I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
O TH THU H
MÔ HìNH Tổ CHứC, QUảN TRị, ĐIềU HàNH
BảO HIểM TIềN GửI THEO PHáP LUậT VIệT
NAM
LUN VN THC S LUT HC
HÀ NỘI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
O TH THU H
MÔ HìNH Tổ CHứC, QUảN TRị, ĐIềU HàNH
BảO HIểM TIềN GửI THEO PHáP LUậT VIệT
NAM
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. Lấ TH THU THY
DIV
HĐQT
TCT BHTG
TCTD
TGĐ
NHTW
NHNN
NHTM
NHTMCP
QTDND
Bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Cơ quan bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Hội đồng quản trị
Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi
Tổ chức tín dụng
Tổng Giám đốc
Ngân hàng Trung ương
Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại cổ phần
Quỹ tín dụng nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Số liệu chi tiết tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi tại Error:
Việt Nam
Refere
nce
source
not
found
Bảng 2.2:
Quản lý nguồn vốn và đầu tư của Bảo hiểm tiền gửi Error:
Việt Nam
Refere
nce
source
not
found
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu hình
Tên hình
Trang
Hình 2.1: Mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi Philippines
Error:
nce
source
not
found
Hình 2.5:
Định hướng triển khai tầm nhìn bảo hiểm tiền gửi hiệu Error:
quả tại Việt Nam
Refere
nce
source
not
found
Hình 2.6:
Hội đồng quản trị bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Error:
Refere
nce
source
not
found
Hình 2.7:
Ban điều hành bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
quy định chức năng, nhiệm vụ của BHTGVN. Việc thành lập tổ chức
BHTGVN đã góp phần tạo nên một môi trường lành mạnh, an toàn đối với hệ
thống ngân hàng nói riêng và nền tài chính Việt Nam nói chung.
Tuy nhiên, trên thực tế, bên cạnh những mặt tích cực mà pháp luật về
BHTG mang lại cho xã hội, pháp luật về tổ chức, quản trị, điều hành BHTG ở
1
Việt Nam đã bộc lộ nhiều vướng mắc, hạn chế, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên
cứu, đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn.
Theo Luật NHNN được Quốc hội khóa 12, kỳ họp thứ 7 thông qua
ngày 16 tháng 6 năm 2010, tại Điều 4, Khoản 14 quy định: “ NHNN thực
hiện quản lý nhà nước về BHTG” theo quy định của pháp luật về BHTG
[30, Điều 14, Khoản 14]. Theo Luật BHTG 2012, tổ chức BHTG là “tổ chức
tài chính Nhà nước” do Thủ tướng Chính phủ thành lập và quy định chức
năng, nhiệm vụ, tổ chức BHTG có tư cách pháp nhân, hoạt động không vì
mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí; nhưng mặt
khác Luật BHTG cũng xác định rõ ràng trách nhiệm quản lý nhà nước đối
với BHTG [31, Điều 4, Khoản 4]. Theo đó, “Chính phủ thống nhất quản lý
nhà nước về BHTG; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm trước
Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về BHTG” [31, Điều 8, Khoản 1, 2].
Như vậy, BHTGVN vẫn là một tổ chức độc lập ở mức độ nhất định theo các
quy định pháp luật hiện hành, không thuộc NHNN. BHTGVN chỉ chịu sự chỉ
đạo của NHNN về lĩnh vực BHTG theo quy định của pháp luật về BHTG.
Tuy nhiên, tính độc lập của BHTGVN hiện nay chưa rõ ràng, BHTGVN là cơ
quan quản lý nhà nước hay là doanh nghiệp nhà nước đặc biệt hoạt động trong
lĩnh vực BHTG và có chức năng quản lý quản lý nhà nước về BHTG? Về mặt
tổ chức, cơ quan nào quản lý tổ chức BHTG… Có thể nói pháp luật về BHTG
ở Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa quy định rõ và đầy đủ mô hình tổ chức, vị
Hà nội, năm 2008. Cuốn chuyên khảo này đã đề cập đến mọi vấn đề của
BHTG như một cuốn giáo trình về BHTG, cung cấp cho bạn đọc nhiều thông
tin quý báu về BHTGVN và BHTG trên thế giới, tuy nhiên công trình này
chưa đi sâu vào từng khía cạnh của BHTG. Một số công trình khác chủ yếu
tập trung vào quy chế pháp lý và hoạt động nghiệp vụ giám sát, kiểm tra, tiếp
nhận và xử lý, phí BHTG, lợi ích của BHTG... như: “Bảo hiểm tiền gửi Nguyên lý, thực tiễn và định hướng”, TS. Lê Thị Kim Oanh, Nhà xuất bản
3
Lao động xã hội, tháng 12 năm 2004; “Quy chế pháp lý về bảo hiểm tiền gửi
tại Việt Nam”, ThS. Lê Thị Thúy Sen, Viện Nhà nước Pháp luật, năm 2008;
“Pháp luật về tổ chức BHTG ở Việt Nam”, ThS Nguyễn Duy Hoàn, Khoa
Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011; “Pháp luật về hoạt động BHTG ở
Việt Nam”, TS Hoàng Thu Hằng, năm 2012; …
Ngoài ra cũng có một số bài viết đăng trên các báo và tạp chí đề cập
đến vai trò của tổ chức BHTG trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo
an sinh xã hội; Một số tài liệu tham khảo có thể tìm thấy như các bài viết
của các chuyên gia kinh tế, chuyên gia pháp lý đăng trên các tạp chí nghiên
cứu của ngành ngân hàng và của BHTGVN: “Bảo vệ quyền lợi của người
gửi tiền theo pháp luật về BHTG tại Việt Nam - Thực trạng và phương
hướng hoàn thiện” - GS.TSKH Đào Trí Úc, Thông tin BHTG số 03 tháng 4
năm 2007; “Quản lý nhà nước về BHTG” - Đặng Dung, Giám đốc văn
phòng luật sư DDZ, Báo điện tử Vietnamnet, ngày 03/3/2010…
Tuy nhiên, tài liệu tham khảo về BHTG chưa nhiều vì đây là lĩnh vực
chưa được nhiều người quan tâm nghiên cứu, biên dịch. Hơn nữa, đây là
một lĩnh vực phức tạp, tài liệu tham khảo trong nước không nhiều, đặc biệt là
sách nghiên cứu về vấn đề này hầu như rất ít. Trong bối cảnh hội nhập, đặc
biệt sau khủng hoảng tài chính - ngân hàng, nước ta cũng đang trong quá trình
hoàn thiện hệ thống pháp luật về tài chính - ngân hàng, trong đó có việc hoàn
hành tổ chức BHTG ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Cụ thể gồm các vấn
đề sau: Các quy định của pháp luật Việt Nam và của một số nước trên thế giới
về mô hình tổ chức, quản trị, điều hành BHTG.
5.2 . Phạm vi nghiên cứu
Hệ thống văn bản pháp luật về tổ chức, quản trị, điều hành BHTG của
Việt Nam: Luận văn tập trung nghiên cứu các văn bản pháp luật về tổ chức,
quản trị, điều hành BHTG từ khi tổ chức BHTG được thành lập cho đến nay;
Hệ thống văn bản pháp luật về tổ chức, quản trị, điều hành của một số
5
quốc gia trên thế giới: Luận văn lựa chọn nghiên cứu các văn bản pháp luật về
tổ chức, quản trị, điều hành của một số quốc gia đạt nhiều thành tựu nổi bật
trong việc xây dựng mô hình tổ chức, quản trị, điều hành BHTG. Cụ thể: pháp
luật về tổ chức, quản trị, điều hành BHTG của Mỹ, Canada, Nhật Bản,
Philippines… Bởi lẽ, đây là các quốc gia triển khai áp dụng mô hình tổ chức,
quản trị, điều hành BHTG hiện đại, lành mạnh, an toàn và đạt hiệu quả cao.
Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, luận văn cũng dành sự quan tâm đến
pháp luật về mô hình tổ chức, quản trị, điều hành BHTG của một số quốc gia
khác như: Hàn Quốc, Đức, …
Ngoài ra, Luận văn còn tham khảo các công trình khoa học, bài viết nghiên
cứu, bài báo… trong và ngoài nước dưới giác độ kinh tế - tài chính và pháp lý.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn có kế thừa và sử dụng một số kết quả nghiên cứu của các đề
tài nghiên cứu về lĩnh vực BHTG trong và ngoài nước để tham khảo và luận
giải các vấn đề có liên quan đến BHTG. Vận dụng phương pháp nghiên cứu
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; sử dụng phương pháp phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh, phỏng vấn, đánh giá việc vận hành, xây dựng chính
sách BHTG…
trên thế giới, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, nhu
cầu về bảo vệ người tiêu dùng nói chung và người gửi tiền nói riêng là nhu cầu
đặt ra với bất kể Chính phủ nào. Niềm tin của người gửi tiền là quan trọng đối
với sự phát triển an toàn và lành mạnh của hệ thống tài chính trong thế giới
hiện đại. Với những ưu thế và tính chuyên nghiệp trong việc bảo vệ người gửi
tiền, góp phần đảm bảo sự ổn định của hoạt động tài chính - ngân hàng, hệ
thống BHTG công khai ngày càng phát triển mạnh mẽ trên thế giới. BHTG
được xác định không chỉ bảo vệ người gửi tiền mà còn được khẳng định như
một tiêu chí, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn hoạt động của
TCTD. Tính đến 10/2014, theo khảo sát thường niên của Hiệp hội BHTG Quốc
7
tế (IADI), trên thế giới hiện có 113 tổ chức BHTG đang hoạt động và có 40 tổ
chức BHTG đang trong quá trình nghiên cứu thành lập [4, tr.317].
Bảng 1.1: Tên gọi, thời gian thành lập BHTG ở một số nước trên thế giới
STT
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Thời gian
thành lập
Tổng công ty BHTG Liên bang Mỹ (FDIC)
gia BHTG khi các tổ chức này gặp rủi ro dẫn đến tình trạng mất khả năng
thanh toán các khoản nợ đến hạn, và bị phá sản.
Tổ chức BHTG: “là tổ chức tài chính nhà nước do Thủ tướng Chính
phủ thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ”; “là pháp nhân, hoạt
động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi
8
phí” [10, Điều 3, Khoản 1, 2].
Tổ chức tham gia BHTG: “là TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
được nhận tiền gửi của cá nhân” [10, Điều 4, Khoản 1].
Theo thông lệ quốc tế, hiện nay trên thế giới có hai xu hướng tham gia
BHTG, đó là các tổ chức tham gia BHTG có thể tham gia BHTG một cách
bắt buộc hoặc tham gia tự nguyện. Điều này tùy thuộc vào chính sách tài
chính – ngân hàng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, qua nghiên cứu ở các nước,
cho thấy xu hướng phổ biến hiện nay là tham gia BHTG bắt buộc. Khi tham
gia BHTG các tổ chức này có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức
BHTG và được quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm cho người
gửi tiền tại tổ chức đó trong trường hợp tổ chức này bị mất khả năng thanh
toán và bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động.
Người được BHTG “là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức
tham gia bảo hiểm tiền gửi” [31, Điều 4, Khoản 2]. Người gửi tiền không
phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức
BHTG thanh toán tiền gửi kể cả tiền gốc và tiền lãi tích lũy trên tiền gửi đó
trong hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm của tổ chức BHTG có thể là
toàn bộ hoặc một phần tiền gửi do chính sách của mỗi quốc gia.
BHTG có thể được thực hiện trong phạm vi hạn chế (các khoản tiền gửi
được bảo hiểm đến một giới hạn nhất định) hoặc được bảo hiểm toàn bộ (mọi
người gửi tiền và tất cả các khoản tiền gửi đều được bảo hiểm). Điều này còn
hàng và ổn định xã hội.
BHTG có những đặc điểm như sau:
Chủ thể tham gia BHTG chỉ có thể là tổ chức tài chính có nhận tiền gửi
của công chúng dưới các hình thức nhất định. Với một hệ thống BHTG công
khai thì sự tham gia của các tổ chức tài chính là bắt buộc, nhằm tạo sân chơi
bình đẳng giữa các tổ chức này, tạo nguồn vốn hoạt động cho tổ chức BHTG.
Bên cạnh đó rủi ro sẽ được phân bổ cho các đối tượng đa dạng, tránh tình
10
trạng chỉ có ngân hàng, TCTD yếu kém mới mua bảo hiểm, còn những ngân
hàng, TCTD hoạt động tốt thì không mua bảo hiểm. Trên cơ sở đó làm giảm
mức độ rủi ro của bản thân tổ chức BHTG và gánh nặng của Chính phủ trong
việc hỗ trợ tài chính chi trả bảo hiểm. Ở điểm này, ta thấy BHTG khác với các
loại hình bảo hiểm khác có thể bắt buộc và có thể tự nguyện như bảo hiểm xã
hội, hoặc tham gia hoàn toàn do ý chí các bên như loại hình kinh doanh bảo
hiểm theo luật kinh doanh bảo hiểm.
Phí BHTG là khoản phí do pháp luật quy định. Các bên tham gia quan
hệ BHTG không thể thoả thuận về mức phí như các loại hình bảo hiểm khác.
Các hệ thống BHTG trên thế giới thường đứng trước sự lựa chọn hai loại phí
bảo hiểm: phí đồng hạng hoặc phí căn cứ vào mức độ rủi ro của từng ngân
hàng. Các nước khi mới thành lập hệ thống BHTG thường áp dụng mức phí
bảo hiểm đồng hạng để dễ thực hiện và quản lí. Tuy nhiên, chế độ phí này
không đề cập tới mức độ rủi ro của từng ngân hàng đối với hệ thống nên
không đảm bảo tính công bằng, dễ gây những phản ứng từ phía các ngân
hàng “mạnh”, có quy mô và uy tín lớn trên thị trường. Do vậy, xu hướng
những năm 90 của thế kỉ XX trở lại đây, các nước chuyển đổi sang chế độ
tính phí theo mức độ rủi ro. Theo cách tính phí này, cơ sở để xác định tỉ lệ
phí BHTG là kết quả phân loại tổ chức tham gia BHTG. Ngân hàng nào hoạt
gửi của từng ngân hàng hội viên.
Ngoài ra, một chỉ số “rủi ro tổng hợp” hình thành từ 4 tiêu chí về khả
năng thanh toán, khả năng sinh lời, phân tán rủi ro và hoán đổi kì hạn giữa
tài sản nợ và tài sản có cũng được sử dụng. Mức phí bổ sung khác nhau cho
từng ngân hàng được tính toán căn cứ vào những tiêu chí của hệ thống
CAMEL của cơ quan thanh tra và những chỉ số xác định mức vượt hoặc
thiếu vốn so với mức tối thiểu bắt buộc và chất lượng tín dụng. Cơ quan
BHTG của Mỹ (FDIC) xem xét đánh giá mức độ rủi ro của ngân hàng thông
qua hệ thống CAMELS (hệ thống đánh giá tình trạng vững mạnh của các tổ
12
chức tài chính).
Đối tượng được bảo hiểm rất đặc biệt đó là: nghĩa vụ thanh toán các
khoản tiền gửi của người gửi tiền tại tổ chức nhận tiền gửi. Người nộp phí
BHTG tách rời người thụ hưởng bảo hiểm. Có thể nói, rủi ro tiền gửi có mối
liên quan mật thiết với hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi. Việc xác định
loại tiền gửi nào được bảo hiểm, là cơ sở tính phí BHTG định kì phụ thuộc
vào chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia. Nguyên tắc hoạt động BHTG nói
chung là bảo vệ người gửi tiền nhỏ. Tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi của cá nhân
bằng nội tệ là loại tiền gửi mà đến nay tất cả các hệ thống BHTG trên thế giới
đều bảo vệ. Việc loại trừ những khoản tiền gửi được bảo hiểm cũng như quy
định mức BHTG tối đa nhằm giảm thiểu rủi ro cho chính tổ chức BHTG và
nâng cao trách nhiệm quản lí hoạt động kinh doanh của các tổ chức tham gia
BHTG. Các khoản tiền gửi không được bảo hiểm thường là bằng ngoại tệ
hoặc là tiền gửi của các tổ chức. Việc quyết định bảo hiểm cho đồng ngoại tệ
hay không là một vấn đề nan giải đối với mỗi quốc gia. Ở những quốc gia mà
tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm tỉ lệ thấp, các giao dịch chủ yếu được thực hiện
thông qua đồng nội tệ thì việc loại trừ đối tượng bảo hiểm là đồng ngoại tệ là
10/2003, NHTMCP Phương Nam năm 2008, là một minh chứng điển hình.
Hiện tượng này nếu không được xử lí kịp thời bằng các biện pháp nhất định
có thể là nguyên nhân dẫn đến việc rút tiền hàng loạt tại các ngân hàng, gây
nên cuộc khủng hoảng tài chính.
Do vậy, để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, nhất là những người
gửi tiền nhỏ, ít có khả năng tự bảo vệ cần phải có một tổ chức đứng ra bảo
hiểm cho tiền gửi của họ. Điểm đặc biệt của hình thức bảo hiểm này là người
được bảo hiểm (người được hưởng quyền lợi bảo hiểm, cũng tức là người gửi
tiền) không phải là người tham gia bảo hiểm và trả phí bảo hiểm mà là các tổ
chức nhận tiền gửi (tất nhiên các tổ chức nhận tiền gửi là người trả phí). Đây
là mối quan hệ ba bên giữa tổ chức BHTG, tổ chức tham gia BHTG và người
gửi tiền. Đây cũng là điểm khác biệt so với bảo hiểm thương mại. Khi cơ
14