BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ BÍCH HẢI
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI
THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI
TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ VĨNH YÊN NĂM
2018 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành : Quản lý Bệnh viện
Mã số
: 60720701
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGUYỄN ĐĂNG VỮNG
HÀ NỘI - 2018
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ...........................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU.....................................................................4
1.1. Bệnh đái tháo đường......................................................................................4
1.1.1. Định nghĩa................................................................................................4
1.1.2. Chẩn đoán bệnh đái tháo đường:.............................................................4
1.1.3. Phân loại đái tháo đường..........................................................................4
2.8.2.Cách khắc phục sai số..............................................................................33
2.9. Xử lý và Phân tích số liệu.............................................................................34
2.10. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu.................................................................34
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...............................................35
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu..................................................35
3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC.......................................................35
3.1.2. Đặc điểm lâm sàng của ĐTNC................................................................36
3.2. Mô tả điểm CLCS của người bệnh ĐTĐ tuýp 2...........................................38
3.3. Một số yếu tố liên quan với CLCS của người bệnh ĐTĐ tuýp 2.................47
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN.......................................................................49
4.1. Mô tả chất lượng cuộc sống người bệnh đái tháo đường tuýp 2 điều trị
ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Vĩnh Yên, năm 2018....................49
4.2. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh đái
tháo đường tuýp 2 ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Vĩnh Yên năm
2018..............................................................................................................49
4.3. Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu..........................................................49
DỰ KIẾN KẾT LUẬN..........................................................................................50
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ..................................................................................51
KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
DỰ KIẾN KINH PHÍ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1:
Số người bệnh ĐTĐ tại 10 nước .........................................................9
Bảng 2.1.
số đặc điểm cá nhân của ĐTNC.........................................................39
Bảng 3.7.
Phân bố điểm CLCS về lĩnh vực sức khỏe thể chất giữa một số đặc
điểm lâm sàng của ĐTNC..................................................................40
Bảng 3.8.
Mô hình hồi quy tuyến tính đa phân tích yếu tố liên quan đến điểm
CLCS về lĩnh vực sức khỏe thể chất của ĐTNC................................41
Bảng 3.9.
Phân bố điểm trung bình CLCS lĩnh vực sức khỏe tinh thần giữa một
số đặc điểm cá nhân của ĐTNC.........................................................42
Bảng 3.10.
Phân bố điểm trung bình CLCS lĩnh vực sức khỏe tinh thần giữa một
số đặc điểm lâm sàng của ĐTNC.......................................................43
Bảng 3.11.
Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến phân tích yếu tố liên quan đến
điểm CLCS về lĩnh vực sức khỏe tinh thần của ĐTNC......................44
Bảng 3.12.
Phân bố điểm CLCS chung giữa một số đặc điểm cá nhân của ĐTNC.. .45
ĐTV
Điều tra viên
GSV
Giám sát viên
NB
Người bệnh
SD
Độ lệch chuẩn
TCYTTG
Tổ chức Y tế thế giới
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong các bệnh mãn tính phổ biến nhất mà có
thể dẫn đến các biến chứng trầm trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống (CLCS)
của người bệnh. Đái tháo đường là một trong những nguyên nhân chính của nhiều
bệnh hiểm nghèo như bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, liệt
dương, hoại thư...[1]. Các biến chứng liên quan đến bệnh ĐTĐ gây tử vong và tăng
gánh nặng chi phí cho người bệnh, gia đình và xã hội. Tất cả các biến chứng dù nhẹ
biến chứng này cùng với các stress về tâm lý không chỉ làm giảm tuổi thọ mà còn
ảnh hưởng trầm trọng tới CLCS của người bệnh.
Đo lường CLCS không những đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá
tác động của bệnh tật tới tình trạng sức khỏe thể chất, khả năng hoạt động, đời sống
tâm lý hoặc tinh thần của người bệnh, mà còn cung cấp những thông tin có giá trị
giúp cho các cán bộ y tế và người bệnh cùng hợp tác đưa ra quyết định lựa chọn tốt
nhất có thể về những chỉ định can thiệp phù hợp trong quá trình chăm sóc và điều trị
người bệnh, đồng thời cũng giúp đánh giá sự thay đổi CLCS trong suốt quá trình
điều trị, giúp có cái nhìn toàn diện hơn về tác động của điều trị và bệnh tật tới người
bệnh[7]. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu đo lường tác động của bệnh tật lên
CLCS của người bệnh như ung thư, tăng huyết áp, suy thận mãn, thay khớp háng,
ĐTĐ…Adam Ljoyd (2011) thực hiện nghiên cứu tại Anh đánh giá CLCS của 1233
người bệnh ĐTĐ tuýp 2 không sử dụng insulin bằng bộ câu hỏi SF-36, kết quả người
bệnh ĐTĐ tuýp 2 có biến chứng thậm chí là nhẹ cũng tác động đáng kể lên CLCS
của họ[2]. Tuy nhiên ở Việt Nam các nghiên cứu về CLCS lại chưa được quan tâm
nhiều. đặc biệt là nghiên cứu về CLCS của người bệnh mắc các bệnh mãn tính [8].
Ở Việt Nam, CLCS của người bệnh ĐTĐ đã được nghiên cứu tại một số nơi
như bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Nhân dân 115, bệnh viện Lê Lợi (Vũng Tàu),…
cho kết quả điểm CLCS giao động ở mức 28 đến 65 điểm, và chất lượng cuộc sống
bị ảnh hưởng bởi yếu tố như có biến chứng đoạn chi hay biến chứng nói chung,
giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn, thời gian mắc bệnh,… [8], [46], [7].
Vậy CLCS của người bệnh ĐTĐ tuýp 2 đang điều trị tại Phòng khám nội tiết
Khoa Khám bệnh trung tâm Y tế thành phố Vĩnh Yên hiện tại ra sao? Những yếu tố
3
nào liên quan đến CLCS của họ? Làm thế nào để cải thiện CLCS của người bệnh
ĐTĐ tuýp 2? Đó là những câu hỏi cần được giải đáp. Xuất phát từ thực tế này,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống của người bệnh Đái tháo
đường tuýp 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Vĩnh Yên năm 2018
1,26g/l (≈7mmol/l), trong 2
buổi sáng khác nhau.
+ Gulucose máu ở thời điểm bất kỳ ≥ 2g/l (≈11,1 mmol/l) có kèm theo triệu
chứng lâm sàng ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, sụt cân không.
+ Gulucose máu sau 2 giờ làm nghiệm pháp tăng đường huyết ≥11,1 mmol/l
(sau khi uống 75g glucose).
+ HbAlc ≥6,5% (xét nghiệm được thực hiện tại phòng xét nghiệm sử dụng
phương pháp chuẩn).
1.1.3. Phân loại đái tháo đường
1.1.3.1. Đái tháo đường tuýp 1 (ĐTĐ phụ thuộc insulin)
ĐTĐ tuýp 1 là do sự phá hủy tế bào Bê-ta của tuyến tụy nên tụy không sản
xuất ra đủ lượng insulin cần thiết cho cơ thể. Phần lớn xảy ra ở trẻ em, người trẻ
tuổi và thường có yếu tố tự miễn. Ở Việt Nam chưa có số liệu điều tra quốc gia,
nhưng theo thống kê từ các bệnh thì tỷ lệ mắc ĐTĐ tuýp 1 vào khoảng 7-8% tổng
số người bệnh ĐTĐ [3].
5
1.1.3.2. Đái tháo đường tuýp 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insulin)
Đái tháo đường tuýp 2 là thể thường gặp nhất chiếm tỷ lệ khoảng 90% các
thể ĐTĐ, thường gặp ở những người trưởng thành trên 40 tuổi. Tuy nhiên, trong
một vài thập kỉ gần đây thì ĐTĐ tuýp 2 không còn xa lạ ở nhóm tuổi dậy thì và tiền
dậy thì, kể cả ở trẻ nhỏ. Tỷ lệ ĐTĐ tăng nhanh ở những lứa tuổi này liên quan đến
tỷ lệ tăng béo phì ở trẻ nhỏ trên thế giới. Có 30-50% trẻ em thừa cân béo phì có
nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ [3]. Đặc trưng của ĐTĐ tuýp 2 là kháng insulin làm giảm
tác dụng của insulin. ĐTĐ tuýp 2 thường được chẩn đoán rất muộn vì giai đoạn đầu
tăng gulucose máu tiến triển âm thầm không có triệu chứng. khi bệnh có biểu hiện
lâm sàng thường kèm theo các biến chứng thận, mắt, thần kinh, tim mạch…nhiều
tố nguy cơ gây bệnh ĐTĐ. Tình trạng thiếu hụt các yếu tố vi lượng hoặc vitamin
góp phần làm thúc đẩy sự tiến triển bệnh ở người trẻ tuổi cũng như người cao tuổi.
các yếu tố khác có thể là yếu tố nguy cơ của ĐTĐ bao gồm cuộc sống có nhiều áp
lực không được giải tỏa, lối sống phương Tây hóa, thành thị hóa [3].
1.1.5. Biến chứng của bệnh đái tháo đường
Bệnh ĐTĐ nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, bệnh sẽ tiến
triển nhanh chóng và sẽ xuất hiện các biến chứng cấp tính và mạn tính. Các biến
chứng của ĐTĐ thường xuất hiện sau khoảng 10 ngày bị tăng glucose huyết. Thời
gian tăng glucose huyết càng dài thì nguy cơ của các biến chứng mạn tính ngày
càng tăng [10].
1.1.5.1. Biến chứng cấp tính
Biến chứng cấp tính của bệnh ĐTĐ thường là hậu quả của chẩn đoán muộn,
điều trị không thích hợp, hoặc nhiễm khuẩn cấp tính. Biến chứng cấp tính có thể đe
dọa tính mạng người bệnh, thường hay gặp ở các quốc gia đang phát triển. Nhiễm
toan ceton và hôn mê do nhiễm toan ceton là một biến chứng gây nguy hiểm đến
tính mạng người bệnh, nguyên nhân là thiếu insulin đã gây ra rối loạn nặng nề trong
chuyển hóa protein, lipid và carbohydrate. Mặc dù y học hiện đại đã có nhiều tiến
bộ về trang thiết bị, điều trị và chăm sóc nhưng tỷ lệ tử vong rất cao 5-10% so với
người bệnh không bị biến chứng này [11]. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là tình
trạng rối loạn glucose nặng, đường huyết cao. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu chiếm
5-10% người bệnh ĐTĐ. Người bệnh ĐTĐ tuýp 2 nhiều tuổi (>60 tuổi) tỷ lệ tử
7
vong cao 10-30% so với người bệnh ít tuổi hơn [11]. Hạ đường huyết là biến chứng
cấp tính, thường do quá liều thuốc insulin gây nên. Có thể do người bệnh nhịn đói
hoặc kiêng khem quá mức hay do uống nhiều rượu, nếu không điều trị kịp thời có
thể hôn mê, thậm chí tử vong. Một số biến chứng cấp tính liên quan đến các bệnh
nhiễm trùng cấp khác như nhiễm trùng ngoài da, viêm âm đạo, âm hộ, nhiễm khuẩn
đường tiết niệu, viêm tai.
diễn biến bất thường của bệnh [12].
1.1.6.2. Phòng ngừa biến chứng mạn tính
Người bệnh ĐTĐ được cung cấp những kiến thức để lựa chọn một chế độ
sinh hoạt, luyện tập phù hợp với tình trạng bệnh lý của mình, kiểm soát tốt glucose
máu. Điều trị tích cực kết hợp điều chỉnh các rối loạn chuyển hóa lipid, các rối loạn
đông máu, hạn chế tình trạng dễ viêm nhiễm, tăng hoạt động thể lực, giảm cân, loại
bỏ thói quen không có lợi cho bệnh như hút thuốc lá, uống rượu…Đặc biệt, người
bệnh ĐTĐ cần sàng lọc, khám định kỳ để phát hiện sớm bệnh lý mắt, cầu thận, thần
kinh do biến chứng ĐTĐ [12].
1.2. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới
ĐTĐ là bệnh chuyển hóa thường gặp nhất và đã có từ lâu, nhưng đặc biệt
phát triển trong những năm gần đây. Bệnh tăng nhanh theo tốc độ phát triển của nền
kinh tế xã hội. Các công trình nghiên cứu về tính chất dịch tễ bệnh ĐTĐ cho thấy:
tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng lên hàng năm, cứ 15 năm thì tỷ lệ này tăng lên gấp đôi,
tuổi càng tăng thì tỷ lệ mắc càng cao, từ 65 tuổi trở lên thì tỷ lệ này lên tới 16% [5].
ĐTĐ được xếp vào một trong ba bệnh thường gây tàn phế và tử vong cao nhất đó là
xơ vữa động mạch, ung thư. TCYTTG đã lên tiếng “báo động” về mối lo ngại này
trên toàn thế giới:
+ Năm 1985: cả thế giới có 30 triệu người mắc bệnh ĐTĐ
+ Năm 1994: cả thế giới có khoảng 110 triệu người mắc ĐTĐ, trong đó 98,9
triệu người mắc ĐTĐ tuýp 2.
+ Năm 2000: có 151 triệu người mắc bệnh ĐTĐ
+ Năm 2010: có ≈221 triệu người mắc ĐTĐ, trong đó có khoảng 215,6 triệu
người ĐTĐ tuýp 2.
9
+ Dự đoán năm 2025 có khoảng 300- 350 triệu người bị bệnh ĐTĐ [1]
Tỷ lệ mắc bệnh theo từng nước có nền công nghiệp phát triển hay đang phát
6,3
8,5
Indonesia
4,5
12,4
Brazil
4,9
11,6
Mexico
3,8
11,7
Pakistan
4,3
14,5
Ukraina
cùng một địa điểm, cùng nhóm tuổi và phương pháp nghiên cứu giống năm 1990
cho thấy tỷ lệ ĐTĐ đã tăng lên gấp đôi (2,16%) [3] (số liệu cũ quá cần cập nhật số
liệu mới hơn!). Tại thành phố Hồ Chí Minh (1993) tỷ lệ ĐTĐ tuýp 2 là 2,52%, năm
2001 tỷ lệ ĐTĐ ở nội thành là 2,5% và tỷ lệ này tăng gấp 2,5 lần sau 8 năm (6,9%
so với 2,5%) [15]. Năm 2001, một cuộc điều tra dịch tễ về bệnh ĐTĐ theo quy
chuẩn quốc tế tại 4 thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí
minh) cho kết quả tỷ lệ mắc ĐTĐ là 4,0%, riêng quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) tỷ lệ
này lên tới 7%. Theo điều tra quốc gia về ĐTĐ năm 2002 cho thấy tỷ lệ người bệnh
ĐTĐ tăng lên so với nghiên cứu ở thập niên 90. Năm 2002, tỷ lệ ĐTĐ trên toàn
quốc chiếm 2,7% (khu vực thành phố 4,4%, miền núi và trung du 2,1%, đồng bằng
2,7%) [5]. Kết quả điều tra dịch tễ học bệnh ĐTĐ toàn quốc năm 2012 do Bệnh
viện Nội tiết trung ương tiến hành, tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ toàn quốc ở người trưởng
thành là 5,42%. Tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ tăng dần theo nhóm tuổi, cụ thể là 1,7% ở
nhóm tuổi từ 30-39; 3,7% ở nhóm tuổi từ 40-49; 7,5% ở nhóm tuổi từ 50-59 và
9,9% ở nhóm tuổi từ 60 đến 69 tuổi [16].
Bệnh ĐTĐ tuýp 2 còn được gọi là “kẻ giết người thầm lặng” do bệnh âm
thầm tiến triển trong cơ thể con người. Vì vậy, một số lượng không nhỏ người bệnh
chỉ có thể phát hiện ra mình bị bệnh ĐTĐ khi bệnh đã có những biến chứng như
giảm thị lực do đục thủy tinh thể, bệnh lý võng mạc, biến chứng thận, biến chứng
tim mạch…Việc phát hiện muộn ĐTĐ sẽ gây thêm những tốn kém cho công tác
điều trị bệnh cũng như ảnh hưởng không nhỏ tới CLCS của người bệnh. Kết quả
điều tra năm 2012 cho thấy tỷ lệ rất lớn người bệnh ĐTĐ chưa được chẩn đoán tại
cộng đồng (năm 2002 là 64,6%, năm 2002 là 63,3%). Trước đây người bệnh ĐTĐ
tuýp 2 thường xuất hiện ở những người trên 40 tuổi. Điều đáng lo ngại hiện nay là
bệnh xuất hiện ở lứa tuổi trẻ càng nhiều. Trên thực tế, nhiều người bệnh ĐTĐ tuýp
11
2 mắc bệnh ở lứa tuổi còn rất trẻ từ 11 đến 15 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu là hiện
tượng thừa cân, béo phì đang tăng nhanh ở lứa tuổi thiếu niên, đây là yếu tố nguy cơ
Trong những năm 1960 và những năm 1970, CLCS thường được xác định
trên toàn cầu với sự kết hợp về ý tưởng của sự hài lòng/ không hài lòng và hạnh
phúc/ không hạnh phúc [22]. Theo Abrams (1973), CLCS là mức độ hài lòng hoặc
không hài lòng được cảm nhận bởi con người với các khía cạnh khác nhau trong
cuộc sống của họ[23] và Andrew (1974), CLCS như là mức độ niềm vui và sự hài
lòng đặc trưng cho sự tồn tại của con người [24].
Trong những năm 1980 và những năm 1990, định nghĩa về CLCS thường
được chia thành một loạt các khía cạnh và xu hướng này vẫn còn tiếp tục cho đến
ngày nay. George và Bearon (1980) định nghĩa CLCS theo 4 khía cạnh cơ bản là:
sức khỏe chung, tình trạng chức năng và tình trạng xã hội, sự hài lòng với cuộc sống
và các yếu tố liên quan, sự tự tin và các yếu tố liên quan [25]. Clark và Bowling
(1989) định nghĩa CLCS không chỉ có năng lực chức năng, mức độ hoạt động, trạng
thái tinh thần, tuổi thọ mà còn bao gồm các khái niệm về sự riêng tư, tự do, tôn
trọng cá nhân, tự do lựa chọn, cảm xúc hạnh phúc và duy trì phẩm giá [26]. Ferrans
và Power (1985), định nghĩa CLCS như là nhận thức hay cảm giác hạnh phúc của
con người bắt nguồn từ sự hài lòng hoặc không hài lòng với các lĩnh vực của cuộc
sống quan trọng đối với họ. Mô hình này bao gồm lĩnh vực: sức khỏe và chức năng,
tâm lý và tâm linh, kinh tế xã hội và gia đình [27]. Mặc dù có rất nhiều định nghĩa
về CLCS của các tác giả, tuy nhiên định nghĩa của TCYTTG được sử dụng khá phổ
biến và toàn diện hơn so với các tác giả khác. Theo đó, CLCS là sự hiểu biết của cá
nhân về vị trí xã hội của họ trong bối cảnh văn hóa và hệ thống các giá trị mà họ
thuộc về; và trong mối quan hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và mối quan
tâm của họ [28].
Từ định nghĩa trên cho ta thấy, các khía cạnh của sức khỏe thường phụ thuộc
vào quan điểm hay nhận thức mà người bệnh, cán bộ y tế hay các nhà nghiên cứu
muốn đánh giá về sức khỏe. Tuy nhiên một số khía cạnh của CLCS như mức thu
nhập hay môi trường sống không được coi là sức khỏe dù chúng có thể có những
tác động bất lợi lên sức khỏe.
14
CLCS liên quan đến sức khỏe cùng với tình trạng ốm đau và tử vong là các
chỉ số được sử dụng để đo lường sức khỏe của các cá nhân và quần thể. Có hai cách
tiếp cận thường được sử dụng để đo lường CLCS đó là: trực tiếp và gián tiếp [31].
1.3.2.1. Phương pháp trực tiếp
Theo phương pháp này CLCS được đo trực tiếp và tổng thể thông qua hệ số
chất lượng sống liên quan đến một điều kiện sức khỏe nhất định. Hiện nay có ba
phương pháp được sử dụng khá phổ biến là phương pháp trao đổi thời gian, phương
pháp thang điểm trực giác và phương pháp đặt cược. Các phương pháp đo lường
chất lượng cuộc sống trực tiếp có ưu điểm là ngắn gọn, cho kết quả nhanh chóng và
không làm mất nhiều công sức và thời gian của người được phỏng vấn. Phương
pháp trực tiếp thường được áp dụng trong các trường hợp đánh giá kinh tế y tế[29].
1.3.2.2 Phương pháp gián tiếp
Phương pháp gián tiếp đánh giá CLCS qua các chỉ số đo lường các khía cạnh
khác nhau của cuộc sống như khía cạnh thể chất, tinh thần, xã hội, môi trường…Cho
đến nay, các thang đo CLCS vẫn tiếp tục được phát triển và hoàn thiện [30]. Có hằng
trăm công cụ được triển khai và sử dụng để đánh giá CLCS, nhưng hiện nay chỉ có
khoảng 50 công cụ được sử dụng thường xuyên. Có điểm giống nhau và cũng có
những khác biệt ở từng bộ công cụ[29]. Tuy nhiên, các bộ công cụ dùng để đo
lường CLCS gián tiếp được chia làm hai loại: bộ công cụ đo lường CLCS tổng quát
và bộ công cụ đo lường CLCS chuyên biệt [31].
Bộ công cụ đo lường CLCS tổng quát thường được áp dụng cho các đối
tượng trong dân số nói chung để đánh giá phổ thay đổi rộng của các lĩnh vực sức
khỏe. Ưu điểm của bộ công cụ này là rất hữu ích trong các nghiên cứu thăm dò sức
khỏe tổng quát và so sánh giữa các nhóm đối tượng dân số có tình trạng bệnh lý
khác nhau. Nhược điểm của công cụ này là chưa đủ khả năng để đánh giá được các
vấn đề chuyên sâu của đối tượng đang mắc các bệnh lý cụ thể do đó có thể không
phát hiện được sự thay đổi về CLCS đặc thù cho một số bệnh lý chuyên biệt [31].
Nhìn chung có khá nhiều các bộ công cụ đo lường CLCS tổng quát với độ dài ngắn
16
xem là bộ công cụ đo lường CLCS toàn diện, chi tiết. Ở bộ công cụ này, CLCS là
cảm nhận có tính chủ quan của cá nhân đặt trong cũng có hạn chế trong phạm vi sử
dụng và TCYTTG đã rút gọn để có bộ công cụ WHOQOL-26 [37].
Ngoài các bộ công cụ tổng quát còn có bộ công cụ đo lường CLCS chuyên
biệt. Những bộ công cụ này chú trọng vào các khía cạnh sức khỏe phù hợp nhất với
tình trạng bệnh tật đang được nghiên cứu và những đặc trưng của nhóm bệnh nào
đó, do vậy thang đo này thường được sử dụng trong các nghiên cứu lâm sàng để
đánh giá các can thiệp điều trị chuyên biệt. Nhà nghiên cứu muốn tăng khả năng
phát hiện sự thay đổi về CLCS do tác động của các can thiệp lâm sàng do đó thường
chỉ đưa vào nghiên cứu một số lĩnh vực quan trọng của CLCS liên quan trực tiếp
đến những bệnh cụ thể[38].
Bên cạnh đó, để nghiên cứu chất lượng cuộc sống đối với người bệnh đái
tháo đường, có bộ công cụ “Chất lượng cuộc sống của người bệnh đái tháo đường
châu Á”-AsianDQOL [39]. Bộ công cụ này đã được xây dựng và thử nghiệm tại
Malaysia.
Do vậy, chúng tôi đã lựa chọn bộ công cụ này để dịch sang tiếng Việt,
thử nghiệm tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ trước khi tiến hành nghiên cứu
chính thức.
1.4. Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của người
bệnh đái tháo đường
1.4.1. Một số nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về CLCS của người bệnh ĐTĐ tuýp 2.
Các tác giả đã sử dụng các bộ công cụ khác nhau và phương pháp tiến hành khác
nhau. Kết quả của một số nghiên cứu đã cho thấy có sự khác biệt về điểm CLCS
giữa các nhóm yếu tố nhân khẩu-xã hội/ nghề nghiệp: giới tính, nghề nghiệp, trình
tuýp 2 bị viêm đa dây thần kinh, 39 người bệnh ĐTĐ tuýp 2 không bị viêm đa dây
thần kinh, 19 người khỏe mạnh) tại một trường đại học và 4 huyện phía nam của Hà
Lan. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy nhóm người bệnh ĐTĐ tuýp 2 có biến chứng
viêm đa dây thần kinh có điểm trung bình CLCS không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê so với nhóm không có biến chứng (50±20 và 50±19) và thấp hơn hẳn so
với nhóm người khỏe mạnh (77±15) [42].
Nhóm tác giả Adam Lloyd và cộng sự (2001) sử dụng bộ câu hỏi SF-36 thực
hiện nghiên cứu với 1233 người bệnh ĐTĐ tuýp 2 không sử dụng insulin nhằm mục
đích đánh giá tác động của các biến chứng lên CLCS của người bệnh ĐTĐ tuýp 2
tại 12 nước châu Âu. Kết quả cho thấy các biến chứng như tăng huyết áp, tim mạch,
18
võng mạc, thần kinh ngoại vi…dù nhẹ nhất cũng ảnh hưởng đến CLCS của người
bệnh ĐTĐ tuýp 2 (p
được một số nghiên cứu tại Việt Nam.
Tác giả Võ Tuấn Khoa (2008) sử dụng bộ công cụ SF-36 để so sánh CLCS
của ba nhóm đối tượng gồm 36 người bệnh ĐTĐ có biến chứng đoạn chi, 36 người
bệnh không có biến chứng đoạn chi và 36 thân nhân người bệnh ĐTĐ vào chăm sóc
tại bệnh viện Chợ Rẫy. Kết quả nghiên cứu cho thấy: ở nhóm ĐTĐ có biến chứng
đoạn chi điểm CLCS cao nhất ở lĩnh vực hoạt động chức năng (56,6±34,7), điểm
CLCS thấp nhất ở lĩnh vực đánh giá sức khỏe chung (28,3±22,9). Với nhóm người
bệnh ĐTĐ không có biến chứng đoạn chi, lĩnh vực hoạt động chức năng, đánh giá
sức khỏe chung điểm cao hơn nhóm có biến chứng (63,3±25,1 và 37,4±24). Nghiên
cứu cũng cho thấy điểm CLCS của nhóm ĐTĐ có biến chứng đoạn chi so với nhóm
thân nhân người bệnh là rất thấp ở tất cả các lĩnh vực sức khỏe (p