Quyền Công đoàn của người lao động Việt Nam trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Pdf 57

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN KHNH LINH

QUYềN CÔNG ĐOàN CủA NGƯờI LAO ĐộNG VIệT NAM
TRONG XU HƯớNG CAM KếT THựC HIệN CáC
HIệP ĐịNH THƯƠNG MạI Tự DO THế Hệ MớI

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2018


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN KHNH LINH

QUYềN CÔNG ĐOàN CủA NGƯờI LAO ĐộNG VIệT NAM
TRONG XU HƯớNG CAM KếT THựC HIệN CáC
HIệP ĐịNH THƯƠNG MạI Tự DO THế Hệ MớI
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 8380101.05

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: PGS.TS Lấ TH HOI THU

H NI - 2018


Khái quát chung về quyền công đoàn của ngƣời lao động........... 10
1.2.1. Khái niệm quyền công đoàn của người lao động ............................... 10
1.2.2. Nội dung quyền công đoàn của người lao động ................................ 13
1.2.3. Các đảm bảo cho quyền công đoàn của người lao động .................... 23
Quyền công đoàn của ngƣời lao động theo quy định của pháp
luật quốc tế ........................................................................................ 28
Kết luận Chƣơng 1 ........................................................................................ 42
1.3.

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI
HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CÔNG ĐOÀN CỦA NGƢỜI
LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRONG XU HƢỚNG CAM KẾT
THỰC HIỆN CÁC HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO THẾ
HỆ MỚI .........................................................................................................43
Thực trạng quy định về quyền công đoàn của ngƣời lao động
Việt Nam trong xu hƣớng cam kết thực hiện các Hiệp định
thƣơng mại tự do thế hệ mới ........................................................... 43
2.1.1. Về quyền thành lập, gia nhập công đoàn ........................................... 43
2.1.2. Về quyền tự quyết công việc nội bộ của tổ chức công đoàn của
người lao động.................................................................................... 50
2.1.


2.1.3. Về quyền thương lượng tập thể và đình công .................................... 52
2.1.4. Về quyền bảo vệ tổ chức và cán bộ công đoàn .................................. 55
2.2.

Thực tiễn thi hành pháp luật và quyền công đoàn của ngƣời
lao động trong xu hƣớng cam kết thực hiện các Hiệp định
thƣơng mại tự do thế hệ mới ........................................................... 58

3.3.

KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 83


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Chữ cái viết tắt

Cụm từ đầy đủ

CĐCS

Công đoàn cơ sở

CESCR

Công ước quốc tế về các quyền kinh tế,văn hóa và xã hội 1966

CPTPP

Comprehensive and Progressive Agreement for TransPacific Partnership - Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ
xuyên Thái Bình Dương

EVFTA

Hiệp định Thương mại tự do EU-Việt Nam

FTA

Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm - 1948

WTO

World Trade Organization – Tổ chức thương mại thế giới


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, hợp tác và liên kết kinh tế trên quy mô toàn cầu cũng như
khu vực là xu thế tất yếu mà tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ, dù mạnh hay
yếu đều hướng đến. Quá trình toàn cầu hóa này có ảnh hưởng to lớn đến tất cả
các lĩnh vực của đời sống con người như kinh tế, chính trị, pháp luật, văn
hóa… trong đó có vấn đề lao động và pháp luật lao động cũng chịu những ảnh
hưởng sâu rộng về mọi mặt như các vấn đề liên quan đến việc làm, tiêu chuẩn
lao động, công đoàn,...
Những năm qua Việt Nam, đã và đang bước quá trình hội nhập kinh tế
với nhiều lợi thế và thách thức được đặt ra. Để đón bắt các cơ hội phát triển
mới, từ đại hội VII (1991) đến nay Đảng ta đã đề ra các chủ trương nhất quán
về hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng chủ động, đa phương hóa, đa dạng
hóa, chú trọng đến các đối tác chiến lược và các nước có chung đường biên
giới. Năm 2015 được coi là năm của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt
Nam. Ngoài việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN, Việt Nam đã kết
thúc quá trình đàm phán và đi vào ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do.
Tính đến thời điểm tháng 2/2016, Việt Nam đã ký kết 11 FTA khu vực và
song phương. Cùng với quá trình toàn cầu hóa, nội dung và phạm vi của các
Hiệp định thương mại tự do ngày càng được mở rộng. Nếu như trong giai
đoạn đầu, nội dung FTAs chủ yếu quy định về thương mại truyền thống như
việc giảm thiểu các hàng rào thương mại như thuế quan, quota, hải quan thì
dần dần các điều khoản nhằm bảo đảm cạnh tranh lành mạnh như sở hữu trí

và luật Việt Nam” của Ths. Cao Nhất Linh đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập
pháp điện tử ngày 21/03
- Quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người lao động ở Việt
Nam hiện nay, năm 2015, Luận văn Ths Luật học của Vũ Thị Hường;

2


- Quyền tự do công đoàn của người lao động ở Việt Nam hiện nay Luận văn thạc sĩ luật học, năm 2017, luận văn Ths Luật học của Nguyễn Thị
Mùi và một số công trình nghiên cứu khác.
Các công trình này đã nghiên cứu và lãm rõ được một số vấn đề lý
luận và thực tiễn về quyền công đoàn của người lao động được quy định
trong pháp luật lao động Việt Nam cũng như trên thế giới.Tuy nhiên cùng
với sự chuyển biến mạnh mẽ và nhanh chóng về tình hình chính trị - xã
hội cũng như xu hướng toàn cầu hóa, những quy định pháp luật về quyền
công đoàn của người lao động đã và đang có sự biến đổi đặc biệt là khi
Việt Nam đẩy mạnh việc ký kết các Hiệp định Thương mại tự do Thế hệ
mới.Chính vì vậy việc đi sâu vào nghiên cứu về khía cạnh quyền công
đoàn trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy quá trình đàm phán các hiệp
định thương mại thế hệ mới là việc mang ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu
sắc. Do đó tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Quyền công đoàn của
người lao động Việt Nam trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới.”
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục tiêu nghiên cứu:
Luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về về
quyền công đoàn của người lao động trong xu hướng cam kết gia nhập các
Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn:
Một là nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quyền công đoàn của người

FTA thế hệ mới mà Việt Nam gia nhập. Từ đó tìm ra những giải pháp để đảm
bảo cho việc thực hiện các cam kết về quyền công đoàn cho người lao động
của Việt Nam.

4


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền công đoàn của người lao
động trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế
hệ mới.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về
quyền công đoàn của người lao động Việt Nam trong xu hướng cam kết thực
hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện quyền
công đoàn của người lao động trong xu hướng cam kết thực hiện các Hiệp
định thương mại tự do thế hệ mới.

5


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CÔNG ĐOÀN CỦA
NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG XU HƢỚNG CAM KẾT THỰC HIỆN
CÁC HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI
1.1. Khái quát về các hiệp định thƣơng mại tự do thế hệ mới
Tự do hóa thương mại đã và đang trở thành xu thế để phát triển nền
kinh tế của nhiều quốc gia trong những thập kỷ gần đây. Việc ký kết các Hiệp

hội nhập đa phương bởi vì các quốc gia đều nhận thấy rằng, để thúc đẩy tự do
hóa thương mại nhanh hơn cũng như mức độ cam kết sâu rộng hơn, con
đường thuận lợi nhất chính là đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự
do khu vực và song phương.
FTA là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ
nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một hoặc một số nhóm mặt hàng nào
đó bằng việc cắt giảm thuế quan, có các quy định tạo thuận lợi cho trao đổi
hàng hóa, dịch vụ và đầu tư giữa các thành viên. Các nội dung mà FTA đề cập
đến thường bao gồm: Quy định về việc cắt giảm các hàng rào thuế quan và
phi thuế quan; Quy định về danh mục mặt hàng đưa vào cắt giảm thuế quan;
Quy định về lộ trình cắt giảm thuế quan; Quy định về quy tắc xuất xứ. Vẫn
dựa trên những cách thức tương tự WTO nhưng thay vì trên quy mô toàn cầu,
FTA hướng tới khu vực hóa, vì vậy các FTA cũng dễ dàng được ký kết hơn
và có ảnh hưởng sâu hơn. Cùng với quá trình toàn cầu hóa, nội dung và phạm
vi của các Hiệp định thương mại tự do ngày càng được mở rộng. Cho đến
nay, các FTA đã trải qua 4 thế hệ, nếu thế hệ FTA đầu tiên chỉ tập trung vào
thương mại hàng hóa thì đến thế hệ FTA thứ 2 đã mở rộng thêm dịch vụ. Thế
hệ FTA thứ 3 mở rộng thêm lĩnh vực đầu tư và thế hệ FTA thứ 4 hiện nay còn
liên quan đến các lĩnh vực phi thương mại như môi trường, công đoàn…và
các FTA thế hệ thứ tư này thường được gọi dưới tên là các FTA thế hệ mới.

7


Thuật ngữ “thế hệ mới” hoàn toàn mang tính tương đối, được dùng để cho các
FTA có phạm vi toàn diện, vượt ra ngoài khuôn khổ tự do hóa thương mại
hàng hóa. Các FTA thế hệ mới có một số đặc trưng sau:
- Các cam kết được quy định một cách linh hoạt, tạo điều kiện cho các
nước đi sau (các nước đang phát triển) có thể điều chỉnh chính sách theo lộ
trình phù hợp với trình độ phát triển của mình. Nếu như trong FTA truyền

Quốc, đến Trung Quốc, rồi Việt Nam... Cứ như vậy, các nhà máy dịch chuyển
để tận dụng nguồn lao động giá rẻ tại các nước đang phát triển.Trong quá
trình này, điều kiện lao động ngày càng bị hạ thấp, có những thời điểm, lương
của lao động chỉ được trả ở mức 10 đô la Mỹ/tháng [31]. Từ đó xuất hiện ý
kiến cho rằng nên đưa tiêu chuẩn lao động vào các FTA thế hệ mới. Trong bối
cảnh toàn cầu hóa, vấn đề bảo đảm quyền lợi của người lao động ngày càng
được coi trọng trên cơ sở coi người lao động là người trực tiếp làm ra các sản
phẩm trong thương mại quốc tế, nên trước hết họ phải được bảo đảm các
quyền, lợi ích và các điều kiện lao động cơ bản.Liên quan đến vấn đề lao
động, có 2 nhóm quan điểm trái ngược nhau về vai trò của các tiêu chuẩn lao
động trong quá trình toàn cầu hóa, cũng như việc đưa các tiêu chuẩn lao động
quốc tế vào trong các các FTA.
Những người theo chủ thuyết thương mại tự do (free trade) coi các tiêu
chuẩn lao động là rào cản đối với thị trường, và theo họ, điều kiện lao động sẽ
được cải thiện từ quá trình phát triển kinh tế, và tất cả mọi người (trong đó tất
nhiên có người lao động) sẽ được hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hóa. Những
người này cho rằng thay vì thúc đẩy phát triển kinh tế, Tổ chức lao động quốc
tế ILO vẫn duy trì cách thức tiếp cận cũ, cách thức lập quy theo lối suy nghĩ
của thế kỷ trước và không thể hiện vai trò tích cực trong việc tiếp cận các cơ
hội cũng như thách thức mới của nền kinh tế trong quá trình toàn cầu hóa. Từ
đó họ cho rằng việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn lao động quốc tế là
không cần thiết và vai trò của ILO là không cần thiết [15].

9


Khác với những người theo chủ thuyết thương mại tự do, những người
theo trường phái thương mại công bằng (fair trade), các tổ chức dân sự và
nhóm những nhà hoạt động về quyền của người lao động lại cho rằng bên
cạnh những mặt tích cực, toàn cầu hóa cũng bộc lộ những mặt tiêu cực. Tình

Nếu như ban đầu chỉ là sự phản kháng rời rạc, tự phát của một số cá nhân thì
dần dần thành sự liên kết của cả một phân xưởng, một nhà máy… Hình thức
ban đầu của công đoàn là các “Hội tương trợ”, Hội huynh đệ”, “Hội hữu
nghị”… được những người công nhân thành lập lên để giúp đỡ lẫn nhau.
Vào thời kỳ đầu, tổ chức và hoạt động của các hội này bị các nhà nước cấm
đoán, đàn áp những phong trào công nhân, công đoàn vẫn phát triển rộng
khắp.Trải qua quá trình đấu tranh bền bỉ, lần lượt các nhà nước tư bản buộc
phải thừa nhận địa vị hợp pháp của công đoàn. Cho đến nay, tổ chức công
đoàn ngày một phát triển rộng rãi, không chỉ trong giai cấp công nhân, ở
tầng lớp làm công ăn lương mà còn phát triển ở hàng ngũ viên chức nhà
nước,tầng lớp trung lưu.Ở nhiều nước tư bản phát triển, công đoàn không
chỉ là tổ chức nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân, mà con đóng
vai trò người hoà giải, cân bằng lợi ích giữa giới chủ, công nhân và chính
phủ. Hiện nay trên thế giới có 3 tổ chức công đoàn quốc tế:
- Liên hiệp công đoàn thế giới (WFTU) thành lập 3/10/1945 đây là tổ
chức của lao động thế giới đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít. Hiện nay, tổ
chức này có 102 tổ chức công đoàn thành viên ở 74 nước với tổng số đoàn
viên khoảng 407 triệu người.
- Liên hiệp quốc tế các công đoàn tự do (CFTU), thành lập vào năm
1949 tại Luân đôn. Hiện nay CFTU có khoảng 140 triệu thành đoàn viên
thuộc 160 trung tâm công đoàn ở 120 nước trên thế giới.
- Liên hiệp công đoàn thế giới (WCL) thành lập năm 1920 tại Hà Lan
có khoảng 25 triệu đoàn viên ở 60 quốc gia.
Xét từ lịch sử hình thành và phát triển của tổ chức công đoàn, ta thấy

11


quan niệm về quyền công đoàn gắn chặt với quan niệm về công đoàn. Công
đoàn là tổ chức tự nguyện, độc lập, do công nhân thành lập và hoạt động vì

những lý do quyền công đoàn của người lao động thuộc nhóm những tiêu
chuẩn lao động quốc tế cơ bản bởi vì nó đóng vai trò quan trọng cho sự hoạt
động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường. Khi quyền tự do công đoàn được
thực thi hiệu quả sẽ tạo ra cơ sở pháp lý cho người lao động và người sử dụng
lao động thiết lập các tiêu chuẩn lao động khác trong quan hệ lao động. Ví dụ
như đại diện của người lao động và người sử dụng lao động có thể thương
lượng về tiền lương, thời gian làm thêm,… Đây chính là nền tảng cho sự vận
hành của thị trường lao động.
1.2.2. Nội dung quyền công đoàn của người lao động
Thứ nhất, quyền thành lập và gia nhập tổ chức công đoàn
Tương tự với quyền lập hội thì đây là một quyền cơ bản của con người
nói chung của người lao động nói riêng. Điều 23 khoản 4 của Tuyên ngôn thế
giới về nhân quyền năm 1948 đã ghi nhận: “Tất cả mọi người đều có quyền,
cùng với người khác, thành lập các công đoàn hay gia nhập vào các công
đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”.
Theo từ điển tiếng Việt thì thành lập là chính thức lập nên, dựng lên
(thường nói về một tổ chức quan trọng) như thành lập công ti, ngày thành lập
Đảng [12]. Ngoài ra theo cách hiểu thông thường, thuật ngữ “thành lập” được
hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất là thành lập một tổ chức mới, thứ hai là thành
lập một thành viên mới của tổ chức đã có [27]. Ở các quốc gia khác nhau thì
quyền thành lập công đoàn của người lao động lại được hiểu theo những cách
khác. Đối với những quốc gia đi theo mô hình công đoàn đơn nhất như Việt
Nam, Trung Quốc… thì chỉ có một tổ chức công đoàn duy nhất đại diện, bảo
vệ quyền lợi cho người lao động và tổ chức này là thành viên của hệ thống
chính trị được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Như vậy người lao động ở
những quốc gia này có quyền cùng nhau lựa chọn giữa việc thành lập hay

13




là một thủ tục cho phép (prior authorization procedure) [5]. Bởi lẽ theo theo
luật nhân quyền cũng như các công ước về quyền tự do liên kết thì tự do lập
hội là một quyền đương nhiên của con người. Như vậy ở nhiều quốc gia sự
cho phép của cơ quan có thẩm quyền không phải là điều kiện cho việc hiện
diện một công đoàn. Và thủ tục thông báo và cấp phép cũng chỉ mang ý nghĩa
chính để các cơ quan chức năng có thể thống kê về các công đoàn đang hoạt
động. Tuy nhiên quyền tự do thành lập tổ chức công đoàn cũng không phải là
một quyền tự do tuyệt đối mà nó có những giới hạn quyền nhất định vì một số
lý do như để đảm bảo an ninh quốc gia và lợi ích cộng đồng; Cũng như để
đảm bảo cho chính việc hoạt động có hiệu quả của các tổ chức công đoàn và
cân bằng được lợi ích giữa các bên trong quan hệ lao động. Pháp luật mỗi
quốc gia đều đặt ra một số quy định cơ bản để thành lập nên tổ chức công
đoàn như: mục đích, điều lệ, thành viên, quy trình thủ tục thành lập. Các điều
kiện cụ thể đối với thành viên công đoàn đó là: điều kiện về số lượng thành
viên tham gia, quốc tịch, độ tuổi của các thành viên. Ví dụ như về số lượng
thành viên để thành lập công đoàn có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia. Luật
hội của Ba Lan yêu cầu cần có 15 người để thành lập một hội, trong khi đó
luật Ai Cập cần có 10 người, Luật Ấn Độ cần 7 người và luật của Pháp chỉ
cần 2 người là có thể lập hội.
Cùng với quyền thành lập công đoàn, người lao động còn có quyền gia
nhập cũng như xin rút lui khỏi công đoàn. Thuật ngữ gia nhập được hiểu là
một chủ thể (quốc gia, tổ chức, cá nhân) tự nguyện tán thành những quy định
của tổ chức đã có trong xã hội và tự nguyện xin gia nhập vào tổ chức đó và
được tổ chức đồng ý. Đối với những nước chỉ có một tổ chức công đoàn duy
nhất thì người lao động có quyền tự nguyện gia nhập hay không gia nhập tổ
chức công đoàn này mà không bị bất kỳ chủ thể nào khác ép buộc. Đối với
những quốc gia theo hướng đa nguyên về công đoàn thì người lao động có

15

16


đảm bảo cho sự hoạt động của tổ chức mình. Các cơ quan độc lập do Nhà
nước lập ra có quyền xem xét báo cáo của các tổ chức công đoàn như một cơ
chế đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm giải trình, nhưng một thủ tục như
vậy không được mang tính chất tùy tiện và phải tôn trọng nguyên tắc không
phân biệt đối xử và quyền riêng tư của các tổ chức đó [10]. Tuy nhiên đối với
một số quốc gia theo mô hình công đoàn đơn nhất lại có một số những giới
hạn đối với quyền tổ chức nội bộ công đoàn. Ví dụ như về vấn đề quy chế tài
chính thì các tổ chức công đoàn ở Việt Nam phải tuân theo các quy định về
thu chi kinh phí, đoàn phí công đoàn theo quy định của pháp luật và điều lệ
công đoàn Việt Nam. Cụ thể theo quy định của pháp luật hiện nay thì tại
doanh nghiệp có tổ chức công đoàn thì người lao động tham gia tổ chức công
đoàn phải đóng đoàn phí công đoàn với mức 1% tiền lương làm căn cứ đóng
bảo hiểm xã hội, những mức đống đoàn phí phí hàng tháng tối đa chỉ bằng
10% mức lương cơ sở. Tuy nhiên Doanh nghiệp chỉ được hưởng 60% tổng số
thu đoàn phí công đoàn mà phải nộp 40% tổng số thu đoàn phí công đoàn cho
công đoàn cấp trên.
Thứ ba, quyền thương lượng tập thể và đình công
Quyền đại diện và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao
động là quyền vốn có của Công đoàn nó gắn liền với sự hình thành và phát
triển của Công đoàn. Trong đó, quyền đại diện cho người lao động tham gia
vào các hoạt động thương lượng tập hay lãnh đạo đình công là quyền hết sức
quan trọng của công đoàn. Việc đảm bảo cho quyền thương lượng tập hay
lãnh đạo đình công của công đoàn cũng chính là những đảm bảo cho quyền tự
do công đoàn của người lao động.
Tại nơi làm việc, thương lượng là cơ sở cho việc tìm kiếm sự cân bằng
giữa các lợi ích của người lao động với người sử dụng lao động và tiến tới các



18


không phải là sao chép những nội dung của pháp luật quy định. Hay trong vấn
đề xử lý kỷ luật lao động công đoàn cũng đóng vài trò quan trọng. Trên thực
tế, nhằm duy trì hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp, người sử dụng lao
động có thể áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật lao động khác nhau theo luật
định. Tuy vậy, cần nhìn nhận rằng khi vấn đề xử lý kỷ luật chưa được đặt ra,
người lao động đã ở một vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động. Vậy
thì khi phát sinh căn cứ để xử lý kỷ luật lao động, sự chênh lệch về mặt vị thế
còn lớn hơn rất nhiều nếu người lao động không có một tổ chức đại diện đứng
ra để bảo vệ quyền lợi cho họ. Thực tiễn cho thấy, rất nhiều trường hợp người
sử dụng lao động đã lợi dụng việc xử lý kỷ luật lao động và sự thiếu hiểu biết
về pháp luật của người lao động để áp dụng các hình thức kỷ luật lao động
vượt quá mức độ vi phạm của họ hoặc các chế tài khác không được pháp luật
quy định để xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của bản thân người lao động.
Chính bởi lẽ đó, sự xuất hiện của tổ chức Công đoàn sẽ giúp cho người lao
động có tiếng nói hiệu quả hơn trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
mình. Ở hầu hết các nước đều quy định chỉ có công đoàn mới là tổ chức đại
diện của người lao động có quyền thương lượng tập thể với người sử dụng lao
động; Chỉ có một số ít nước như Trung Quốc, Campuchia quy định thương
lượng tập thể có thể được thực hiện ở những nơi chưa có công đoàn. Trong
trường hợp này, thương lượng tập thể được thực hiện giữa đại diện được bầu
của người lao động với người sử dụng lao động. Lý do của quy định này xuất
phát từ lý thuyết căn bản rằng, quyền thương lượng tập thể là quyền phát sinh
từ quyền tổ chức của người lao động. Trong quan hệ lao động, người lao động
có quyền tổ chức, tập hợp nhau lại thành công đoàn để có sức mạnh tập thể và
dùng sức mạnh tập thể đó thương lượng với người sử dụng lao động một cách
bình đẳng nhằm xác lập các điều kiện lao động trong quan hệ lao động. Một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status