VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG HỮU BẢN
BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THANH TRÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG HỮU BẢN
BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THANH TRÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8 38 01 07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI, 2019
nông nghiệp tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội .................................. 50
2.3. Thực tiễn bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thực tiễn tại
huyện Thanh Trì ........................................................................................... 58
Chương 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ ĐẢM BẢO
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU
HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THANH TRÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI ................................................................................. 63
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 82
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp được đánh giá là một trong những ngành nghề mũi nhọn
truyền thống của Việt Nam với gần 70% dân số làm nghề nông. Theo thống
kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 9 tháng đầu năm 2018
mặc dù phải đối mặt với 14 loại hình thiên tai gây thiệt hại về kinh tế hơn
2.356 tỷ đồng nhưng khu vực nông - lâm - thuỷ sản vẫn đạt mức tăng trưởng
cao nhất trong giai đoạn 2012 – 2018. Tổng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng của
ngành nông nghiệp ước đạt 29,54 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm
2017, bằng 73% kế hoạch năm và vượt 1,3% mục tiêu quý III đã đề ra [21,
tr1].
Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, Nhà nước chủ trương
đẩy mạnh hoạt động nông nghiệp theo hướng tập trung, tăng cường áp dụng
các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất và hiệu quả khai thác
đất nông nghiệp hiện có. Đồng thời, để tạo điều kiện cho các ngành công
nghiệp phát triển, Nhà nước cũng có chính sách chuyển đổi một phần diện
tích đất nông nghiệp sang phục vụ các hoạt động công nghiệp, xây dựng cơ sở
hạ tầng kỹ thuật. Thực hiện chủ trương này, Nhà nước phải tiến hành thu hồi
đất nông nghiệp của người dân và bồi thường tương ứng với diện tích thu hồi.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp là một vấn đề mang
tính lý luận và tính thời sự nóng bỏng nên đã thu hút nhiều sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu, nhà lập pháp cũng như các tổ chức, cá nhân hoạt động
liên quan đến lĩnh vực này. Do đó, tính đến thời điểm hiện nay, có rất nhiều
công trình nghiên cứu về vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp trên nhiều khía cạnh khác nhau. Có thể liệt kê một số công trình
nghiên cứu đáng chú ý như sau:
2
- Nhóm công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và kinh nghiệm của một số quốc gia
trên thế giới: Trong nhóm này, có thể đề cập đến bài viết “Vấn đề lý luận
xung quanh khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” của TS Nguyễn
Quang Tuyến trong Tạp chí Luật học, số 1/2009; Bài viết “Pháp luật về bồi
thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Singapore và Trung Quốc –
Những gợi mở cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật về bồi thường, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất” của TS Nguyễn Quang Tuyến và THS.
Nguyễn Ngọc Minh trong Tạp chí Luật học, số 10/2010; ……
- Nhóm công trình nghiên cứu về hệ thống quy phạm pháp luật Việt
Nam điều chỉnh vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
có: Bài viết “Một số ý kiến trao đổi về vấn đề thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong Dự thảo Luật đất đai sửa đổi”
của TS. Nguyễn Thị Nga trong Hội thảo khoa học góp ý Luật đất đai sửa đổi
tại thành phố Hà Nội vào ngày 12/04/2013; Luận án “Pháp luật về bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam” của TS. Phạm Thu Thủy
tại Đại học Luật Hà Nội năm 2014; Bài viết “Pháp luật về trình tự, thủ tục
thu hồi đất, bồi thường và giải phóng mặt bằng và những vướng mắc nảy sinh
trong quá trình áp dụng” của TS. Nguyễn Thị Nga trong Tạp chí Luật học số
hồi đất .
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trong thời gian vừa qua đã tương đối
đầy đủ, đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất. Tác giả luận văn có sự tham khảo các kết quả nghiên cứu trong
các công trình này vào quá trình tìm hiểu các vấn đề của đề tài luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua hoạt động nghiên cứu các vấn đề lý luận và hệ thống quy
định pháp luật hiện hành về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
4
nghiệp, người viết mong muốn tìm ra những điểm bất cập, hạn chế liên quan
đến vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đồng thời đề xuất những giải
pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi
hành tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội nói riêng, cho Việt Nam nói
chung.
Căn cứ mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chính gồm:
(i) Làm sâu sắc thêm một số vấn đề lý luận chung về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp;
(ii) Thực trạng quy định pháp luật hiện hành về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp;
(iii) Đánh giá thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp dưới góc nhìn tại huyện Thanh Trì, thành
phố Hà Nội;
(iv) Nhận định những vướng mắc, bất cập còn tồn tại trong hệ thống quy
phạm pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành quy định pháp luật về bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp;
(v) Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật và đề xuất các
giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước
6. Ý nghĩa lý luận thực tiễn
Luận văn có giá trị như một tài liệu tham khảo có sự kết hợp giữa tính
pháp lý và tính thực tiễn, giúp cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức quan tâm có
cách nhìn sâu sắc hơn về vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp. Đặc biệt, thông qua hoạt động phân tích, đánh giá, bình luận các quy
định pháp luật cùng thực tiễn thi hành tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội,
luận văn đã đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và
nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp. Người viết cho rằng đây sẽ là một trong những đóng góp mang
ý nghĩa quan trọng của luận văn trong việc hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền
xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật cũng như áp dụng các giải
pháp hữu ích để nâng cao hiệu quả thi hành quy định về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Thanh Trì, thành phố
Hà Nội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thực hiện pháp
luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp từ thực tiễn huyện
Thanh Trì, thành phố Hà Nội
7
Chương 1
với đất lâm nghiệp. Điều này đã đem đến nhiều khó khăn cho người sử dụng
đất khi phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất để có thể xây dựng mô hình
trang trại kết hợp trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng rừng. Bởi trong quá trình
khai thác đất và nâng cao hiệu quả sản xuất, căn cứ chủ trương của Đảng, các
hộ gia đình, cá nhân thường có xu hướng kết hợp nhiều loại đất theo mô hình
trang trại.
Để giải quyết những vấn đề còn vướng mắc nêu trên, Luật đất đai năm
2003 ra đời đã loại bỏ khái niệm “đất nông nghiệp” và thay thế bằng “nhóm
đất nông nghiệp”. Theo đó, đất nông nghiệp được mở rộng hơn với nhiều loại
đất khác nhau gồm: đất trồng cây hàng năm như đất trồng lúa, đất đồng cỏ
dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất
rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản;
đất làm muối và đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ. Cách
thức quy định về nhóm đất nông nghiệp vẫn tiếp tục được ghi nhận tại Luật
đất đai 2013 – Luật đang có hiệu lực thi hành. Thực tế cho thấy, việc quy định
đất nông nghiệp theo phạm vi rộng như trên là hoàn toàn phù hợp và đã thực
sự mang lại hiệu quả cho hoạt động khai thác, sử dụng đất nông nghiệp, góp
phần phát triển nền kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại. Bên cạnh đó,
việc phân tách từng loại đất trong nhóm đất nông nghiệp cũng tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình xây dựng quyền và nghĩa vụ đặc thù đối với người sử
dụng từng loại đất cũng như chế độ được hưởng khi Nhà nước thu hồi đất.
Từ các nội dung nêu trên, “đất nông nghiệp” được hiểu là tổng thể các
loại đất có chung đặt tính sử dụng và phục vụ chủ yếu cho mục đích sản xuất
nông lâm – ngư nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, nuôi thủy sản,
nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối … với tư cách
là tư liệu sản xuất chính.
9
Với vai trò là một loại đất trong hệ thống đất đai quốc gia, đất nông
đất. Vì vậy, người sử dụng đất cần có những biện pháp chăm sóc, cải tạo đất
phù hợp để đảm bảo hiệu quả sử dụng đất và nâng cao năng suất khai thác
đất.
Thứ ba, đất nông nghiệp có thể chuyển đổi để phục vụ nhiều mục đích
khác nhau
Trong quá trình khai thác đất, phụ thuộc vào quy hoạch của nhà nước,
đất nông nghiệp có thể chuyển đổi để phục vụ các mục đích khác như chuyển
đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, chuyển đổi giữa các loại đất
trong nhóm đất nông nghiệp …. Bởi đất nông nghiệp mang đầy đủ đặc trưng
của các loại đất khác (chỉ chứa đựng thêm một số điểm riêng biệt của đất
nông nghiệp như độ phì nhiêu, màu mỡ …) nên đất nông nghiệp hoàn toàn có
thể chuyển sang các loại đất khác. Trong khi những loại đất khác lại khó có
khả năng chuyển đổi sang mục đích nông nghiệp do không có đặc trưng riêng
của đất nông nghiệp.
Tuy nhiên, khi đã chuyển đổi sang sử dụng cho các mục đích khác, việc
chuyển đổi lại để phục vụ cho mục đích nông nghiệp cũng sẽ tương đối khó vì
sau một thời gian sử dụng cho các mục đích khác, đất đã mất đi độ màu mỡ,
phì nhiêu vốn có. Khi đó, hoạt động sản xuất nông nghiệp trên những diện
tích đất này cũng sẽ không mang lại hiệu quả cao. Do vậy, trong quá trình
công nghiệp hóa – hiện đại hóa, các nhà làm luật cũng như các cá nhân, cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định chuyển đổi đất nông nghiệp cũng cần
có sự cân nhắc kỹ lưỡng trước khi thực hiện hoạt động chuyển đổi đất nông
nghiệp sang phục vụ các mục đích khác.
1.1.2 Khái niệm thu hồi đất nông nghiệp
Khái niệm “Thu hồi đất” được sử dụng tương đối phổ biến trong ngôn
ngữ pháp lý cũng như cuộc sống sinh hoạt đời thường. Trong khoa học pháp
11
lý hiện nay còn tồn tại nhiều cách định nghĩa về khái niệm “thu hồi đất” khác
về đất đai” (Khoản 11 Điều 3).
Từ khái niệm “thu hồi đất” nói chung, có thể hiểu khái niệm “thu hồi
đất nông nghiệp là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất
nông nghiệp và quyền sử dụng đất nông nghiệp đã giao cho các chủ thể sử
dụng đất theo quy định pháp luật đất đai” [24, tr29]. Như đã phân tích, vấn
đề thu hồi đất nông nghiệp là một vấn đề nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến
cuộc sống của người nông dân (mất tư liệu sản xuất, mất công việc). Do đó,
thu hồi đất nông nghiệp vì bất cứ lý do nào, Nhà nước cũng cần đặc biệt chú
trọng đến vấn đề bồi thường, hỗ trợ cho người nông dân sớm ổn định cuộc
sống và tìm kiếm được định hướng mới.
1.1.3 Khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Việt Nam là một quốc gia áp dụng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do
Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Tùy thuộc vào chính
sách, kế hoạch phân bổ đất cho từng thời kỳ, Nhà nước có quyền trao quyền
sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này thông qua việc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất cho người sử dụng đất.
Mặc dù không có quyền sở hữu đối với đất đai nhưng người sử dụng đất
sẽ được công nhận quyền sử dụng đất với ý nghĩa là một quyền tài sản. Theo
đó, người sử dụng đất được quyền “định đoạt” quyền sử dụng đất hợp pháp
của mình thông qua các hình thức như chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê,
cầm cố, thế chấp quyền sử dụng đất …
Với tư cách đại diện chủ sở hữu, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, Nhà nước có quyền thu hồi đất đã cấp cho người nông dân
vì mục đích phát triển kinh tế, xã hội, vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên,
xét trong mối quan hệ giữa các quy định pháp luật hiện hành, khi Nhà nước
13
thu hồi đất nông nghiệp (đồng nghĩa với thu hồi quyền sử dụng đất – một
đất nước, nhu cầu về quỹ đất để thực hiện các hoạt động công nghiệp, xây
dựng cơ sở hạ tầng và phát triển đô thị ngày càng cao. Theo số liệu khảo sát
về diện tích của các loại đất ở Việt Nam hiện nay, đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ
cao hơn hẳn so với các loại đất khác. Bởi đến thời điểm hiện tại, nông nghiệp
vẫn là một ngành nghề chủ lực của Việt Nam và đa số người dân của Việt
Nam đang sống dựa trên thu nhập từ nông nghiệp. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu
về đất cho các hoạt động công nghiệp hóa, vì lợi ích quốc gia, đất nông
nghiệp là đối tượng được hướng tới hàng đầu. Ngoài ra, cùng với sự tiến bộ
khoa học – công nghệ, thời gian qua, Việt Nam đã áp dụng nhiều biện pháp
kỹ thuật tiên tiến vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, nâng cao sản lượng và
chất lượng nông phẩm trên một diện tích đất nông nghiệp. Trong tương lai,
hoạt động nông nghiệp của Việt Nam sẽ phát triển theo hướng tập trung, tăng
cường khai thác theo chiều sâu thay vì khai thác theo chiều rộng như trước
đây. Do đó, việc thu hẹp diện tích đất nông nghiệp để chuyển sang các mục
đích khác sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo chiều sâu trong khi
vẫn đảm bảo yếu tố an toàn lương thực cho người dân.
Mặc dù thu hồi đất nông nghiệp là một xu thế tất yếu, tuy nhiên, thu hồi
đất nông nghiệp cũng là một vấn đề nhạy cảm và rất dễ phát sinh tranh chấp.
Như đã phân tích tại mục 1.1.1 của Luận văn, đất nông nghiệp là tư liệu sản
xuất quan trọng, không thể thay thế của người nông dân và là một loại đất có
độ màu mỡ cao, nếu chuyển đổi sang mục đích khác sẽ khó khăn trong vấn đề
chuyển đổi lại thành đất nông nghiệp. Do đó, thu hồi đất nông nghiệp cũng
chính là thu hồi tư liệu sản xuất của người nông dân, ảnh hưởng nghiêm trọng
tới thu nhập và dẫn tới một lượng lớn người nông dân bị mất việc làm. Vấn đề
chuyển đổi nghề nghiệp sau khi bị thu hồi đất cũng là một vấn đề cần được
quan tâm. Bởi hầu hết nông dân đều có trình độ hiểu biết không cao nên việc
15
chuyển đổi nghề là vấn đề tương đối khó khăn trong bối cảnh cạnh tranh trên
trường hợp ngoại lệ. Theo cách hiểu cơ bản nhất, pháp luật về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà
nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của người dân nhằm giải quyết
hài hòa lợi ích ba bên (Nhà nước, chủ đầu tư và người có đất bị thu hồi). Với
mục đích nâng cao tính minh bạch của các quy định pháp luật, nâng cao hiệu
quả của hoạt động thu hồi, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
và đảm bảo tối đa quyền lợi của người dân, các quy phạm pháp luật điều
chỉnh vấn đề thu hồi, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp luôn
được xây dựng dựa trên hệ thống các nguyên tắc bắt buộc, mang tính định
hướng. Một số nguyên tắc cơ bản gồm:
Thứ nhất, người bị thu hồi đất có đủ điều kiện theo quy định của pháp
luật sẽ được bồi thường
Căn cứ quy định của Bộ luật dân sự, quyền sử dụng đất cũng là một
quyền tài sản nên khi Nhà nước thu hồi đất (đồng nghĩa thu hồi quyền tài sản)
của người dân, Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường cho người dân một
giá trị tương ứng. Quy định này đã thể hiện sự công bằng giữa các chủ thể
trong quan hệ thu hồi, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp dựa
trên sự trao đổi về lợi ích.
Cùng với đó, nguyên tắc này cũng là sự đảm bảo của Nhà nước đối với
người sử dụng đất nông nghiệp thuộc diện bị thu hồi. Chỉ cần người sử dụng
đất đáp ứng đủ các điều kiện của pháp luật sẽ được hưởng các chế độ bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất. Hiện nay, điều kiện để được bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp chủ yếu tập trung vào yếu tố nguồn gốc sử
dụng đất với các trường hợp như được giao đất, công nhận quyền sử dụng đất,
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và có giấy tờ hợp pháp chứng minh
17
hay sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất do Nhà nước cấp
đất nước, quỹ đất nông nghiệp lại đang đặt trong xu hướng thu hẹp lại để
chuyển đổi sang phục vụ các hoạt động phát triển kinh tế cộng đồng, xây
dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Vì vậy, thực tế có rất ít trường hợp người sử
dụng đất được bồi thường lại bằng một diện tích đất nông nghiệp tương ứng
với diện tích đất nông nghiệp bị Nhà nước thu hồi đất.
Thay vào đó, phần lớn người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi sẽ được
bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban
hành tại thời điểm thu hồi. Quy định này được đánh giá là một bước tiến đáng
ghi nhận của pháp luật vì phương án mang tính chất nhanh gọn, tăng cường
tính công bằng và giá bồi thường đất nông nghiệp cũng đã tiến gần hơn với
mức giá thị trường của đất nông nghiệp. Do đó, về cơ bản, quyền lợi của
người sử dụng đất có đất nông nghiệp bị Nhà nước thu hồi cũng được nâng
cao hơn so với thời điểm trước nhiều lần.
Thứ ba, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân
chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của
pháp luật
Đây được đánh giá là một nguyên tắc mang tính tổng hợp bao hàm sáu
nguyên tắc nhỏ: dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng
quy định pháp luật. Nguyên tắc yêu cầu hoạt động bồi thường phải tuân thủ
các quy định pháp luật hiện hành, đảm bảo sự công bằng về quyền lợi giữa
những người dân có đất bị thu hồi. Việc bồi thường phải được thực hiện công
khai, kịp thời để tạo lòng tin và tâm lý yên tâm cho người dân có đất bị thu
hồi.
Đồng thời, việc bồi thường phải đề cao tính dân chủ, theo đó, người có
đất bị thu hồi phải được quyền tham gia đóng góp ý kiến, được giám sát hoạt
động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền khiếu nại, tố
19
cáo đối với những hành vi vi phạm trong quá trình bồi thường khi Nhà nước
hợp số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có quyết định thu
hồi đất lớn hơn số tiền được bồi thường, hỗ trợ thì hộ gia đình, cá nhân tiếp
tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó; nếu hộ gia đình, cá nhân được bố trí
tái định cư thì sau khi trừ số tiền bồi thường, hỗ trợ vào số tiền để được giao
đất ở, mua nhà ở tại nơi tái định cư mà số tiền còn lại nhỏ hơn số tiền chưa
thực hiện nghĩa vụ tài chính thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số
tiền chênh lệch đó”. Đồng thời, pháp luật cũng nhấn mạnh tiền bồi thường để
trừ vào số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính chỉ gồm tiền được bồi
thường về đất, tiền được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có).
Không được trừ các khoản tiền bồi thường do ngừng sản xuất kinh doanh, bồi
thường thiệt hại về tài sản, bồi thường chi phí di chuyển và các khoản tiền
được hỗ trợ khác vào khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai.
Mục đích của quy định này là đảm bảo các chế độ hỗ trợ phát huy tối đa vai
trò của mình trong việc ổn định đời sống của người dân có đất bị thu hồi.
Thứ năm, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nông nghiệp bị thu hồi
được bồi thường
Nguyên tắc này đã thể hiện tính đúng đắn của pháp luật, của Đảng và
Nhà nước. Bởi người sử dụng đất đã dùng khả năng tài chính và công sức của
bản thân để đầu tư tạo dựng tài sản trên đất như cây trồng, chuồng trại, gia
súc, gia cầm nên Nhà nước có trách nhiệm bồi thường khi việc thu hồi đất
nông nghiệp dẫn tới thiệt hại về những tài sản trên. Điều này đảm bảo quyền
được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất của người sử dụng đất
theo quy định tại khoản 2 Điều 166 Luật đất đai 2013, đồng thời đảm bảo
nguyên tắc “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh
doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa” quy định tại khoản
3 Điều 51 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
21