CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG của NGƯỜI BỆNH đái THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2 điều TRỊ NGOẠI TRÚ tại TRUNG tâm y tế THÀNH PHỐ VĨNH YÊN,TỈNH VĨNH PHÚC năm 2018 - Pdf 57

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH HẢI

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI
THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI
TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH
VĨNH PHÚC NĂM 2018
Chuyên ngành : Quản lý Bệnh viện
Mã số

: 60720701

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGUYỄN ĐĂNG VỮNG

HÀ NỘI - 2018


2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG


Độ lệch chuẩn

TCYTTG

Tổ chức Y tế thế giới

TTYT

Trung tâm y tế


4

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong các bệnh mãn tính phổ biến nhất mà có
thể dẫn đến các biến chứng trầm trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống (CLCS)
của người bệnh. Đái tháo đường là một trong những nguyên nhân chính của nhiều
bệnh hiểm nghèo như bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, liệt
dương, hoại thư...[1]. Các biến chứng liên quan đến bệnh ĐTĐ gây tử vong và tăng
gánh nặng chi phí cho người bệnh, gia đình và xã hội. Tất cả các biến chứng dù nhẹ
nhất đều ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng CLCS của người bệnh [2].
Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc
điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin,
hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn
chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác
nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh.
ĐTĐ tuýp 2 là bệnh về rối loạn chuyển hóa chất đường (glucose) mạn tính.
Khoảng thời gian từ khi rối loạn dung nạp glucose.
ĐTĐ type 2 chiếm tới khoảng 90% các trường hợp mắc bệnh và liên quan

Cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam hiện nay đang đối mặt
với sự gia tăng ngày càng nhanh của bệnh ĐTĐ. Năm 2001, tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ
của người dân Việt Nam chỉ chiếm 4% [5], thì đến năm 2012 đã tăng lên 5,3% và
lên đến 5,8% trong năm 2013 [6]. Theo xu hướng phát triển chung của thế giới và
Việt Nam, tỷ lệ người bệnh vào điều trị ĐTĐ tại phòng khám Nội tiết Khoa Khám
bệnh Đái tháo đường Trung tâm Y tế thành phố Vĩnh Yên ngày càng tăng, đặc biệt
là tỉ lệ bệnh ĐTĐ tuýp 2. Năm 2015 có 3.254 người bệnh, năm 2016 có 3.896
người bệnh, trong năm 2017 có 4.441 người bệnh. 6 tháng đầu năm 2018 có 2.373
người bệnh. Sự gia tăng tỷ lệ bệnh ĐTĐ cũng đồng thời với việc gia tăng hơn nữa
tỷ lệ những biến chứng của bệnh, nhất là biến chứng tim mạch. Các biến chứng này
cùng với các stress về tâm lý không chỉ làm giảm tuổi thọ mà còn ảnh hưởng trầm
trọng tới CLCS của người bệnh.


6

Đo lường CLCS không những đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá
tác động của bệnh tật tới tình trạng sức khỏe thể chất, khả năng hoạt động, đời sống
tâm lý hoặc tinh thần của người bệnh, mà còn cung cấp những thông tin có giá trị
giúp cho các cán bộ y tế và người bệnh cùng hợp tác đưa ra quyết định lựa chọn tốt
nhất có thể về những chỉ định can thiệp phù hợp trong quá trình chăm sóc và điều trị
người bệnh, đồng thời cũng giúp đánh giá sự thay đổi CLCS trong suốt quá trình
điều trị, giúp có cái nhìn toàn diện hơn về tác động của điều trị và bệnh tật tới người
bệnh[7]. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu đo lường tác động của bệnh tật lên
CLCS của người bệnh như ung thư, tăng huyết áp, suy thận mãn, thay khớp háng,
ĐTĐ…Adam Ljoyd (2011) thực hiện nghiên cứu tại Anh đánh giá CLCS của 1233
người bệnh ĐTĐ tuýp 2 không sử dụng insulin bằng bộ câu hỏi SF-36, kết quả người
bệnh ĐTĐ tuýp 2 có biến chứng là nhẹ cũng tác động đáng kể lên CLCS của họ[8].
Tuy nhiên ở Việt Nam các nghiên cứu về CLCS lại chưa được quan tâm nhiều. đặc
biệt là nghiên cứu về CLCS của người bệnh mắc các bệnh mãn tính [9].

khác nhau đặc biệt là các tổn thương ở mắt, thận, thần kinh, tim mạch” [3].
ĐTĐ tuýp 2 là bệnh về rối loạn chuyển hóa chất đường (glucose) mạn tính.
Khoảng thời gian từ khi rối loạn dung nạp glucose.
1.1.2. Chẩn đoán bệnh đái tháo đường:
Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ theo hiệp hội ĐTĐ Mỹ (2010) thì tiêu chuẩn
chẩn đoán xác định ĐTĐ nếu có 1 trong 4 tiêu chuẩn dưới đây [9].
+ Gulucose máu lúc đói (nhịn ăn 8-14 giờ) 1,26g/l (≈7mmol/l), trong 2 buổi
sáng khác nhau.
+ Gulucose máu ở thời điểm bất kỳ ≥ 2g/l (≈11,1 mmol/l) có kèm theo triệu
chứng lâm sàng ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, sụt cân không.
+ Gulucose máu sau 2 giờ làm nghiệm pháp tăng đường huyết ≥11,1 mmol/l
(sau khi uống 75g glucose).
+ HbAlc ≥6,5% (xét nghiệm được thực hiện tại phòng xét nghiệm sử dụng
phương pháp chuẩn).
1.1.3. Phân loại đái tháo đường
1.1.3.1. Đái tháo đường tuýp 1 (ĐTĐ phụ thuộc insulin)
ĐTĐ tuýp 1 là do sự phá hủy tế bào Bê-ta của tuyến tụy nên tụy không sản
xuất ra đủ lượng insulin cần thiết cho cơ thể. Phần lớn xảy ra ở trẻ em, người trẻ
tuổi và thường có yếu tố tự miễn. Ở Việt Nam chưa có số liệu điều tra quốc gia,


8

nhưng theo thống kê từ các bệnh thì tỷ lệ mắc ĐTĐ tuýp 1 vào khoảng 7-8% tổng
số người bệnh ĐTĐ [3].
1.1.3.2. Đái tháo đường tuýp 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insulin)
Đái tháo đường tuýp 2 là thể thường gặp nhất chiếm tỷ lệ khoảng 90% các
thể ĐTĐ, thường gặp ở những người trưởng thành trên 40 tuổi. Tuy nhiên, trong
một vài thập kỉ gần đây thì ĐTĐ tuýp 2 không còn xa lạ ở nhóm tuổi dậy thì và tiền
dậy thì, kể cả ở trẻ nhỏ. Tỷ lệ ĐTĐ tăng nhanh ở những lứa tuổi này liên quan đến

mẹ cùng mắc bệnh ĐTĐ thì con có khả năng mắc bệnh tới 70% [3].
Tiếp theo, các nguyên nhân về nhân chủng học cũng là yếu tố nguy cơ của
bệnh ĐTĐ như tỷ lệ mắc và tuổi mắc bệnh ĐTĐ thay đổi theo sắc tộc, có những
nhóm sắc tộc nhạy bén với ĐTĐ như ở Tây Ban Nha, người da đen, người Nam Á.
Đặc biệt, các yếu tố liên quan đến hành vi, lối sống, béo phì, ít hoạt động thể
lực, chế độ ăn uống không hợp lý, hút thuốc lá, uống rượu bia nhiều…cũng là yếu
tố nguy cơ gây bệnh ĐTĐ. Tình trạng thiếu hụt các yếu tố vi lượng hoặc vitamin
góp phần làm thúc đẩy sự tiến triển bệnh ở người trẻ tuổi cũng như người cao tuổi.
các yếu tố khác có thể là yếu tố nguy cơ của ĐTĐ bao gồm cuộc sống có nhiều áp
lực không được giải tỏa, lối sống phương Tây hóa, thành thị hóa [3].
1.1.5. Biến chứng của bệnh đái tháo đường
Bệnh ĐTĐ nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, bệnh sẽ tiến
triển nhanh chóng và sẽ xuất hiện các biến chứng cấp tính và mạn tính. Các biến
chứng của ĐTĐ thường xuất hiện sau khoảng 10 ngày bị tăng glucose huyết. Thời
gian tăng glucose huyết càng dài thì nguy cơ của các biến chứng mạn tính ngày
càng tăng [10].
1.1.5.1. Biến chứng cấp tính
Biến chứng cấp tính của bệnh ĐTĐ thường là hậu quả của chẩn đoán muộn,
điều trị không thích hợp, hoặc nhiễm khuẩn cấp tính. Biến chứng cấp tính có thể đe
dọa tính mạng người bệnh, thường hay gặp ở các quốc gia đang phát triển. Nhiễm
toan ceton và hôn mê do nhiễm toan ceton là một biến chứng gây nguy hiểm đến
tính mạng người bệnh, nguyên nhân là thiếu insulin đã gây ra rối loạn nặng nề trong
chuyển hóa protein, lipid và carbohydrate. Mặc dù y học hiện đại đã có nhiều tiến
bộ về trang thiết bị, điều trị và chăm sóc nhưng tỷ lệ tử vong rất cao 5-10% so với
người bệnh không bị biến chứng này [11]. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là tình


10

trạng rối loạn glucose nặng, đường huyết cao. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu chiếm


Các biến chứng cấp tính được phòng ngừa bằng cách người bệnh phải được
hướng dẫn cách tự theo dõi lượng glucose máu và ceton niệu, tuân thủ chế độ điều
trị, chế độ ăn uống, liên hệ ngay với thầy thuốc khi mắc các bệnh khác, khi xuất
hiện các triệu chứng bất thường như buồn nôn, sốt, tiêu chảy, hoặc nồng độ glucose
trong máu cao, có ceton niệu dai dẳng…Đối với thầy thuốc phải thông báo cho
người bệnh tình hình bệnh tật, cách phát hiện các triệu chứng hoặc dấu hiệu nguy
hiểm khi cần đi khám; khi thăm khám định kỳ phải khám tỉ mỉ để phát hiện những
diễn biến bất thường của bệnh [12].
1.1.6.2. Phòng ngừa biến chứng mạn tính
Người bệnh ĐTĐ được cung cấp những kiến thức để lựa chọn một chế độ
sinh hoạt, luyện tập phù hợp với tình trạng bệnh lý của mình, kiểm soát tốt glucose
máu. Điều trị tích cực kết hợp điều chỉnh các rối loạn chuyển hóa lipid, các rối loạn
đông máu, hạn chế tình trạng dễ viêm nhiễm, tăng hoạt động thể lực, giảm cân, loại
bỏ thói quen không có lợi cho bệnh như hút thuốc lá, uống rượu…Đặc biệt, người
bệnh ĐTĐ cần sàng lọc, khám định kỳ để phát hiện sớm bệnh lý mắt, cầu thận, thần
kinh do biến chứng ĐTĐ [12].
1.2. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới
ĐTĐ là bệnh chuyển hóa thường gặp nhất và đã có từ lâu, nhưng đặc biệt
phát triển trong những năm gần đây. Bệnh tăng nhanh theo tốc độ phát triển của nền
kinh tế xã hội. Các công trình nghiên cứu về tính chất dịch tễ bệnh ĐTĐ cho thấy:
tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng lên hàng năm, cứ 15 năm thì tỷ lệ này tăng lên gấp đôi,
tuổi càng tăng thì tỷ lệ mắc càng cao, từ 65 tuổi trở lên thì tỷ lệ này lên tới 16% [5].
ĐTĐ được xếp vào một trong ba bệnh thường gây tàn phế và tử vong cao nhất đó là
xơ vữa động mạch, ung thư. TCYTTG đã lên tiếng “báo động” về mối lo ngại này
trên toàn thế giới:
+ Năm 1985: cả thế giới có 30 triệu người mắc bệnh ĐTĐ
+ Năm 1994: cả thế giới có khoảng 110 triệu người mắc ĐTĐ, trong đó 98,9
triệu người mắc ĐTĐ tuýp 2.

21,9

Nga

8,9

12,2

Nhật Bản

6,3

8,5

Indonesia

4,5

12,4

Brazil

4,9

11,6

Mexico

3,8



13

1.2.2. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường tại Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển và bệnh ĐTĐ cũng đang
gia tăng nhanh chóng. Thập kỷ 90, tỷ lệ ĐTĐ tăng dần ở các thành phố lớn. Tại
Huế, năm 1996 là 0,96% (nội thành 1,05%, ngoại thành là 0,6%), tỷ lệ nữ nhiều hơn
nam, năm 2006 tỷ lệ này cho kết quả là 1%, nhưng đến năm 2003 tỷ lệ này lên tới
xấp xỉ 5% dân số[14]. Tại Hà Nội, năm 1990 tỷ lệ này là 1,2% (nội thành 1,44%,
ngoại thành 0,63%), sau hơn 10 năm (2002), một nghiên cứu được tiến hành trên
cùng một địa điểm, cùng nhóm tuổi và phương pháp nghiên cứu giống năm 1990
cho thấy tỷ lệ ĐTĐ đã tăng lên gấp đôi (2,16%) [3] (số liệu cũ quá cần cập nhật số
liệu mới hơn!). Tại thành phố Hồ Chí Minh (1993) tỷ lệ ĐTĐ tuýp 2 là 2,52%, năm
2001 tỷ lệ ĐTĐ ở nội thành là 2,5% và tỷ lệ này tăng gấp 2,5 lần sau 8 năm (6,9%
so với 2,5%) [15]. Năm 2001, một cuộc điều tra dịch tễ về bệnh ĐTĐ theo quy
chuẩn quốc tế tại 4 thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí
minh) cho kết quả tỷ lệ mắc ĐTĐ là 4,0%, riêng quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) tỷ lệ
này lên tới 7%. Theo điều tra quốc gia về ĐTĐ năm 2002 cho thấy tỷ lệ người bệnh
ĐTĐ tăng lên so với nghiên cứu ở thập niên 90. Năm 2002, tỷ lệ ĐTĐ trên toàn
quốc chiếm 2,7% (khu vực thành phố 4,4%, miền núi và trung du 2,1%, đồng bằng
2,7%) [5]. Kết quả điều tra dịch tễ học bệnh ĐTĐ toàn quốc năm 2012 do Bệnh
viện Nội tiết trung ương tiến hành, tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ toàn quốc ở người trưởng
thành là 5,42%. Tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ tăng dần theo nhóm tuổi, cụ thể là 1,7% ở
nhóm tuổi từ 30-39; 3,7% ở nhóm tuổi từ 40-49; 7,5% ở nhóm tuổi từ 50-59 và
9,9% ở nhóm tuổi từ 60 đến 69 tuổi [16].
Bệnh ĐTĐ tuýp 2 còn được gọi là “kẻ giết người thầm lặng” do bệnh âm
thầm tiến triển trong cơ thể con người. Vì vậy, một số lượng không nhỏ người bệnh
chỉ có thể phát hiện ra mình bị bệnh ĐTĐ khi bệnh đã có những biến chứng như
giảm thị lực do đục thủy tinh thể, bệnh lý võng mạc, biến chứng thận, biến chứng
tim mạch…Việc phát hiện muộn ĐTĐ sẽ gây thêm những tốn kém cho công tác

Trước công nguyên, Aristotle đã định nghĩa CLCS là “một cuộc sống tốt” hoặc
“một công việc trôi chảy” [19]. Sau công nguyên, khái niệm CLCS được đề cập lần
đầu tiên vào năm 1920 [20] và được biết đến rộng rãi kể từ những năm 1960. Kể từ khi
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa lại sức khỏe ngoài việc không có ốm đau
bệnh tật mà còn cảm thấy hạnh phúc cả về thể chất, lẫn tinh thần và xã hội [21], các
khía cạnh của CLCS ngày càng trở nên phổ biến trong chăm sóc và nghiên cứu về sức


15

khỏe. Mặc dù CLCS được coi là một vấn đề quan trọng của sức khỏe, nhưng cho đến
nay trên thế giới vẫn chưa có một định nghĩa chung nhất về CLCS.
Trong những năm 1960 và những năm 1970, CLCS thường được xác định
trên toàn cầu với sự kết hợp về ý tưởng của sự hài lòng/ không hài lòng và hạnh
phúc/ không hạnh phúc [22]. Theo Abrams (1973), CLCS là mức độ hài lòng hoặc
không hài lòng được cảm nhận bởi con người với các khía cạnh khác nhau trong
cuộc sống của họ[23] và Andrew (1974), CLCS như là mức độ niềm vui và sự hài
lòng đặc trưng cho sự tồn tại của con người [24].
Trong những năm 1980 và những năm 1990, định nghĩa về CLCS thường
được chia thành một loạt các khía cạnh và xu hướng này vẫn còn tiếp tục cho đến
ngày nay. George và Bearon (1980) định nghĩa CLCS theo 4 khía cạnh cơ bản là:
sức khỏe chung, tình trạng chức năng và tình trạng xã hội, sự hài lòng với cuộc sống
và các yếu tố liên quan, sự tự tin và các yếu tố liên quan [25]. Clark và Bowling
(1989) định nghĩa CLCS không chỉ có năng lực chức năng, mức độ hoạt động, trạng
thái tinh thần, tuổi thọ mà còn bao gồm các khái niệm về sự riêng tư, tự do, tôn
trọng cá nhân, tự do lựa chọn, cảm xúc hạnh phúc và duy trì phẩm giá [26]. Ferrans
và Power (1985), định nghĩa CLCS như là nhận thức hay cảm giác hạnh phúc của
con người bắt nguồn từ sự hài lòng hoặc không hài lòng với các lĩnh vực của cuộc
sống quan trọng đối với họ. Mô hình này bao gồm lĩnh vực: sức khỏe và chức năng,
tâm lý và tâm linh, kinh tế xã hội và gia đình [27]. Mặc dù có rất nhiều định nghĩa

diện cho hàng loạt các trải nghiệm của con người bao gồm nhiều lĩnh vực, chẳng
hạn như cộng đồng, giáo dục, cuộc sống gia đình, tình bạn, sức khỏe, nhà ở, hôn
nhân, quốc gia, khu vực, bản thân, mức sống và việc làm. CLCS thường được sử
dụng trong lĩnh vực xã hội học, kinh tế, khoa học chính trị, và tâm lý học. CLCS liên
quan đến sức khỏe tập trung vào sức khỏe và thường được sử dụng trong lĩnh vực
chăm sóc sức khỏe. Trong nghiên cứu y tế, CLCS liên quan đến sức khỏe mô tả những
gì người bệnh đã trải nghiệm như là kết quả của việc chăm sóc y tế, giúp đánh giá sự
khác biệt giữa những gì dự kiến và thực tế điều trị một cách toàn diện chứ không chỉ là
các yếu tố thể hiện trên lâm sàng. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng tôi sẽ
nghiên cứu về CLCS liên quan đến sức khỏe và viết ngắn gọn là CLCS.


17

1.3.2. Các phương pháp đo lường chất lượng cuộc sống
CLCS liên quan đến sức khỏe cùng với tình trạng ốm đau và tử vong là các
chỉ số được sử dụng để đo lường sức khỏe của các cá nhân và quần thể. Có hai cách
tiếp cận thường được sử dụng để đo lường CLCS đó là: trực tiếp và gián tiếp [31].
1.3.2.1. Phương pháp trực tiếp
Theo phương pháp này CLCS được đo trực tiếp và tổng thể thông qua hệ số
chất lượng sống liên quan đến một điều kiện sức khỏe nhất định. Hiện nay có ba
phương pháp được sử dụng khá phổ biến là phương pháp trao đổi thời gian, phương
pháp thang điểm trực giác và phương pháp đặt cược. Các phương pháp đo lường
chất lượng cuộc sống trực tiếp có ưu điểm là ngắn gọn, cho kết quả nhanh chóng và
không làm mất nhiều công sức và thời gian của người được phỏng vấn. Phương
pháp trực tiếp thường được áp dụng trong các trường hợp đánh giá kinh tế y tế[29].
1.3.2.2 Phương pháp gián tiếp
Phương pháp gián tiếp đánh giá CLCS qua các chỉ số đo lường các khía cạnh
khác nhau của cuộc sống như khía cạnh thể chất, tinh thần, xã hội, môi trường…Cho
đến nay, các thang đo CLCS vẫn tiếp tục được phát triển và hoàn thiện [30]. Có hằng

CLCS một cách toàn diện. Đây là bộ công cụ nghiên cứu CLCS đa mục đích, gồm
36 câu hỏi ngắn điều tra về tình trạng sức khỏe, với 8 lĩnh vực chức năng bao gồm:
các chức năng về hoạt động thể chất, các hạn chế hoạt động do thể chất, các hạn chế
do hoạt động tinh thần, sức sống, sự thoải mái về tinh thần, cơn đau và sự khó chịu,
các vấn đề xã hội, tình trạng sức khỏe chung [32]. Mặc dù vậy, SF-36 có đặc điểm
là dài nên để áp dụng cho những nghiên cứu cần đánh giá nhanh, người ta rút gọn
để có bộ công cụ SF-12, SF-12 là bộ câu hỏi đánh giá CLCS liên quan đến sức khỏe
với 12 câu hỏi và có ưu điểm ngắn gọn, dễ trả lời, được sử dụng để đánh giá CLCS
của người bệnh, bao gồm hai lĩnh vực sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần. SF12 thường được sử dụng với những nghiên cứu có cỡ mẫu lớn và khi nghiên cứu
cần tìm hiểu nhiều thông tin khác nữa [30]. Tuy nhiên, SF-12 chưa đi vào chi tiết
các khía cạnh thể chất và tâm thần nên có hạn chế trong việc đo lường các khía cạnh
của CLCS một cách toàn diện và chi tiết.
Để đánh giá CLCS toàn diện hơn, TCYTTG nghiên cứu và cho ra đời bộ
công cụ WHOQOL-100. Đây là bộ công cụ cập nhật nhiều nhất các khía cạnh của
CLCS, bao gồm 6 khía cạnh: thể chất, tâm lý, tâm linh, kinh tế và môi trường được


19

xem là bộ công cụ đo lường CLCS toàn diện, chi tiết. Ở bộ công cụ này, CLCS là
cảm nhận có tính chủ quan của cá nhân đặt trong cũng có hạn chế trong phạm vi sử
dụng và TCYTTG đã rút gọn để có bộ công cụ WHOQOL-26 [37].
Ngoài các bộ công cụ tổng quát còn có bộ công cụ đo lường CLCS chuyên
biệt. Những bộ công cụ này chú trọng vào các khía cạnh sức khỏe phù hợp nhất với
tình trạng bệnh tật đang được nghiên cứu và những đặc trưng của nhóm bệnh nào
đó, do vậy thang đo này thường được sử dụng trong các nghiên cứu lâm sàng để
đánh giá các can thiệp điều trị chuyên biệt. Nhà nghiên cứu muốn tăng khả năng
phát hiện sự thay đổi về CLCS do tác động của các can thiệp lâm sàng do đó thường
chỉ đưa vào nghiên cứu một số lĩnh vực quan trọng của CLCS liên quan trực tiếp
đến những bệnh cụ thể[38].

là tuổi cao thì CLCS giảm, trình độ học vấn càng thấp thì CLCS càng giảm, nữ giới
có CLCS thấp hơn nam giới, người bệnh có biến chứng với số lượng biến chứng
càng lớn thì CLCS càng thấp (p
22

biệt có ý nghĩa thống kê về CLCS của người bệnh ĐTĐ tuýp 2 ở thành thị, nông
thôn và sự tiếp cận dịch vụ của người bệnh ở hai địa bàn này. Nghiên cứu có hạn
chế là do phải sử dụng mẫu thuận tiện và cỡ mẫu nhỏ nên hạn chế trong việc phân
tích và khái quát hóa kết quả, số lượng mẫu lớn hơn có thể cung cấp thêm các yếu
tố liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các biến nghiên cứu và sự khác biệt giữa các
nhóm nghiên cứu [4].
1.4.2. Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân
ĐTĐ tuýp 2 ở Việt Nam
Tại Việt Nam, đã có các nghiên cứu về CLCS sử dụng bộ câu hỏi SF-36 với
các nhóm người bệnh mắc các bệnh khác nhau. Trần Kim Trang và cộng sự nghiên
cứu CLCS của người bệnh tăng huyết áp bằng bộ câu hỏi SF-36 [44]. Cũng với bộ
câu hỏi SF-36, Lâm Nguyễn Nhã Trúc và cộng sự nghiên cứu CLCS của người
bệnh suy thận giai đoạn cuối trước và sau chạy thận nhân tạo [45]. Tuy nhiên,
nghiên cứu về CLCS của người bệnh ĐTĐ chưa có nhiều, hiện tại chúng tôi tìm
được một số nghiên cứu tại Việt Nam.
Tác giả Võ Tuấn Khoa (2008) sử dụng bộ công cụ SF-36 để so sánh CLCS
của ba nhóm đối tượng gồm 36 người bệnh ĐTĐ có biến chứng đoạn chi, 36 người
bệnh không có biến chứng đoạn chi và 36 thân nhân người bệnh ĐTĐ vào chăm sóc
tại bệnh viện Chợ Rẫy. Kết quả nghiên cứu cho thấy: ở nhóm ĐTĐ có biến chứng
đoạn chi điểm CLCS cao nhất ở lĩnh vực hoạt động chức năng (56,6±34,7), điểm
CLCS thấp nhất ở lĩnh vực đánh giá sức khỏe chung (28,3±22,9). Với nhóm người
bệnh ĐTĐ không có biến chứng đoạn chi, lĩnh vực hoạt động chức năng, đánh giá
sức khỏe chung điểm cao hơn nhóm có biến chứng (63,3±25,1 và 37,4±24). Nghiên
cứu cũng cho thấy điểm CLCS của nhóm ĐTĐ có biến chứng đoạn chi so với nhóm
thân nhân người bệnh là rất thấp ở tất cả các lĩnh vực sức khỏe (p
tuýp 2. Kết quả cho thấy lĩnh vực hoạt động thể chất có điểm CLCS cao nhất là
64,86 ± 22,30, lĩnh vực sức khỏe tổng quát có điểm CLCS thấp nhất là 43,07 ±
19,14. Hai khía cạnh sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần có điểm CLCS lần lượt
là 54,14 ± 20,79 và 53,13 ± 17,98. Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố liên quan đến


24

CLCS của bênh nhân ĐTĐ tuýp 2 như: nam giới có điểm CLCS cao hơn nữ ở tất cả
các lĩnh vực sức khỏe (p
bệnh
Đường
huyết

Nghiên
cứu đánh giá CLCS của người bệnh ĐTĐ tuýp 2 tại Việt Nam đã có
Giới

không được phát hiện và điều trị kịp thời [5], làm gia tăng các biến chứng thì việc
đánh giá CLCS và các yếu tố liên quan với mục đích nâng cao CLCS của các bệnh
nhân ĐTĐ trở nên rất quan trọng.
1.5. Khung lý thuyết: Các yếu tố liên quan đến CLCS của người bệnh ĐTĐ
tuýp 2
Khung lý thuyết này được xây dựng dựa trên khái niệm về CLCS của
WHO, trên cơ sở tìm hiểu, xem xét kỹ lưỡng các đặc điểm lâm sàng, các nghiên cứu
trong nước và quốc tế về vấn đề CLCS người bệnh ĐTĐ tuýp 2 [27], [28], [39].

Trong khuôn khổ của nghiên cứu này chúng
tập trung
vàochính
đánh giá
Cơ sởtôiY tế-Vấn
đề tài
Sức khỏe thể chất
Chế độ ăn
Mối
quan hệ riêng tư
Trí
nhớ,
nhận

hệ
vợ/chồng
- Hay quên
- Tăng gánh nặng tài chính
Ảnh
hưởng
đến công
việc
hàng
ngàycạnh
-Thoải mái với
độ-chất,
ăn
kiêng
cạnhchếthể
khía cạnh
tinh
thầnnhớ
và lại
khía
xã hội là sự phụ thuộc
củadục
người
hệ tình
- Khó
- Khó khăn chi trả -Quan
trong tương
lai so với 6 tháng t
-Cản
trở

02 Bác sỹ và 03 Điều dưỡng mà phải đảm nhiệm khám cho từ 60 - 70 người bệnh /1
bàn khám / ngày và chủ yếu tập trung vào buổi sáng nên ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng khám bệnh. Các cán bộ y tế không có nhiều thời gian để tư vấn, do vậy NB
chủ yếu đến lấy thuốc định kỳ rồi về [51]. Mặt khác, tại khoa Khám bệnh cũng
chưa có phòng tư vấn dinh dưỡng và giáo dục sức khỏe. Việc tư vấn cho NB là do
Bác sỹ và Điều dưỡng trực tiếp giải thích và tư vấn làm cho NB mất nhiều thời gian
cho việc chờ đợi khám bệnh [48]. Tất cả những điều này ảnh hưởng không nhỏ đến
tuân thủ điều trị của người bệnh ĐTĐ tại Phòng khám Nội tiết Trung tâm Y tế thành
phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc [48], [49].

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Người bệnh đang điều trị ngoại trú ĐTĐ tuýp 2 tại Trung tâm Y tế thành
phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Hồ sơ bệnh án của những người bệnh ĐTĐ tuýp 2 tham gia vào nghiên
cứu.
• Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
- Người bệnh có chẩn đoán xác định ĐTĐ tuýp 2.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status