ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
MA THỊ THU HUYỀN
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
CỦA BỆNH NHÂN HIV/AIDS ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI
TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN NĂM
2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Thái Nguyên - Năm 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
MA THỊ THU HUYỀN
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
CỦA BỆNH NHÂN HIV/AIDS ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI
TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN NĂM
2017
CHUYÊN NGÀNH: Y HỌC DỰ PHÒNG
MÃ SỐ: 87.20.163
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Ma Thị Thu Huyền
LỜI CAM ĐOAN
ii
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn do
tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên
cứu khoa học nào.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc./.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2018
Học viên
Ma Thị Thu Huyền
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. i
iii
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................ i
MỤC LỤC ....................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................ v
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................ vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ...................................................................... viii
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................. 1
PHỤ LỤC 1 ................................................................................................... 75
PHỤ LỤC 2 ................................................................................................... 82
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AIDS
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do nhiễm virus
HIV gây nên (Acquired Immune Deficiency Syndrome).
ART
Điều trị kháng retro vi rút (Anti-retro viral treatment).
ARV
Thuốc điều trị HIV (Anti-retrovirus).
CLCS
Chất lượng cuộc sống.
DALY
Số năm sống mất đi do gánh nặng bệnh tật (Disability
Adjusted Life Years).
HIV
Bảng 3.7. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo nhóm tuổi của đối
tượng nghiên cứu............................................................................................. 41
Bảng 3.8. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo giới tính của đối
tượng nghiên cứu............................................................................................. 41
Bảng 3.9. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo trình độ học vấn
của đối tượng nghiên cứu ................................................................................ 42
Bảng 3.10. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo nơi ở của đối
tượng nghiên cứu............................................................................................. 42
Bảng 3.11. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo nghề nghiệp của
đối tượng nghiên cứu ...................................................................................... 43
Bảng 3.12. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo khả năng tài
chính của đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 43
Bảng 3.13. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo sử dụng chất gây
nghiện của đối tượng nghiên cứu .................................................................... 44
Bảng 3.14. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo kỳ thị và phân
biệt đối xử của đối tượng nghiên cứu ............................................................. 44
Bảng 3.15. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về tình trạng hôn nhân của đối
tượng nghiên cứu............................................................................................. 45
vii
Bảng 3.16. Điểm số trung bình độ thỏa dụng theo số con của đối tượng nghiên
cứu ................................................................................................................... 45
Bảng 3.17. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo người sống cùng
của đối tượng nghiên cứu ................................................................................ 46
Bảng 3.18. Điểm số trung bình độ thỏa dụng về sức khỏe theo thời gian điều trị
ARV của đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 46
Bảng 3.19. Điểm số trung bình độ thỏa dụng sức khỏe về tổn thương nhiễm
trùng cơ hội của đối tượng nghiên cứu ........................................................... 47
ĐẶT VẤN ĐỀ
HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính mạng,
sức khỏe con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dân tộc trên
toàn cầu. Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới được phát hiện năm
1981, sau đó nhanh chóng lan ra toàn cầu.
Sau hơn 30 năm đương đầu với đại dịch HIV/AIDS, mặc dù đã có nhiều
thành tựu về y học, sinh học và xã hội học về HIV/AIDS, nhưng nỗ lực ấy vẫn
chưa đủ sức ngăn chặn đại dịch HIV/AIDS. Theo ước tính của Chương trình
phòng chống AIDS Liên hợp quốc, số người nhiễm hiện đang còn sống trên
toàn cầu là 36,7 triệu người (dao động từ 34,0 triệu - 39,8 triệu người), 2,1 triệu
ca nhiễm mới (dao động từ 1,8 triệu - 2,4 triệu người), 1,1 triệu người (dao
động từ 940.000 - 1,3 triệu người) tử vong do các bệnh liên quan đến AIDS
[48][49].
Theo thống kê của IHME năm 2016, nếu tính tổng số năm sống mất đi do
bệnh tật -DALY (Disability Adjusted Life Years) thì HIV đóng góp 2,41% tổng
gánh nặng bệnh tật trên thế giới và 1,52% tổng gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam
[26].
Với những tiến bộ gần đây trong các thử nghiệm lâm sàng và điều trị cho
những bệnh nhân nhiễm HIV và AIDS, sự sống còn của những người bệnh này
đã được tăng rõ rệt và chất lượng cuộc sống (CLCS) của họ đã trở thành trọng
tâm đối với các nhà nghiên cứu và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Chất lượng cuộc sống là một chỉ số đầu ra quan trọng trong đánh giá hiệu quả
của các can thiệp và chương trình y tế. Trong nghiên cứu về HIV, đo lường
chất lượng cuộc sống đang được sử dụng ngày càng nhiều trong những năm
gần đây, đặc biệt HIV/AIDS đang dần được nhìn nhận như một căn bệnh mạn
tính cần được điều trị lâu dài. Do vậy, xác định các yếu tố tác động đến chất
lượng cuộc sống ở bệnh nhân HIV/AIDS để cải thiện chất lượng cuộc sống cho
2
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm HIV
HIV (Human Immunodeficieny Virus) dùng để chỉ loại vi rút gây suy giảm
miễn dịch mắc phải ở người. Khi HIV xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy hệ thống
miễn dịch làm cho cơ thể con người mất khả năng chống lại các bệnh tật [3].
1.1.1.2. Khái niệm AIDS
AIDS “Acquired immunodenficiency syndrom” là hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải. Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV, giai
đoạn này hệ thống miễn dịch của cơ thể suy giảm nên người nhiễm HIV dễ mắc
nhiễm trùng cơ hội hoặc ung thư, các bệnh này diễn biến ngày càng nặng dần
dẫn đến tử vong cho người bệnh [3].
1.1.1.3. Phân loại giai đoạn nhiễm HIV/ AIDS
Gồm 4 giai đoạn [1]:
Lâm sàng giai đoạn 1: Không triệu chứng
- Không có triệu chứng.
- Bệnh lí hạch lympho toàn thân dai dẳng.
- Hoạt động mức độ 1: bình thường.
Lâm sàng giai đoạn 2: Triệu chứng nhẹ
- Sút cân dưới 10% trọng lượng cơ thể không rõ nguyên nhân.
- Biểu hiện tại da và niêm mạc: viêm tiết bã nhờn, nấm họng, loét miệng
tái diễn, viêm góc miệng,...
- Zona (herpes zoster) trong vòng 5 năm trở lại đây.
- Nhiễm trùng đường hô hấp trên tái phát (viêm xoang, viêm amidan, viêm
tai giữa,...).
5
1.1.1.4. Phân loại giai đoạn miễn dịch
Giai đoạn miễn dịch của người nhiễm HIV được đánh giá theo số lượng
tế bào T-CD4 [1]:
Phân loại giai đoạn miễn dịch ở người lớn nhiễm HIV/AIDS
Mức độ
T-CD4 (TB/mm3)
Bình thường hoặc suy giảm không đáng kể
≥ 500
Suy giảm nhẹ
350 – 499
Suy giảm tiến triển
200 – 349
Suy giảm nặng
< 200
Ngoài ý nghĩa về phân loại giai đoạn miễn dịch của người nhiễm
HIV/AIDS, số lượng tế bào T-CD4 còn có ý nghĩa trong việc đánh giá về đáp
đến 2006, gánh nặng bệnh tật do HIV/AIDS tăng lên một cách đáng kể trên cả
nước [33]. Đầu năm 2007, Luật phòng chống HIV/AIDS có hiệu lực, tạo điều
kiện thiết lập và mở rộng các chương trình phòng chống HIV/AIDS, bao gồm
các chương trình truyền thông, giảm tác hại và điều trị ARV. Điều này dẫn đến
gánh nặng bệnh tật do HIV/AIDS giảm đi nhanh chóng từ 2006-2009 [33].
7
Biểu đồ 1.1: Sự thay đổi số tử vong hàng năm do AIDS trong quần thể
người từ 15 tuổi trở lên tại Việt Nam giai đoạn 1990-2010 (Tác động của
chương trình điều trị ARV) [8].
Kết quả tại biểu đồ trên cho thấy, số bệnh nhân ADIS tử vong hàng năm
có xu hướng ngày càng tăng cao theo thời gian. Tuy nhiên, từ khi có mở rộng
chương trình điều trị ARV, số trường hợp tử vong do AIDS giảm đáng kể do
tác động từ chương trình này: các tính toán cho thấy trong vòng 10 năm kể từ
2001 đến 2010, đã có lũy tích 11.078 trường hợp tử vong do AIDS đã được
ngăn chặn bởi điều trị ARV [8]. Theo báo cáo của Cục phòng chống HIV/
AIDS, đối tượng nhiễm HIV/AIDS tập trung chủ yếu vào nhóm nghiện chích
ma túy và phụ nữ bán dâm [2].
Tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, HIV/AIDS vẫn là
nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật và tử vong ở các bệnh nhân.
Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2015, số ca tử vong do HIV/AIDS là 2.130 ca
[6], gấp gần 230 lần mức trung bình của một bệnh truyền nhiễm (10 ca tử
vong/bệnh trong tổng số 28 bệnh).
Từ những thông tin trên có thể thấy, HIV/AIDS hiện đã, đang và sẽ là một
gánh nặng đối với không chỉ người mắc bệnh mà còn với gia đình của họ, cộng
đồng xã hội Việt Nam cũng như thế giới. Hiện nay bệnh vẫn chưa có phương
pháp điều trị khỏi, do đó, giúp người dân chung sống an toàn với bệnh để giảm
những ảnh hưởng, hậu quả gây ra là một việc làm rất cần thiết.
1.2.4. Ứng dụng của đo lường chất lượng cuộc sống trong điều trị và hoạch
định chính sách
Đo lường CLCS được ứng dụng trong quá trình đưa ra các quyết định điều
trị và quá trình hoạch định chính sách.
Trong quá trình điều trị, các bác sĩ thường căn cứ vào các đặc điểm cận
lâm sàng và lâm sàng để đưa ra quyết định. Đơn giản nhất là đo nhịp tim, huyết
9
áp, xét nghiệm máu và nước tiểu,… rồi đến những phân tích cận lâm sàng cấp
cao hơn như điện tim, điện não, phân tích gene… Tuy nhiên các nhà thực hành
lâm sàng gần như chưa gắn người bệnh với bối cảnh xã hội của họ, cũng như
các vấn đề có thể ảnh hưởng đến tâm lý và thể chất của người bệnh. Để đánh
giá được các khía cạnh này, cần thiết phải đo lường CLCS của người bệnh, khi
đó các nhà thực hành lâm sàng mới có thể điều trị theo hướng vì người bệnh
chứ không phải chỉ điều trị hết căn bệnh.
Đo lường CLCS có thể giúp xác định vấn đề ưu tiên, theo dõi các thay đổi
trong việc đáp ứng với điều trị. Ngoài ra, CLCS còn giúp trong công tác quản
trị bệnh viện.
Đối với các nhà hoạch định chính sách, các thông tin liên quan các đo
lường CLCS là rất cần thiết. Hiệu quả của các can thiệp thông qua các chỉ số
CLCS, cùng với chi phí của các can thiệp này là 2 cấu phần đầu vào quan trọng
nhằm đánh giá được tính chi phí – hiệu quả của can thiệp. Từ đó các nhà hoạch
định chính sách có thể cân nhắc giữa nhiều can thiệp khác nhau để phân bổ
nguồn lực hợp lý.
1.2.5. Phương pháp đo lường CLCS
Có hai loại công cụ đo lường CLCS: công cụ đo lường ứng dụng trong các
tình trạng sức khỏe cụ thể (specific) và công cụ đo lường chung cho nhiều tình
huống (generic). Trên thế giới đã có những công cụ được phát triển nhằm đo
ninh, chăm sóc y tế và chăm sóc xã hội, gia đình, có thông tin và kỹ năng mới,
tham gia hoạt động vui chơi giải trí/giải trí, môi trường vật lý, giao thông vận
tải) [51].
Bộ công cụ EQ-5D-5L: Các nghiên cứu trước đây thường dùng thang đo
EQ-5D-3L, tuy nhiên, công cụ này không bao phủ mức trần như công cụ EQ5D-5L, do đó, ít có ý nghĩa trong theo dõi tiến triển vì không đo lường được tốt
các lợi ích tăng thêm. Thang đo EQ-5D-5L tăng số lượng lựa chọn trả lời, vì
vậy, tăng tính giá trị và độ tin cậy của công cụ. Hiện nay, đã được sử dụng như
11
một công cụ đánh giá CLCS phổ biến. EQ-5D-5L đánh giá CLCS thông qua
một chỉ số tổng hợp và là cấu phần quan trọng trong các phân tích chi phí –
hiệu quả. Ở Việt Nam, EQ-5D-5L cũng đã được chuẩn hóa và ứng dụng để đo
lường các nghiên cứu trên bệnh nhân HIV/AIDS [48]. Ngoài ra, bộ công cụ này
khá dễ để thực hiện đo lường, đánh giá.
Dựa theo những phân tích trên, nghiên cứu của chúng tôi sử dụng bộ công
cụ EQ-5D-5L để thu thập số liệu về CLCS của bệnh nhân HIV/AIDS.
1.3. Chất lượng cuộc sống trên bệnh nhân HIV/AIDS
1.3.1. Trên thế giới
Ngày nay việc tối đa hóa CLCS là trọng tâm chính của chiến lược chăm
sóc và điều trị cho người sống chung với HIV/AIDS.
Nghiên cứu của Suniti Solomon năm 2009 thực hiện trên 136 bệnh nhân
HIV/AIDS tại Ấn Độ cho thấy CLCS của bệnh nhân được cải thiện đáng kể sau
6 và 12 tháng điều trị ARV. Sử dụng công cụ đo lường CLCS trên người nhiễm
HIV/AIDS do WHO phát triển, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, CLCS đã được
cải thiện đáng kể trong tất cả những nội dung, lĩnh vực của bộ câu hỏi [43].
Nghiên cứu thực hiện trên các bệnh nhân HIV/AIDS ở giai đoạn lâm sàng
3 hoặc 4 tại Nam Phi của tác giả Jelsma đã chỉ ra, CLCS đã có sự tăng lên sau
12 tháng điều trị. Sử dụng công cụ EQ-5D, kết quả nghiên cứu cho thấy, ở tất
nói chung và các bệnh nhân điều trị ARV nói riêng tại Việt Nam còn hạn chế.
Nghiên cứu của tác giả Trần Xuân Bách thực hiện năm 2012 trên gần 1016
bệnh nhân nghiện chích ma tuý nhiễm HIV tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí
Minh sử dụng công cụ EQ-5D cho thấy, điểm trung bình chất lượng theo EQ5D và EQ-VAS lần lượt là 0,65 và 70,3 [48].
Trong nghiên cứu thực hiện năm 2011 của Trần Xuân Bách và các cộng
sự trên hơn 800 người nhiễm HIV tại 6 tỉnh thành của Việt Nam, kết quả thoả
dụng cuộc sống cao hơn so với nghiên cứu trên (0,9) [46].
13
Nghiên cứu năm 2012 sử dụng thang đo WHOQOL-BREF HIV cho thấy,
bệnh nhân có CLCS cao nhất ở khía cạnh môi trường (13,8±2,8), và thấp nhất
ở khía cạnh xã hội (11,2±3,3) [45]. Trong số các đối tượng nghiên cứu, những
bệnh nhân điều trị tại cơ sở thuộc tuyến quận/huyện và tỉnh có CLCS thấp hơn
so với các bệnh nhân điều trị tại cơ sở thuộc tuyến Trung ương. Điều này đã
cho thấy, địa điểm hay tuyến bệnh nhân đang tiếp nhận điều trị cũng có những
ảnh hưởng nhất định đến CLCS của họ. Các yếu tố khác liên quan đến CLCS
gồm có: giai đoạn lâm sàng và chỉ số CD4. Trong một nghiên cứu khác so sánh
CLCS giữa nam và nữ tại Quảng Ninh, kết quả chỉ ra rằng nam giới có CLCS
cao hơn ở khía cạnh bệnh tật, môi trường và tâm lý [47]. Tình trạng việc làm
có liên quan CLCS tốt hơn ở nam giới trong khía cạnh thể chất, tuy nhiên lại
kém hơn ở nữ giới trong khía cạnh môi trường [47].
Theo nghiên cứu của Lê Minh Giang năm 2015 trên 320 bệnh nhân điều
trị Methadone tại Hải Phòng. Bộ công cụ WHOQOL – BREF được sử dụng để
đo lường CLCS của bệnh nhân. Kết quả cho thấy, bệnh nhân có chất lượng cuộc
sống về thể chất ở mức cao nhất (72,2 ± 13,4), thấp nhất là chất lượng cuộc
sống ở khía cạnh xã hội (55,5 ± 12,3) [9].
Kết quả nghiên cứu của Lã Thị Nguyệt Minh năm 2016 trên những bệnh
nhân HIV/AIDS điều trị nội trú tại bệnh viện Nhiệt đới Trung ương cho thấy: