yếu, đề nghị công ty thuộc sở hữu Nhà nước điều
chỉnh mức đầu tư phù hợp với mục tiêu chính trị, giá xăng dầu bị thắt chặt, quản lý
giá nguyên liệu công nghiệp như thép, xi măng và than. Hiện nay, kinh tế Việt Nam
bao gồm các thành phần sau: kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế tư nhân gồm cá thể,
tiểu chủ và tư bản tư nhân, kinh tế Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và
kinh tế tập thể. Chính phủ thành lập các tổng công ty do Nhà nước sở hữu hơn 50%
để đẩy khu vực kinh tế Nhà nước trở thành thành phần kinh tế chủ đạo của nền kinh
tế. Tuy nhiên, từ năm 1990 đến nay, doanh nghiệp Nhà nước tiến hành cổ phần hóa
liên tục. Mặc dù thành phần kinh tế Nhà nước và thành phần kinh tế tập thể được
Chính phủ ưu tiên phát triển, nhưng kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài lại có tốc độ tăng trưởng và phát triển cao hơn so với hai thành phần kinh tế
2
này. Tổng cục Thống kê báo cáo năm 2016, khu vực lớn nhất là khu vực kinh tế cá
có mối quan hệ chính trị quản lý tạo ra nhiều việc làm hơn trong những lĩnh vực xảy
ra nhiều tranh cãi về chính trị.
Như vậy, bao nhiêu doanh nghiệp có thành viên trong ban giám đốc đã và đang giữ
vị trí trong tổ chức Nhà nước? Các doanh nghiệp này có đặc điểm như thế nào và
hiệu quả hoạt động ra sao? Một doanh nghiệp quan hệ tốt với Chính phủ sẽ nhận
được sự trợ giúp từ Chính phủ nhiều hơn, cơ hội hợp tác với các dự án Chính phủ
và hoạt động diễn ra thuận lợi hơn. Hơn nữa, kết nối tốt với cơ quan Nhà nước giúp
doanh nghiệp nhận nhiều ưu đãi hơn từ phía ngân hàng.
Để làm rõ những vấn đề trên, bài nghiên cứu “Ảnh hưởng của quan hệ chính trị
đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt
Nam” được thực hiện với mục tiêu nghiên cứu về sự ảnh hưởng của quan hệ chính
trị đối với khả năng sinh lời của doanh nghiệp tại Việt Nam.
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Tác giả thực hiện nghiên cứu với mục tiêu kiểm định ảnh hưởng của yếu tố quan hệ
chính trị đối với khả năng sinh lời của các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam.
Bài nghiên cứu đặt ra câu hỏi là Quan hệ chính trị ảnh hưởng như thế nào đến khả
năng sinh lời của doanh nghiệp tại Việt Nam?
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài “Ảnh hưởng của quan hệ chính trị đến khả năng sinh lời của doanh
nghiệp: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam”, đối tượng của bài nghiên cứu là sự
ảnh hưởng của mối quan hệ chính trị đến yếu tố khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Việt Nam khi các yếu tố khác không đổi. Trên cơ sở này, tác giả sử dụng 280 doanh
nghiệp phi tài chính được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh (HOSE) từ năm 2011 đến năm 2017 để làm rõ mục tiêu nghiên cứu.
4
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Sau khi loại các doanh nghiệp không đầy đủ dữ liệu và những doanh nghiệp thành
Chương 4. Kết quả nghiên cứu
Trình bày kết quả nghiên cứu về tác động của quan hệ chính trị đối với hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp tại Việt Nam, cụ thể là các doanh nghiệp phi tài chính
hiện niêm yết. Đồng thời, thảo luận về kết quả hồi quy đạt được giống hay khác so
với những nghiên cứu trước đã đưa ra.
5
-
Chương 5. Kết luận
Trình bày kết luận nghiên cứu của đề tài thực hiện dựa trên lý thuyết, giả thuyết và
các nghiên cứu trước đó. Ngoài ra, đưa ra các khuyến nghị, chính sách cho nhà đầu
tư và nhà quản lý cũng như nêu lên những hạn chế mà nghiên cứu gặp phải để các
bài nghiên cứu sau hoàn thiện hơn.
6
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
2.1. Các khái niệm
2.1.1. Khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Khả năng sinh lời là một loại chỉ số tài chính được sử dụng để đánh giá khả năng
của một doanh nghiệp trong việc tạo ra thu nhập trong một thời gian nhất định trên
cơ sở chi phí bỏ ra. Khả năng sinh lời có thể được định nghĩa là thước đo cuối cùng
của sự thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự thành công này được
xác định bởi tầm quan trọng của lợi nhuận thuần kế toán (Pimentel và cộng sự,
vốn của cổ đông.
Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
=
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu
Dựa vào phân tích Dupont, phương trình mở rộng thể hiện sự phụ thuộc của khả
năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) vào khả năng sinh lời của doanh thu, số
vòng quay tổng tài sản và tỷ lệ nợ.
ROE
=
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
x
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
x
Tổng tài sản
Tổng tài sản – Nợ
Chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng là xác định mục tiêu kinh doanh tối đa hoá lợi
nhuận hay tối đa hoá quy mô. Tỷ số này càng cao cho thấy lợi nhuận cao và ít sử
các bên liên quan đồng thời nắm giữ một vị trí trong Ủy ban bầu cử, cơ quan lập
hiến bầu ra giám đốc điều hành của thành phố. Thêm một cách đo lường mối quan
hệ chính trị của Wang, Dao và Kang (2018), bài nghiên cứu này sử dụng lượt truy
cập vào trang web của quan chức Chính phủ như một phép đo lường kết nối chính
trị của doanh nghiệp.
2.2.
Lý thuyết thể chế
Theo lý thuyết thể chế, các thể chế hỗ trợ cho hoạt động hiệu quả của cơ chế thị
trường (North, 1990) và khi các thể chế chính thức thất bại, các cơ chế quản trị
không chính thức như quan hệ xã hội, đóng vai trò thay thế để tạo thuận lợi cho
hoạt động kinh tế (Peng, 2003). Lý thuyết thể chế cũng dự đoán rằng quan hệ xã hội
đóng vai trò là một hình thức quản trị quan trọng trong các giai đoạn chuyển đổi
sớm ở các nền kinh tế mới nổi, trong đó các thể chế hỗ trợ cho thị trường. Khi các
nền kinh tế mới nổi có định hướng thị trường hơn và các thể chế hỗ trợ thị trường
được phát triển tốt hơn, doanh nghiệp sẽ ít dựa vào mối quan hệ xã hội để điều phối
hoạt động (North, 2005; Peng, 2003). Quan điểm này cho thấy tác động của quan hệ
xã hội phụ thuộc vào bối cảnh thể chế.
9
Khi khuôn khổ thể chế pháp lý không áp dụng các hình phạt hiệu quả, các hành vi
cạnh tranh bất hợp pháp hoặc không công bằng (ví dụ: quảng cáo sai, vi phạm bản
quyền, vi phạm hợp đồng, giả mạo) chiếm ưu thế trên thị trường và phá vỡ trật tự
kinh tế (Ho, 2001). Với các thể chế pháp lý không đầy đủ, doanh nghiệp cảm thấy
khó khăn hoặc tốn kém khi tuân theo quy trình pháp lý thông thường để có được sự
bảo vệ chống lại các hành vi đó (McMillan và Woodruff, 1999). Trong tình huống
như vậy, quan hệ chính trị cung cấp một cơ chế thực thi thông qua sự tăng cường
cứu ở một quốc gia cũng phát hiện ra rằng các kết nối chính trị có liên quan đến giá
trị doanh nghiệp (Fisman, 2001; Ramalho, 2003; Ferguson và Voth, 2006).
Ngược lại, quan hệ chính trị có thể gây bất lợi cho doanh nghiệp. Boubakri và cộng
sự (2008) nghiên cứu về công ty tư nhân hoá mới, minh họa rằng không có động lực
thúc đẩy nhà quản lý của doanh nghiệp kết nối tối đa hóa giá trị cho cổ đông và
nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Bài nghiên cứu cũng lưu ý rằng
nhà đầu tư nước ngoài không muốn đầu tư vào doanh nghiệp tư nhân có kết nối
chính trị. Bên cạnh ích lợi mà yếu tố quan hệ chính trị đem lại cho doanh nghiệp
như gia tăng giá trị doanh nghiệp và huy động vốn thuận lợi hơn, ảnh hưởng tiêu
cực từ kết nối chính trị cho thấy sự kém minh bạch từ những doanh nghiệp này
(Leuz và Oberholzer-Gee, 2006) và số liệu kế toán có chất lượng ngày càng thấp
hơn. Hơn nữa, vấn đề về chi phí đại diện và việc nắm quyền của nhà quản lý thường
xảy ra tại doanh nghiệp kết nối chính trị. Ngoài ra, doanh nghiệp có kết nối chính trị
theo kết quả nghiên cứu của M.A. Bliss và F.A. Gul (2012) thường có mức độ đòn
bẩy và khả năng báo cáo thua lỗ cao hơn, điều này dẫn đến các nhà cho vay với lãi
suất cao cho những công ty quan hệ chính trị này.
Một số bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy kết nối chính trị tác động như thế nào
đến hiệu quả hoạt động. Niessen và Ruenzi (2009) lần đầu tiên điều tra về doanh
nghiệp có quan hệ chính trị tại Đức. Với dữ liệu sẵn có trong năm 2006 và năm
2007, tác giả cung cấp bằng chứng cho tác động tích cực của quan hệ chính trị đối
với hiệu suất của các doanh nghiệp Đức. Kết quả là công ty kết nối chính trị có
thường có quy mô lớn, rủi ro thấp và tăng trưởng thấp. Các công ty này có Tobin Q
và tỷ số giá trên lợi nhuận một cổ phiếu thấp hơn công ty không có kết nối. Phát
hiện này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Faccio (2006) cũng như Goldman,
Rocholl và So (2007).
11
Nghiên cứu một mẫu các công ty niêm yết tại Trung Quốc trong giai đoạn từ năm
được như khả năng vốn có của công ty. Số liệu cho thấy một cường quốc kinh tế
vững chắc hầu như không có kết nối với Ủy ban bầu cử.
Dựa vào công ty đã đăng ký ở Latvia để xây dựng một bộ dữ liệu duy nhất về các
công ty kết nối với chính trị gia vào năm 1996 đến năm 2005 và công ty đã đóng
góp trong cuộc bầu cử năm 2002, Dombrovsky (2008) xem xét ảnh hưởng của kết
nối chính trị đến hiệu suất công ty thông qua hai loại kết nối chủ yếu: kết nối với
các chính trị gia và cựu chính trị gia, và đóng góp trong cuộc bầu cử năm 2002. Sử
dụng thước đo kết nối dựa trên việc có (cựu) chính trị gia làm thành viên hội đồng
quản trị hoặc cổ đông, tác giả rút ra ba kết quả chính. Đầu tiên, các công ty trải qua
một sự sụt giảm doanh số trong năm đầu tiên khi các chính trị gia tham gia vào
thành viên hội đồng quản trị hoặc là cổ đông, sau đó là một sự phục hồi mạnh mẽ
trong năm tiếp theo. Điều này cho thấy chính trị gia tham gia vào các công ty gặp
nạn và giúp đỡ với các ưu đãi chính trị. Thứ hai, Dombrovsky (2008) tìm thấy một
số bằng chứng cho thấy những thay đổi về sức mạnh của kết nối gây ra bởi những
thay đổi trong liên minh cầm quyền có ảnh hưởng đến hoạt động của các công ty
được kết nối. Đặc biệt, một số kết quả thể hiện các công ty trải qua sự sụt giảm
đáng kể trong tăng trưởng doanh thu bán hàng khi chính trị gia mà họ liên kết bị
phản đối. Thứ ba, không có bằng chứng cho thấy các cựu chính trị gia quan trọng
đối với hoạt động của các công ty. Sau cuộc bầu cử năm 2002, công ty ủng hộ cho
các bên chiến thắng đã cải thiện hiệu suất của doanh nghiệp, trong khi các công ty
ủng hộ những người thua cuộc bị giảm hiệu suất.
Một nghiên cứu mới đây của Wang, Dao và Kang (2018) sử dụng lượt truy cập vào
trang web của quan chức Chính phủ như một phép đo lường kết nối chính trị, cho
phép đo lường chính xác thời gian và sức mạnh của kết nối chính trị và nắm bắt bản
chất năng động của kết nối chính trị, từ đó xem xét kết nối chính trị ảnh hưởng đến
hiệu suất của công ty như thế nào. Thiết lập một bộ dữ liệu mới về các lượt truy cập
trang web của các viên chức Chính phủ từ năm 2004 đến năm 2014, bài nghiên cứu
13
hợp với tình hình nền kinh tế Việt Nam, đa số doanh nghiệp hiện nay được tách ra
hoặc công ty con từ doanh nghiệp Nhà nước, tác giả đưa ra giả thuyết cho rằng quan
hệ chính trị sẽ ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong
trường hợp các yếu tố khác đã được kiểm soát. Điều này thể hiện rằng khả năng
sinh lời của doanh nghiệp quan hệ chính trị sẽ cao hơn doanh nghiệp không có quan
hệ chính trị.
3.2.
Mô hình nghiên cứu
3.2.1. Mô hình nghiên cứu
Dựa vào bài nghiên cứu “Mối quan hệ chính trị và Hiệu suất doanh nghiệp: Bằng
chứng thực nghiệm tại Đức” của A. Niessen và S. Ruenzi vào năm 2010, mô hình
nghiên cứu được tiến hành kiểm tra sự ảnh hưởng của quan hệ chính trị đối với khả
năng sinh lời của các doanh nghiệp phi tài chính như sau:
PROFit = α0 + β1POLit + β2NWCit + β3SIZEit + β4LEVit + εit
Trong đó: PROFit: Khả năng sinh lời của doanh nghiệp i tại thời điểm t,
Trong đó: PROFit: được đo lường bằng các biến ROA, ROE và ROS;
POLit: Biến quan hệ chính trị của doanh nghiệp i tại thời điểm t;
NWCit, SIZEit, LEVit: Biến kiểm soát;
15
α0: Hệ số chặn; và
ε: Phần sai số.
3.2.2. Định nghĩa và đo lường biến trong mô hình
3.2.2.1. Biến phụ thuộc
Tác giả sử dụng các tỷ số lợi nhuận thể hiện khả năng sinh lời của doanh nghiệp
như tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
nhuận doanh nghiệp.
-
Đòn bẩy (LEV)
Nghiên cứu của Raza (2013) cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa hiệu suất và
đòn bẩy. Từ đó, biến đòn bẩy của nghiên cứu này được đo lường bằng tổng nợ trên
tổng tài sản cùng tại thời điểm cuối kỳ và kỳ vọng sẽ tác động tiêu cực đến hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
-
Vốn luân chuyển (NWC)
Tác giả đo lường biến vốn luân chuyển khi lấy vốn luân chuyển chia cho tổng tài
sản cùng thời điểm. Nghiên cứu kỳ vọng kết quả giống với nghiên cứu của Aktas,
Croci và Petmezas (2015), cho thấy ảnh hưởng tích cực của vốn luân chuyển đến
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Cách đo lường và dấu kỳ vọng đối với các biến phụ thuộc, biến độc lập và biến
kiểm soát trong mô hình nghiên cứu được tổng hợp ở bảng 3.1 dưới đây.