PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÍ
PHÁT HUY TÍNH CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ DẠY HỌC LẤY HỌC SINH LÀM TRUNG TÂM
“Người thầy giáo bình thường mang chân lí đến cho HS. Người thầy giáo
giỏi biết dạy HS tự tìm ra chân lí”(Spectec).
“Dạy học không phải là làm đầy một chiếc bình mà là thắp sáng một ngọn
lửa” (Plaston).
Quá trình dạy học gồm 2 mặt quan hệ hữu cơ: HĐ dạy của GV và HĐ học
của HS.
Trong lí luận dạy học có những quan niệm khác nhau về vai trò của GV và
HS. Có 2 hướng chủ yếu: Hoặc tập trung vào vai trò hoạt động của GV (tức lấy GV
làm TT), hoặc tập trung vào hoạt động của HS (lấy HS làm TT).
Những năm gần đây, các tài liệu thường hay nhắc đến khái niệm về dạy học
lấy HS làm TT. Vậy thực chất của vấn đề này như thế nào?
1. Lịch sử vấn đề.
Trong lịch sử GD, thời kì chưa hình thành nhà nước thì 1 thầy dạy nhiều trò
ở nhiều trình độ khác nhau với các lứa tuổi khác nhau.
Thời kì phong kiến, một thầy dạy nhiều trò ở các trình độ khác nhau. Mỗi
trình độ bao gồm một số HS và cách giảng của GV là kiểu “Thông báo - đồng
loạt”, dần dần hình thành kiểu dạy học lấy GV làm TT.
Dạy học lấy GV làm TT:
- GV lấy KT truyền đạt hết cho HS; KT mang tính hàn lâm, thiên lí thuyết;
- PP chủ yếu là thuyết trình, thầy nói, trò ghi, HS thụ động, thỉnh thoảng trả
lời vài câu hỏi;
- Giáo án thiết kế theo đường thẳng, chung cho mọi HS;
- Phòng học thường, phấn trắng, bảng đen;
- GV độc quyền đánh giá kết quả học tập của HS chủ yếu đánh giá khả năng
ghi nhớ và tái hiện.(GV mang chân lí đến cho HS).
Cách dạy học lấy GV làm TT đã ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả dạy
học. Để khắc phục những nhược điểm trên, người ta đã thực hiện “dạy học phân
hoá”, “dạy học tích cực”
lợi thầy
Hệ thống
KT, sự pt
tuần tự
k/n, đ/l,
thuyết
KH
thuyết trình,
thầy đọc, trò
chép, thỉnh
thoảng trả lời;
GA đường
thẳng; T
chủ/động, trò
bị/động
Bảng đen, ít
thí nghiệm,
có tham quan,
ngoại khoá
ngoài lớp,
trường (ít)
GV độc
quyền, chú ý
khả năng ghi
nhớ và tái
hiện
HS là
TT
c/b HS
thích ứng
đ/giá lẫn
nhau. không
chỉ dừng ở
ghi nhớ tái
hiện mà nâng
lên mức
vận/dụng KT
vào đs/ k
thuật
II. DẠY HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC,
SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
Phương pháp dạy học tích cực không phải là một phương pháp dạy học cụ
thể, chuyên biệt nào đó, cũng không phải là sự phủ nhận các phương pháp dạy học
truyền thống mà là muốn nhấn mạnh một định hướng khai thác mặt tích cực của
các phương pháp dạy học hiện có. Những phương pháp như thuyết trình, đàm
thoại…vẫn rất cần thiết trong quá trình dạy học. Điều cốt yếu là phải lựa chọn và
vận dụng các phương pháp sao cho phù hợp với nội dung của bài dạy và đặc biệt là
phù hợp với đối tượng Học sinh (HS), trong đó cần chú ý khai thác và sử dụng các
kĩ thuật dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức và phát triển tư duy HS,
hình thành cho các em khả năng độc lập, năng động, sáng tạo trong việc tiếp thu và
xử lí thông tin, cũng như trong việc giải quyết những công việc cụ thể.
2
1. Thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập (HĐHT) mang tính tìm tòi
nghiên cứu của HS
- Để kích thích hứng thú HT của HS, GV cần tạo các tình huống để tập cho
HS biết phát hiện ra vấn đề (VĐ), chú trọng vốn kinh nghiệm hiểu biết của HS.
Vốn kinh nghiệm hiểu biết của HS có thể được sử dụng không những để làm nảy
sinh VĐ cần nghiên cứu, tạo nhu cầu nhận thức, mà còn như là những ứng dụng
của các kiến thức (KT) đã học trong cuộc sống mà HS cần giải thích.
giải pháp GQVĐ đã phát hiện, thực hiện giải pháp đã đề xuất, xử lí kết quả thực
hiện giải pháp, khái quát hóa rút ra kết luận mới và vận dụng KT), GV cần tính
toán xem với thời gian cho phép trên lớp, trình độ HS trong lớp thì việc gì được
3
giao cho HS tự làm (tự làm ngay trên lớp hay ở nhà), việc gì cần có sự trợ giúp của
GV, còn việc gì GV phải cung cấp thêm thông tin để HS có thể hoàn thành.
- Tự học không có nghĩa là không cần sự trợ giúp của GV khi HS gặp khó
khăn, không có sự trao đổi tranh luận của HS với nhau. Sự giúp đỡ của GV có thể
là chia nhiệm vụ nhận thức thành những nhiệm vụ bộ phận vừa sức HS, đưa ra
những nhận xét theo kiểu phản biện, nêu những câu hỏi định hướng quá trình làm
việc của HS hoặc hướng dẫn HS xây dựng cơ sở định hướng khái quát các hoạt
động khi làm việc với nguồn thông tin cụ thể (làm việc với văn bản, đồ thị, bảng
giá trị của đại lượng VL, TN VL…), cơ sở định hướng khái quát của quá trình xây
dựng các loại KT VL khác nhau (khái niệm về các sự vật, hiện tượng và quá trình
VL; khái niệm về đại lượng VL; định luật, qui tắc và nguyên lí cơ bản; thuyết; ứng
dụng kĩ thuật của VL), cơ sở định hướng của việc giải một loại bài tập nào đó…
- Trong DH VL THCS, ngoài việc tổ chức cho HS tự lực làm việc với các TN
VL, GV cần lựa chọn một số nội dung kiến thức lí thuyết mới thích hợp trong SGK
để giao cho HS tự nghiên cứu ngay trên lớp hoặc ở nhà, như: thiết lập phương trình
chuyển động thẳng đều của vật, phương trình biểu diễn sự biến đổi của vận tốc
theo thời gian trong chuyển động thẳng biến đổi đều, phương trình chuyển động
thẳng biến đổi đều, công, động năng và định lí động năng, thế năng, va chạm đàn
hồi và va chạm không đàn hồi, phương trình trạng thái của khí lí tưởng… . HS
được giao nhiệm vụ tự học những nội dung KT trên với mức độ yêu cầu tăng dần,
từ việc đọc một mục trong SGK để trả lời câu hỏi cho trước; đọc, phân ý, tìm
những ý chính của một mục đến việc đọc, tóm tắt nội dung của cả một bài học
trong SGK và trình bày trước toàn lớp theo cách hiểu của mình.
4. Áp dụng rộng rãi kiểu DH phát hiện và giải quyết vấn đề (PHVGQVĐ)
- Có thể hiểu DH PHVGQVĐ dưới dạng chung nhất là toàn bộ các hành động
như tổ chức các tình huống có VĐ (THCVĐ), biểu đạt VĐ, giúp đỡ những điều
mới), chứ không phải là câu hỏi chỉ đơn thuần yêu cầu nhớ lại những KT đã có.
• Tình huống có vấn đề (THCVĐ) là tình huống trong đó xuất hiện VĐ cần
giải quyết mà HS cảm thấy với khả năng của mình thì hi vọng có thể giải quyết
được nên nó kích thích hoạt động nhận thức tích cực của HS. Có nhiều cách tạo
THCVĐ: từ kinh nghiệm sống, quan sát tự nhiên, TN, giải bài tập VL, kể chuyện
lịch sử…Ví dụ: TN đơn giản về sự rơi nhanh khác nhau của hai tờ giấy giống nhau
nhưng một tờ được vo viên, còn tờ kia được để nguyên mâu thuẫn với kinh nghiệm
sẵn có của HS (ảnh hưởng của lực cản không khí lên sự rơi của các vật), TN đơn
giản về sự dịch lại gần nhau của hai tờ giấy đặt song song nhau khi thổi một luồng
khí dọc theo khoảng giữa hai tờ giấy trái với sự chờ đợi của HS (định luật
Becnuli), TN về sự nổi của chiếc kim khâu trên mặt nước khi được thả nhẹ theo
phương ngang nhưng lại chìm khi được thả theo phương thẳng đứng (hiện tượng
căng bề mặt của chất lỏng)…
• Giả thuyết là câu trả lời có tính chất dự đoán cho câu hỏi đã nêu ra. Dự đoán
này có thể còn thô sơ nhưng có căn cứ, có lí lẽ, có vẻ hợp lí nhưng chưa chắc chắn.
Có nhiều cách đề xuất giả thuyết: dựa vào sự liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có
(ví dụ: dựa vào kinh nghiệm về tác dụng của lực lên cánh cửa ra vào quanh bản lề,
HS đề xuất giả thuyết: tác dụng làm quay vật của lực tỉ lệ với độ lớn F của lực và
khoảng cách l từ điểm đặt của lực tới trục quay (~ Fl) (!), dựa vào sự tương tự, dựa
vào phép ngoại suy (ví dụ: khi xét xem chuyển động rơi tự do của một vật thuộc
loại chuyển động nào, sử dụng phép ngoại suy từ qui luật đã biết về chuyển động
thẳng nhanh dần đều của một vật trên mặt phẳng nghiêng (góc nghiêng của mặt
phẳng 0<α<90
0
) cho trường hợp giới hạn (α=90
0
) để đưa ra giả thuyết: chuyển
động rơi tự do của vật là chuyển động thẳng nhanh dần đều). Trong chương trình
VL phổ thông, các mối liên hệ định lượng giữa hai đại lượng thường gặp là: bằng
5