Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng trường phổ thông dân tộc nội trú THCS ở tỉnh yên bái trong giai đoạn hiện nay - Pdf 57

Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng trường
Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, với những bước tiến nhảy vọt của cuộc cách mạng khoa học - công
nghệ, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội; kinh tế tri thức ngày
càng đóng vai trò quan trọng, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất. Đó là những cơ hội và cũng là những
thách thức lớn cho mọi quốc gia. Trong bối cảnh đó, giáo dục được xem là một trong những nhân tố quyết
định tương lai của các dân tộc. Điều đó đòi hỏi giáo dục phải phù hợp với thời đại. Hầu hết các nước trên
thế giới đã và đang tiến hành cải cách giáo dục, nhằm đáp ứng một cách năng động, hiệu quả hơn, trực tiếp
hơn những nhu cầu phát triển đất nước.
Nghị quyết Số: 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ Đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư
tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi
mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở Giáo dục và
Đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc
học, ngành học.
Chất lượng giáo dục là vấn đề quan trọng hàng đầu của hoạt động giáo dục. Chất lượng giáo dục phản ánh
mức độ thực hiện mục tiêu giáo dục, nội dung, phương pháp giáo dục, quá trình tổ chức và thực hiện các
hoạt động giáo dục. Chất lượng giáo dục không tốt thì mục tiêu giáo dục không đạt được. Trong thời gian
gần đây, chất lượng giáo dục đã được sự quan tâm, chú ý của mọi người trong xã hội. Giáo dục ngày càng
phát triển cả qui mô, phương thức giáo dục và mạng lưới các cơ sở giáo dục. Đối với công tác Giáo dục và
Đào tạo thì đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp đóng một vai trò hết sức quan trọng. Chính vì vậy, xây dựng
và phát triển đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục
và của tất cả các nhà trường.
Ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS, người GVCNL có vai trò hết sức quan trọng, vì lứa tuổi học sinh
THCS từ 11 – 14 tuổi đang rất cần có sự giúp đỡ và định hướng của người lớn. Nếu không, với vốn kinh
nghiệm sống ít ỏi của mình, các em sẽ khó tránh khỏi những ảnh hưởng không lành mạnh, nhất là mặt trái
trong nền kinh tế thị trường như hiện nay ở nước ta.
Trước hết người GVCNL được coi là người thay mặt Hiệu trưởng làm công tác quản lý và giáo dục học

1. Cơ sở lí luận về công tác Giáo viên chủ nhiệm lớp và việc Quản lí công tác Giáo viên chủ nhiệm
lớp ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở.
1.1. Những khái niệm cơ bản của SKKN.
a. Giáo dục và Giáo dục toàn diện
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm
lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa
văn hoá dân tộc của nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng
tiến lên. Các nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra nhiều định nghĩa về giáo dục:


- Theo “Từ điển Giáo dục” (NXB Từ điển bách khoa): “Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông
qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ
năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển
năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục đích , mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao
động sản xuất và đời sống xã hội”
- Theo Đặng Vũ Hoạt và Nguyễn Hữu Dũng: “Giáo dục là một nhu cầu tất yếu của xã hội và sự xuất hiện
hiện tượng giáo dục là một tất yếu lịch sử. Nó diễn ra theo cơ chế những thế hệ đi trước truyền lại cho
những thế hệ đi sau những kinh nghiệm tích luỹ được và thế hệ sau tiếp thu nó làm phong phú thêm vốn
kinh nghiệm đó. Chính nhờ cơ chế này những giá trị vật chất và những giá trị tinh thần của loài người
không những không bị mai một đi mà điều quan trọng là lại được phát triển không ngừng”
Từ các định nghĩa trên, ta thấy giáo dục là một khái niệm cơ bản thường được dùng trong khoa học và thực
tiễn đời sống xã hội. Ta có thể hiểu một cách chung nhất: Giáo dục là hoạt động chuyển giao hệ thống tri
thức cho thế hệ sau nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách cá nhân – xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát
triển xã hội. Khái niệm giáo dục còn được phân nhỏ về ngoại diên và nội hàm thành các khái niệm: Giáo
dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội; về nội dung giáo dục thì có: Giáo dục ý thức công dân,
giáo dục văn hoá- thẩm mỹ, giáo dục lao động, hướng nghiệp, giáo dục thể chất – quân sự, giáo dục môi
trường, giáo dục dân số, giáo dục giới tính, giáo dục phòng chống ma tuý…
Giáo dục được coi là khởi nguồn của sự phát triển. Không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển
nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hoá. Chính nhờ có giáo dục mà các di sản tư tưởng và kỹ thuật
của các thế hệ trước được truyền lại cho thế hệ sau. Các di sản này được tích luỹ ngày càng phong phú làm

lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)
Các định nghĩa khác:
- Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã
hội, hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với qui
luật khách quan.
- Hoạt động quản lý là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa chủ thể và đối tượng quản lý qua
con đường tổ chức; là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của các đối tượng quản
lý, lãnh đạo cùng hướng vào việc hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể và xã hội.
Chức năng quản lý: Nhiều người đã khái quát hoá hoạt động quản lý thành một quá trình đạt đến mục tiêu
của tổ chức bằng cách thực hiện bốn chức năng:
+ Chức năng kế hoạch hóa.
+ Chức năng tổ chức.
+ Chức năng chỉ đạo thực hiện.
+ Chức năng kiểm tra đánh giá.
Bốn chức năng này được coi như bốn công đoạn tạo nên một chu trình quản lý. Các chức năng này có
quan hệ chặt chẽ với nhau, đan xen với nhau và đều cần đến thông tin quản lý. Ta có thể mô hình hóa hoạt
động quản lý như một chu trình với các chức năng đó như sau:
Sơ đồ 1: Chu trình quản lý


Trong lĩnh vực giáo dục, quản lý giáo dục có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng,
hiệu quả giáo dục. Người quản lý cần phối hợp và sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực
của tổ chức để đạt được mục tiêu giáo dục. Khái niệm "Quản lý giáo dục", chủ yếu có hai cấp độ: Cấp vĩ
mô và cấp vi mô.
- Đối với cấp vĩ mô: Quản lý hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch,
có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ
Bộ đến các trường, các cơ sở giáo dục khác,...) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục xã hội chủ nghĩa cho
thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung của chủ nghĩa xã hội, cũng như của các
qui luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em, thiếu niên và thanh niên.
- Đối với cấp vi mô: Trường học là một thiết chế xã hội trong đó có diễn ra quá trình đào tạo, giáo dục với

+ Được theo học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ hiện hành .
Trong các nhà trường cần xây dựng những mô hình quản lý có tính mềm dẻo, linh hoạt. Người giáo
viên cần có cơ hội tương tác nhiều hơn với người đứng đầu nhà trường. Vì vậy, mô hình quản lý ' 'hợp
tác" ''cộng tác" cần được hình thành và phát triển mạnh mẽ hơn, trên cơ sở tính năng động và sáng tạo
của người Hiệu trưởng. Nhờ đó người Hiệu trưởng có thể đảm đương vai trò '' người lãnh đạo chuyên
môn" và người quản lý cao nhất.
1.2. Nội dung công tác giáo viên chủ nhiệm lớp và chức năng của giáo viên chủ nhiệm lớp ở Phổ
thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở
a. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp trong nhà trường phổ thông.
Trong nhà trường phổ thông người GVCNL có vị trí, vai trò rất quan trọng:
- GVCNL là người thay mặt Hiệu trưởng thực hiện nguyên lí giáo dục của Đảng, Nhà nước và mục tiêu, kế
hoạch của ngành giáo dục và đào tạo trong một lớp học - đơn vị cơ bản của nhà trường .
- GVCNL là người trực tiếp quản lí giáo dục toàn diện học sinh trong một lớp học: cụ thể hoá
mục tiêu, kế hoạch và chương trình hành động của nhà trường ở từng lớp học. GVCNL có trách nhiệm
tổ chức, chỉ đạo, đôn đốc và kiểm tra các hoạt động của lớp mình, chịu trách nhiệm trước nhà trường
và hội đồng nhà trường về chất lượng giáo dục toàn diện của lớp mình.


- GVCNL là đầu mối của sự phối hợp trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh
trong lớp học, thống nhất mối liên hệ và mọi tác động giáo dục, liên kết, phối hợp với giáo viên bộ môn,
Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội khác để thống nhất
các biện pháp giáo dục học sinh trong lớp.
- GVCNL là cầu nối giữa nhà trường và các lực lượng giáo dục khác với tập thể học sinh và mỗi
cá nhân học sinh: truyền đạt và tổ chức thực hiện những kế hoạch, nội qui, nền nếp, các chỉ thị, yêu
cầu của Hiệu trưởng đến từng học sinh trong lớp học. Đồng thời GVCNL cũng báo cáo cho Hiệu
trưởng những thông tin từ phía học sinh, phản ánh kịp thời và đầy đủ diễn biến của tập thể học sinh và
từng cá nhân học sinh về những tâm tư nguyện vọng, đề đạt kiến nghị của học sinh để giúp Hiệu
trưởng quản lí có hiệu quả hơn.
Người GVCNL trước hết phải thực hiện tốt nhiệm vụ của người thầy giáo nói chung đó là mẫu mực
về đạo đức, gương mẫu chấp hành mọi chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nắm

trường giáo dục học sinh có hiệu quả. Chính GVCNL là người thay mặt nhà trường thực hiện sự liên kết
này. GVCNL giúp cha mẹ học sinh hiểu rõ chủ trương, kế hoạch giáo dục của nhà trường và mục tiêu, kế
hoạch phấn đấu của lớp trong từng năm học. Trên cơ sở đó, GVCNL thống nhất với gia đình về yêu cầu,
nội dung, biện pháp, hình thức giáo dục. GVCNL cũng đề nghị gia đình tạo mọi điều kiện cần thiết để học
sinh học tập, rèn luyện ở nhà theo mục tiêu giáo dục của nhà trường.
- Giáo viên chủ nhiệm lớp với việc xây dựng tập thể học sinh: Tập thể học sinh trong nhà trường được coi
là môi trường, phương tiện để giáo dục mỗi học sinh, trong đó mỗi thành viên đều có điều kiện để phát
triển toàn diện. Tác dụng giáo dục của tập thể học sinh là rất lớn nếu ta xây dựng được những tập thể học
sinh vững mạnh.
- Giáo viên chủ nhiệm lớp với việc giáo dục mỗi cá nhân học sinh trong tập thể lớp: Sự trưởng
thành của tập thể lớp có sự đóng góp của mỗi cá nhân học sinh trong tập thể ấy. Sự trưởng thành của mỗi
cá nhân không thể tách rời sự trưởng thành của tập thể. Mục đích cuối cùng của toàn bộ quá trình giáo dục
là hình thành nhân cách cho mỗi học sinh. Do đó giáo dục mỗi thành viên của tập thể lớp là một trong
những nội dung công tác quan trọng của người GVCNL.
- Giáo dục đạo đức, pháp luật và nhân văn cho học sinh: Tổ chức thi đua học tập, rèn luyện đạo đức
trong học sinh; có kiểm tra, đánh giá, tuyên dương, khen thưởng cá nhân, nhóm, tổ hàng tuần, hàng tháng,
học kỳ, năm học. Tuỳ theo từng thời điểm và tình hình cụ thể của lớp, của trường, của địa phương, đất
nước để chọn chủ đề phù hợp.
- Tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát triển nhận thức, trí tuệ học sinh: GVCNL thông qua
tập thể lớp đề ra những yêu cầu học tập đối với các em, xây dựng dư luận tập thể lành mạnh, giúp các
em xác định rõ nghĩa vụ học tập của mình, xác định được động cơ thái độ học tập đúng đắn, tích cực
tìm tòi biện pháp hay, tốt để đạt kết quả học tập cao nhất.
- Tổ chức các hoạt động giáo dục lao động và hướng nghiệp: căn cứ vào kế hoạch chung của nhà
trường, dựa vào tình hình cụ thể của lớp, GVCNL cần xây dựng kế hoạch lao động cụ thể để giáo dục học
sinh. Cần tổ chức các hoạt động này một cách hệ thống, vừa sức với học sinh để vừa có hiệu quả giáo dục
vừa có hiệu quả kinh tế. GVCNL giúp các em tìm hiểu về nhu cầu nghề nghiệp của xã hội, của địa phương.
Đối với học sinh lớp 12 cần hướng dẫn, giúp đỡ các em lựa chọn được nghề thích hợp với khả năng của
các em và yêu cầu của xã hội.
- Tổ chức các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí: GVCNL cần quan tâm
cố vấn cho cán bộ lớp, cán bộ đoàn tổ chức cho cả lớp vui chơi, giải trí, rèn luyện sức khoẻ như: các trò

chính, là người quản lý và lãnh đạo cộng đồng giáo dục, có trách nhiệm và thẩm quyền cao nhất về hành
chính và chuyên môn, chịu trách nhiệm trước nhà nước và nhân dân, tổ chức và quản lý mọi hoạt động của
nhà trường theo đường lối giáo dục của Đảng.
Với tư cách là nhà quản lý, người Hiệu trưởng có trách nhiệm quản lý mọi hoạt động của nhà
trường, quản lý mọi tổ chức trong nhà trường. Hoạt động giáo dục của nhà trường chỉ có kết quả cao khi
Hiệu trưởng biết huy động sự tham gia đồng bộ, nhịp nhàng ăn khớp của các bộ phận trong trường trong
đó có đội ngũ GVCNL. Sự phát triển của nhà trường, chất lượng giáo dục và đào tạo toàn diện của nhà
trường phải kể đến sự đóng góp đáng kể của đội ngũ GVCNL.


Đội ngũ GVCNL là lực lượng nòng cốt trong công tác giáo dục, là đội ngũ trợ lý quan trọng, trực tiếp quản
lý toàn diện các lớp học sinh; Báo cáo cho hiệu trưởng những thông tin cần thiết về học sinh, về tập thể
lớp, về các hoạt động giáo dục theo định kỳ và đột xuất. Chính họ biết khai thác và phát huy sức mạnh
tổng hợp của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà
trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở.
a. Xác định mục tiêu và lập kế hoạch cho công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
Trong nhà trường, đơn vị tổ chức cơ bản để giảng dạy và học tập là lớp học. Để quản lý trực tiếp một
lớp học nhà trường cử ra những giáo viên giỏi, nhiệt tình để làm chủ nhiệm lớp. GVCNL là người thay
mặt Hiệu trưởng quản lý toàn diện một lớp học. GVCNL là nhân vật trung tâm, là linh hồn của lớp, tập
hợp, đoàn kết học sinh trong tập thể, có vai trò lớn trong tổ chức mọi hoạt động của lớp, nhằm giáo dục
học sinh. Họ chịu trách nhiệm trước nhà trường về chất lượng giáo dục toàn diện học sinh của mình.
Sau khi xác định mục tiêu người Hiệu trưởng phải đưa ra các biện pháp cải tiến công tác GVCNL.
- Tổ chức trao đổi kinh nghiệm về công tác GVCNL.
- Qui định mối liên hệ thường xuyên giữa Ban giám hiệu với GVCNL (họp giao ban, định kỳ báo cáo,…)
- Đề ra được qui chế hoạt động cho tổ GVCNL và từng GVCNL. Hiệu trưởng hướng dẫn GVCNL
xây dựng nội dung công tác GVCNL, coi trọng hình thức, nội dung sinh hoạt, hoạt động tự quản; xây dựng
tập thể lớp, chi đoàn vững mạnh toàn diện…Những nội dung thi đua thật cụ thể, chi tiết cho từng hoạt
động, cho từng thời kỳ, từng nội dung thi đua.
- Có kế hoạch chung của nhà trường về các hoạt động ngoại khoá, lao động, văn nghệ, thể dục thể
thao… để GVCNL chủ động đề ra kế hoạch hoạt động của lớp mình.

điều kiện để các đoàn thể hoạt động phát huy hết tác dụng đối với nhà trường.
d. Kiểm tra công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
Chất lượng văn hoá được thể hiện khá cụ thể, rõ ràng, song chất lượng giáo dục đạo đức khó định
lượng, khó đánh giá. Do vậy việc kiểm tra, đánh giá công tác GVCNL của Hiệu trưởng sao cho khách
quan, khoa học, có hiệu quả là vấn đề cần được lưu ý, hiệu trưởng cần kiểm tra thường xuyên (đột xuất,
định kỳ), kiểm tra phải có đánh giá. Hiệu trưởng kiểm tra công tác GVCNL thông qua hoạt động của các
lớp, thông qua xếp loại thi đua hàng tuần, thông qua hồ sơ, báo cáo hàng tháng, học kỳ…, cần lưu ý việc
kiểm tra đánh giá học sinh của GVCNL sao cho đảm bảo sự thống nhất chung trong toàn trường (tránh
trường hợp GVCNL quá dễ dãi hoặc quá khắt khe,…), hướng dẫn GVCNL đánh giá hạnh kiểm học sinh
sát với các tiêu chí chung.
2. Thực trạng về về công tác Giáo viên chủ nhiệm lớp và việc Quản lí công tác Giáo viên chủ nhiệm
lớp ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh Yên Bái
Yên Bái thuộc vùng Tây Bắc của Tổ quốc với 30 dân tộc chung sống, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm
gần 60%, đông là dân tộc Tày, Dao, Mông, Thái. Yên Bái có 81 xã trên 180 xã, phường, thị trấn thuộc
vùng đặc biệt khó khăn, 2 huyện thuộc diện nghèo nhất cả nước. Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ


XVIII (2015) đã xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp của ngành giáo dục Yên Bái là “ Nâng cao chất lượng
giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; ưu tiên phát triển giáo dục mũi nhọn và giáo dục vùng cao”.
Yên Bái có tiềm năng về đất đai, tài nguyên rừng, khoáng sản đa dạng, phong phú. Trong đó có một số
khoáng sản có trữ lượng lớn như đá quý, đá hoa trắng ở Lục Yên, đá vôi xám ở Lục Yên, Yên bình làm
nguyên liệu cho sản xuất xi măng, nguyên liệu gốm sứ (Fenlspát, cao lanh..), quặng sắt ở Văn Yên, Trấn Yên
và Văn Chấn…
Nền kinh tế Yên Bái đang dịch chuyển theo hướng công nghiệp hoá. Từ năm 2010 đến nay tỷ trọng nông,
lâm công nghiệp tăng mạnh. Các vấn đề kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng tiếp tục được phát triển theo
chiều hướng tích cực.
2.2. Một số nét khái quát về Giáo dục và Đào tạo hệ thống trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học
cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
Từ thập niên 90 đến nay, dưới sự định hướng, lãnh đạo toàn diện của cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp;

cảnh gia đình, nhu cầu, khả năng, đặc điểm của từng học sinh. Từ đó xây dựng kế hoạch công tác GVCNL
và đưa vào sổ chủ nhiệm của GVCNL.
- Các GVCNL đều quan tâm, thực hiện đủ các chương trình giáo dục chung như: Thực hiện nền nếp
các tiết học, các tiết ngoài giờ lên lớp, tổ chức các hoạt động của học sinh, các tiết sinh hoạt cuối tuần…
- GVCNL đều có kế hoạch giáo dục học sinh cá biệt và thực hiện có hiệu quả.
- GVCNL phối hợp với cha mẹ học sinh để quản lý, giáo dục học sinh thông qua các buổi họp cha
mẹ học sinh. Cuối mỗi kỳ, GVCNL thông báo tình hình học tập, rèn luyện của mỗi học sinh và tình hình
chung của lớp cho cha mẹ học sinh và nhận được những thông tin cần thiết của học sinh từ gia đình.
- GVCNL đã thực hiện tốt chủ trương dân chủ hoá trường học, công khai nội dung chương trình
giáo dục và đào tạo, công khai việc cho điểm, đánh giá, công khai kết quả thi đua, khen thưởng, kỷ
luật học sinh; đặc biệt thực hiện tốt các qui trình đánh giá xếp loại về hạnh kiểm, văn hoá của học
sinh, tôn trọng ý kiến thể lớp. GVCNL đã phát huy vai trò của cán bộ lớp trong việc tổ chức tự quản
của học sinh, đặc biệt giúp các em tổ chức các hoạt động tập thể ngoài giờ, hoạt động nhân đạo…
- Những hình thức khen thưởng được GVCNL sử dụng kịp thời đã tác động mạnh mẽ đến học sinh.
Đó là động lực thúc đẩy sự cố gắng vươn lên ở học sinh, kích thích ở các em động cơ phấn đấu đúng đắn,
tin tưởng vào khả năng của bản thân.
- Một yếu tố rất quan trọng nữa đòi hỏi ở người thầy làm công tác chủ nhiệm lớp là: Thầy phải luôn
khách quan, công bằng trong việc đánh giá học sinh. Điều này vô cùng quan trọng, vì trong con mắt học
sinh thầy bao giờ cũng là tấm gương sáng để học sinh noi theo.
- Về mặt quản lý, các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái đều nhận
thức đầy đủ về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác GVCNL. Các trường đều ưu tiên cho công tác
GVCNL; khi phân công chuyên môn đều căn cứ vào khả năng quản lý, chuyên môn của giáo viên, mỗi
trường đều thành lập tổ GVCNL do Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng trực tiếp quản lý có nghị quyết và
kế hoạch hoạt động riêng cho tổ GVCNL.
- Kết quả công tác GVCNL là một trong những nội dung chính được dùng để đánh giá, xếp loại thi
đua của giáo viên trong năm học và trong công tác kiểm tra, thanh tra của các cấp quản lý giáo dục.
b. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết


- Ở các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái, ngoài việc học tập, trau

bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng của từng GVCNL cần có sự phối hợp, giúp sức từ các lực lượng giáo dục
trong và ngoài nhà trường, đồng thời phải có sự ủng hộ nhiệt tình của chính học sinh. Vậy làm thế nào để
học sinh yêu trường, yêu lớp, kính trọng thầy cô, yêu quý bạn bè, tích cực rèn luyện và học tập ? Đó là
những câu hỏi đặt ra cần được các nhà quản lý trường học : Ban giám hiệu và các GVCNL giải đáp.
3. Các biện pháp quản lí công tác Giáo viên chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng các trường Phổ thông
Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái trong giai đọan hiện nay
3.1. Lập kế hoạch công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
Kế hoạch công tác GVCNL là cụ thể hoá mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung giáo dục của một tập thể lớp.
Kế hoạch công tác GVCNL là chương trình hoạt động thực hiện vào từng giai đoạn cụ thể. Do đó Hiệu
trưởng cần phải giúp đỡ GVCNL nắm vững kế hoạch công tác của nhà trường cả năm, từng học kỳ, từng


tháng, đặc biệt là những định hướng về các mặt giáo dục, những chủ đề trong năm học để GVCNL có căn
cứ và làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch chủ nhiệm của mình.
* Hiệu trưởng giúp đỡ GVCNL xây dựng kế hoạch công tác trong năm học với những gợi ý công
việc sau đây:
- Yêu cầu GVCNL lập kế hoạch công tác GVCNL theo mẫu đã được in sẵn và sử dụng thống nhất
trong nhà trường.
- Yêu cầu GVCNL lập kế hoạch công tác GVCNL theo mẫu đã được in sẵn và sử dụng thống nhất trong
nhà trường.
Yêu cầu GVCNL thực hiện điều tra cơ bản về học sinh của lớp ngay từ tuần đầu của tháng 9. Thông
qua việc hướng dẫn giáo viên sử dụng mẫu phiếu điều tra, tổ chức bàn giao công tác GVCNL giữa giáo
viên trước với lớp sau, giáo viên cũ và giáo viên mới ( khi có sự thay đổi).
+ Điều tra hoàn cảnh gia đình của học sinh, truyền thống, phong tục địa phương để có kế hoạch giáo
dục học sinh.
+ Nắm bắt quá trình học tập, tu dưỡng đạo đức ở các năm trước.
+ Nắm vững tâm lý lứa tuổi học sinh trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở.
Qua đó GVCNL có thể nắm rõ được tình hình học sinh của lớp mình phụ trách để làm căn cứ xây dựng
kế hoạch công tác GVCNL một cách cụ thể và xác định mục tiêu phấn đấu của lớp mình cho phù hợp. Trên cơ
sở đó có những chủ trương và biện pháp triển khai các mặt giáo dục, lựa chọn xây dựng đội ngũ tự quản của lớp

+ Hoạt động văn hoá, văn nghệ , thông tin, báo chí...
Để thực hiện có hiệu quả các tiết sinh hoạt lớp thì GVCNL có thể lập kế hoạch nội dung tiết sinh
hoạt lớp theo từng tuần, tháng và cho cả năm.

Cần lựa chọn những nội dung thích hợp và xen kẽ các

hình thức hoạt động để thu hút sự chú ý của học sinh. Hiệu trưởng cần tập trung chỉ đạo ở một khối lớp để
rút kinh nghiệm từ đó chỉ đạo chung cho toàn trường.
Những vấn đề nêu trong kế hoạch cần có những nội dung cụ thể làm việc gì, làm như thế nào, làm
với ai và làm trong thời gian nào.
3.2. Quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp
a.Lựa chọn, bố trí, phân công giáo viên chủ nhiệm lớp phù hợp với nhiệm vụ năm học.
Do vị trí, vai trò, nhiệm vụ và trách nhiệm nặng nề của GVCNL trong việc quản lí và giáo dục học sinh
trong nhà trường nên việc lựa chọn và cử GVCNL phải được quan tâm đặc biệt. Khi phân công GVCNL
cần tính đến các yếu tố sau:
- Năng lực trình độ của giáo viên.
- Năng lực hiểu biết học sinh về tâm lý lứa tuổi.
- Năng lực giao tiếp với học sinh và cha mẹ học sinh.
- Năng lực tổ chức các hoạt động tập thể của học sinh


- Năng lực phán đoán, cảm hoá, thuyết phục học sinh theo từng cá tính học sinh.
- Điều kiện, hoàn cảnh của từng giáo viên.
- Yêu cầu đảm bảo chất lượng đào tạo và lợi ích của học sinh.
- Đảm bảo tính kế thừa, khoa học, phù hợp với đặc điểm, tình hình của nhà trường và chương trình
dạy học đang được áp dụng
- Lựa chọn cách phân công hay phối hợp các cách phân công GVCNL phù hợp với điều kiện từng
năm học có thể phân công bám theo lớp hoặc chuyên sâu, phân công ưu tiên, đổi chéo hoặc phân công
ngẫu nhiên...
b Tổ chức tổ giáo viên chủ nhiệm lớp

- Bồi dưỡng cập nhật kiến thức phổ thông, khoa học kỹ thuật, những kiến thức về chuyên môn
nghiệp vụ như những vấn đề mới về giáo dục được điều chỉnh trong chương trình giáo dục, bổ sung những
kiến thức mang tính cập nhật...
- Bồi dưỡng những kiến thức, kỹ năng sử dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoạt động
học tập của học sinh.
- Bồi dưỡng kỹ năng làm và sử dụng đồ dùng dạy học, biết sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại như
đèn chiếu, phòng học tiếng, hệ thống giảng dạy phần mềm qua máy tính,.... khi có điều kiện.
- Bồi dưỡng kỹ năng khai thác nội dung các môn học một cách triệt để nhằm giáo dục học sinh đạt
hiệu quả:
+ Giáo dục cho học sinh về những chuẩn mực đạo đức của xã hội, cách ứng xử, giao tiếp trong cuộc
sống thông qua các môn học như văn học, giáo dục công dân....
+ Giáo dục học sinh tính nhân văn, dân tộc, tinh thần bảo vệ Tổ quốc... thông qua các bài học lịch
sử, văn học...
+ Giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường, biết yêu quí, bảo vệ thiên nhiên qua các bài học .
- Bồi dưỡng những tri thức cơ bản về tâm lí học, giáo dục học, và các kỹ năng sư phạm như kỹ năng
tiếp cận đối tượng học sinh, kỹ năng nghiên cứu tâm lí lứa tuổi, kỹ năng đánh giá, kỹ năng lập kế hoạch
công tác GVCNL và khả năng nhạy cảm sư phạm để có thể dự đoán đúng, chính xác sự phát triển nhân
cách của học sinh.
* Ngoài các nội dung trên, các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên
Bái nói riêng, có đa số học sinh dân tộc theo học, người Hiệu trưởng cần tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên
những kiến thức về tâm lí học dân tộc, phong tục tập quán, một số câu giao tiếp giản đơn bằng tiếng của
một số dân tộc sống trên địa bàn.... để giúp giáo viên ứng xử kịp thời với mọi đối tượng học sinh, biết tập
hợp và xây dựng khối đoàn kết các dân tộc thông qua lớp mình chủ nhiệm.
- Bồi dưỡng để mỗi giáo viên trở thành một tuyên truyền viên, một cố vấn tích cực hướng dẫn học
sinh tham gia các phong trào phù hợp với một tỉnh miền núi như: phong trào vận động toàn dân sử dụng
muối iốt để phòng chống bệnh bướu cổ, nằm màn tránh muỗi phòng bệnh sốt rét,...
- Định hướng và giúp cho cho GVCNL tổ chức các buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt đoàn có nội dung
phong phú, hình thức hấp dẫn, luôn thay đổi các hình thức sinh hoạt để thu hút học sinh tham gia, qua đó
giáo dục các em...


phối hợp giữa Ban giám hiệu và các GVCNL trong toàn trường. Các GVCNL cần thường xuyên báo cáo
tình hình lớp, kết quả giáo dục, nguyện vọng của học sinh với Ban giám hiệu. Thỉnh thị, đề xuất, xin ý
kiến về biện pháp giáo dục và đề nghị với lãnh đạo trường cùng phối hợp, thống nhất tác động sư phạm


đối với cả lớp và từng học sinh. Khi được GVCNL báo cáo về tình hình học sinh, lãnh đạo nhà trường
phải nhanh chóng hội ý, cùng tìm biện pháp giải quyết.
b. Tổ chức và chỉ đạo sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm lớp với các giáo viên bộ môn
Trong nhà trường cần tạo ra sự đồng bộ, thống nhất giữa GVCNL và giáo viên bộ môn dạy ở lớp đó
trong việc giáo dục học sinh. Cần nhận thức rằng giáo dục học sinh là nhiệm vụ chung của Hội đồng
trường, giáo viên bộ môn không đứng ngoài công tác này. Vì vậy, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa
GVCNL với giáo viên bộ môn dạy ở lớp với những biện pháp cụ thể là:
- Thống nhất các yêu cầu giáo dục đối với học sinh; nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.
- Theo dõi thường xuyên, nắm tình hình học tập của học sinh qua giáo viên bộ môn và thông báo cho giáo
viên bộ môn biết các nội dung, các trọng tâm công tác giáo dục của lớp trong từng thời kỳ.
- Làm cho giáo viên bộ môn có thể hiểu rõ hơn về hoàn cảnh các học sinh có khó khăn về học tập và rèn
luyện, đồng thời tiếp thu ý kiến phản ánh của giáo viên bộ môn để cùng hỗ trợ và phối hợp tác động tới lớp
và tới từng học sinh.
c. Chỉ đạo phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm lớp với các tổ chức Đoàn, Đội và các đoàn thể khác trong
nhà trường
Là tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, chưa cập nhật thông tin thường xuyên, vì vậy hiệu trưởng cần
thông qua các cuộc họp chi bộ để nêu ý kiến chỉ đạo chi đoàn giáo viên, Liên Đội phối hợp với GVCNL
xây dựng và tổ chức nhiều hình thức hoạt động đa dạng, phong phú để các em có thêm vốn hiểu biết về
cuộc sống, tự nhiên, xã hội, môi trường...
Do đặc điểm tâm lý học sinh nói chung và đặc điểm tâm lí học sinh dân tộc nói riêng, các em rất
thích tham gia vào các hoạt động tập thể cho nên cần định hướng cho GVCNL cùng phối hợp Bí thư Đoàn
trường, Liên đội xây dựng và tổ chức các hoạt động tập thể như:
- Hoạt động văn hoá, văn nghệ: tổ chức các đêm văn nghệ chào mừng các ngày lễ, các hoạt động
múa hát tập thể, các hội thi...

học sinh về các kiến thức tâm lý học, giáo dục học để cùng nhà trường giáo dục học sinh, tổ chức bồi
dưỡng kiến thức giáo dục gia đình cho cha mẹ học sinh.
e.Chỉ đạo phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm lớp với chính quyền và các đoàn thể ở địa phương
- Tạo mối quan hệ mật thiết với đảng uỷ, chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể
quần chúng,... bằng các hình thức như: kết nghĩa, đỡ đầu, bảo trợ,...
- Nhà trường mời các bậc lão thành cách mạng, anh hùng lực lượng vũ trang đến nói chuyện truyền thống
nhân dịp các ngày lễ lớn như : 22/12, 3/2, 30/4…để giáo dục truyền thống cho học sinh.
- Nhà trường chủ động trong việc kết hợp 3 môi trường giáo dục: Nhà trường - Gia đình - Xã hội, tổ
chức mạng lưới thông tin để nắm bắt tình hình học sinh ở ngay trong cộng đồng, ngoài những giờ các em
học tập tại trường. Để kịp thời phối hợp giáo dục học sinh khi phát hiện thấy học sinh có vi phạm, cần có
những biện pháp xử lý cụ thể.( Ví dụ: Phối hợp với công an phường, xã, tổ dân phố...).
- Tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động xã hội như: tổ chức các hoạt động văn nghệ chào
mừng kỷ niệm các ngày lễ, các sự kiện trọng đại do địa phương tổ chức như :


+ Hội diễn chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam, ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam 3-2
+ Cùng tham gia cổ động cho ngày "Tiễn tân binh lên đường nhập ngũ"
+ Tham gia các hoạt động "Đền ơn đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn".
+ Tham gia các hoạt động từ thiện: ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, đồng bào khó khăn vùng sâu, vùng xa;
giúp đỡ các trường trẻ em khuyết tật, các lớp học tình thương...
+ Tham gia các hoạt động công ích (giữ gìn đường phố xanh, sạch, đẹp...)
Qua các hoạt động đó vừa giúp học sinh có thêm những hiểu biết về xã hội, cuộc sống, vừa góp phần
đẩy mạnh hoạt động văn hoá, chính trị ở địa phương. Thiết lập mối quan hệ khăng khít giữa nhà trường và
chính quyền địa phương, xây dựng được uy tín trong nhân dân, thu hút sự chú ý của cộng đồng, để từ đó
đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục. Huy động cộng đồng cùng chăm lo, xây dựng cơ sở vật chất cho
nhà trường như : trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy của nhà trường, xây dựng sân chơi, bãi tập
cho học sinh... nhằm giúp cho các hoạt động giáo dục của nhà trường đạt hiệu quả.
3.4. Tổ chức cho giáo viên chủ nhiệm lớp thực hiện các nội dung giáo dục toàn diện
a. Tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức, pháp luật, lao động, hướng nghiệp
Ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu, GVCNL cần tổ chức cho học sinh học nội quy của trường, quy

sinh, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường...
Nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế hiện nay có yêu cầu nhân lực rất đa dạng. Bởi vậy công tác
hướng nghiệp cho học sinh, tạo cho họ năng lực phục vụ tốt lao động sản xuất trong các thành phần kinh tế
khác nhau trong sự cạnh tranh lành mạnh càng trở nên cấp thiết. GVCNL là người có vai trò quan trọng
trong công tác này.
GVCNL giúp các em tìm hiểu (vị trí, vai trò, đặc điểm, yêu cầu, số lượng, trình độ văn hoá, kỹ thuật,
sức khoẻ) về nhu cầu nghề nghiệp của xã hội nói chung, của địa phương nói riêng.
b. Chỉ đạo giáo dục động cơ học tập và tổ chức các hoạt động học tập
Kết quả của hoạt động học tập của học sinh thể hiện ở khả năng nắm tri thức, ở sự phát triển năng
lực hoạt động trí tuệ, năng lực tư duy sáng tạo và còn phụ thuộc vào các yếu tố như : Ý thức về nghĩa vụ
học tập, động cơ thái độ học tập, điều kiện và phương tiện học tập... Do đó để nâng cao kết quả hoạt động
học tập của lớp, GVCNL cần thông qua tập thể lớp, đề ra các yêu cầu học tập đối với các em, giúp các em
xác định nghĩa vụ học tập của mình, xác định được động cơ và thái độ học tập đúng đắn, tích cực tìm tòi
biện pháp hay, tốt để đạt được kết quả học tập cao nhất.
GVCNL chỉ đạo đội ngũ tự quản của lớp tổ chức các nhóm học tập : "Đôi bạn cùng tiến", "Những
người yêu thích môn toán", "Câu lạc bộ thơ văn", tổ chức hội nghị học tốt, để trao đổi kinh nghiệm học
tập, giúp nhau cùng tiến bộ, hướng dẫn học sinh sử dụng hiệu quả 15 phút truy bài đầu buổi học mỗi ngày.
Đối với học sinh yếu, kém, GVCNL phải tìm hiểu rõ nguyên nhân để giúp đỡ; đối với học sinh giỏi,
GVCNL phải có kế hoạch bồi dưỡng, giúp các em phát huy hết khả năng của mình, tích cực nâng cao hơn
kết quả học tập của bản thân và tích cực giúp đỡ bạn cùng tiến bộ. Đối với học sinh có hoàn cảnh khó
khăn, GVCNL vận động lớp giúp đỡ và đề nghị gia đình tạo mọi điều kiện cho các em vươn lên trong học
tập.


Việc tổ chức có kế hoạch các hoạt động học tập cho học sinh nhằm nâng cao kết quả học tập là
một trong những việc làm quan trọng hàng đầu của GVCNL. Vì vậy, GVCNL cần nghiên cứu, tìm
hiểu nắm vững tình hình cụ thể của cả lớp, của từng học sinh để lựa chọn biện pháp tác động phù hợp.
c. Tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí
GVCNL cần quan tâm cố vấn cho cán bộ lớp tổ chức cho cả lớp vui chơi, giải trí, rèn luyện sức khoẻ
như : các trò chơi, các hoạt động thể thao, văn nghệ, tham quan du lịch, cắm trại, xem triển lãm, xem


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status