Việt nam – nnắm bắt cơ hội của các hiệp định thương mại tự do thế giới mới (vietnamese) - Pdf 48

Public Disclosure Authorized

BỘ CÔNG THƯƠNG
BỘ
CÔNG
THƯƠNG
THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM

Public Disclosure Authorized

Public Disclosure Authorized

Public Disclosure Authorized

VIỆT NAM:

NẮM BẮT
CƠ HỘI CỦA
CÁC HIỆP ĐỊNH
THƯƠNG MẠI TỰ DO
THẾ THỆ MỚI
Hội thảo do Bộ Công thương và
Ngân hàng Thế giới đồng tổ chức

KỶ YẾU

Ngày 5 tháng 9 năm 2016




Phát triển doanh nghiệp, hỗ trợ DN vừa và nhỏ và cải thiện môi trường đầu tư
trong bối cảnh Việt Nam tham gia TTP và EVFTA ......................................................58
Tạo môi trường bình đẳng để khuyến khích phát triển khu vực tư nhân
ở Việt Nam . .............................................................................................................61
Làm thế nào để tạo thuận lợi thương mại và phát triển logistics ở Việt Nam nhằm
tối đa hóa lợi ích của TPP và EVFTA .........................................................................64
Các hiệp định FTA thế hệ mới và tăng trưởng bao trùm (inclusive growth)
ở Việt Nam ...............................................................................................................69

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Việt Nam: Hội nhập Toàn cầu: Cơ hội và Thách thức đối với Tăng trưởng . ...........74
Hiệp định TPP và EVFTA có ý nghĩa gì đối với Việt Nam.........................................87


Chương Rào cản kỹ thuật đối với Thương mại (TBT) và Chương Vệ sinh và
Kiểm dịch thực vật (SPS) trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)
và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA).................99
Các ý nghĩa tác động của TPP và EVFTA cho các doanh nghiệp Việt Nam .........105
Các biện pháp phi thuế quan trong TPP.................................................................139
Chương Lao động – Đánh giá tác động của Hiệp định Đối tác thương mại xuyên
Thái Bình Dương và Hiệp định tự do thương mại giữa Liên minh châu Âu và
Việt Nam.................................................................................................................145
Phân tích về Chương Môi trường của Hiệp định Đối tác xuyên
Thái Bình Dương (TPP)..........................................................................................152
Chương về sở hữu trí tuệ của TPP - Phân tích khoảng trống và đánh giá
tác động..................................................................................................................156
Giải quyết tranh chấp..............................................................................................179
Tạo thuận lợi thương mại, tạo giá trị và năng lực cạnh tranh: Gợi ý chính sách
cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam - Báo cáo tóm tắt..............................................185


Nhóm Ngân hàng Thế giới cam kết giúp Việt Nam tận dụng tối đa các hiệp định thương mại
tự do. Hội thảo này là một phần của một chương trình rộng lớn hơn nhằm đảm bảo rằng Việt Nam
tiếp tục đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh về kinh tế, tạo ra sự thịnh vượng được chia sẻ và tạo
việc làm chất lượng cao cho dân số trẻ của đất nước một cách bền vững. Đặc biệt, mục tiêu của
hội thảo nhằm nâng cao nhận biết về những cơ hội, thách thức cũng như rủi ro của Việt Nam trong
quá trình hội nhập quốc tế sâu sắc hơn, nhằm tối đa hóa lợi ích ròng do các hiệp định thương mại
tự do thế hệ mới này mang lại.

1


LỜI CẢM ƠN
Cuốn Kỷ yếu này lưu lại toàn bộ tài liệu trình bày tại hội thảo “Việt Nam: Nắm bắt Cơ hội
từ các Hiệp định Thương mại Tự do Thế hệ mới” được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 15/6/2016.
Khoảng 400 đại biểu từ các cơ quan chính phủ, các đối tác phát triển, các tổ chức quốc tế, khu
vực tư nhân, viện nghiên cứu và truyền thông đã tham gia hội thảo này. Mục đích của hội thảo
nhằm nâng cao sự hiểu biết của các bên liên quan chính về các thách thức, cơ hội và rủi ro mà
Việt Nam phải đối mặt khi thực hiện các hiệp định thương mại tự do mới này và cuốn Kỷ yếu này
cũng có chung mục đích như vậy.
Một Ban tổ chức bao gồm ông Phạm Minh Đức, ông Richard Record và ông Julian Clarke
từ Ngân hàng Thế giới và các ông Lương Hoàng Thái và ông Ngô Chung Khanh từ Bộ Công
Thương điều phối sự chuẩn bị và tiến hành hội thảo dưới sự chỉ đạo chung của bà Mona Haddad,
Giám đốc Khu vực về Thương mại và Cạnh tranh của Ngân hàng Thế giới và ông Trần Quốc Khánh,
Thứ trưởng Bộ Công Thương.
Ban tổ chức xin trân trọng cảm ơn Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ và Phó Chủ tịch Ngân hàng
Thế giới Victoria Kwakwa đã tham dự và phát biểu khai mạc hội thảo.
Hội thảo đã không thể thành công nếu thiếu sự đóng góp của rất nhiều các chuyên gia bao gồm
ông Trần Quốc Khánh (Thứ trưởng, Bộ Công Thương), bà Mona Haddad (Giám đốc Khu vực,
Ngân  hàng Thế giới), ông Nguyễn Khánh Ngọc (Thứ trưởng, Bộ Tư pháp), ông Vũ Tiến Lộc
(Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam), bà Nguyễn Thị Thu Trang (Phòng Thương mại và


Phiên Toàn thể 1: Đề dẫn – Việt Nam sẵn sàng thực hiện các hiệp định thương mại tự do
thế hệ mới
Điều hành: Ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách Đa biên, Bộ Công thương và Bà
Mona Haddad, Giám đốc khu vực Khối Thương mại và Cạnh tranh, Ngân hàng Thế giới
8:20-8:40

TPP và EVFTA: Kế hoạch phê chuẩn và thực hiện
Ông Trần Quốc Khánh, Thứ trưởng, Bộ Công thương

8:40-9:05

Nắm bắt cơ hội và hạn chế rủi ro của TPP và EVFTA
Bà Mona Haddad, Giám đốc khu vực Khối Thương mại và Cạnh tranh, Ngân
hàng Thế giới

9:05-9:25

Lộ trình đổi mới pháp luật về thương mại của Việt Nam để thực hiện TPP và
EVFTA
Ông Nguyễn Khánh Ngọc, Thứ trưởng, Bộ Tư pháp

9:25-9:45

Các doanh nghiệp Việt Nam đã sẵn sàng cho việc thực hiện TPP và EVFTA?
Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

9:45-10:00

Giải lao

Thảo luận

Phiên chủ đề 2: Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, tạo thuận lợi cho thương mại, và
đảm bảo sự công bằng
Chủ tọa: Ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng, Viện Quản lý Kinh tế Trung ương và Ông Kyle
F. Kelhofer, Giám đốc quốc gia, Công ty Tài chính Quốc tế, Nhóm Ngân hàng Thế giới

3


10:00-10:15

Phát triển doanh nghiệp, hỗ trợ DN vừa và nhỏ và cải thiện môi trường đầu
tư trong bối cảnh Việt Nam tham gia TTP và EVFTA
Bà Phạm Thị Hồng Yến, Phó Vụ trưởng, Ban Kinh tế Trung ương

10:15-10:30

Tạo môi trường bình đẳng để khuyến khích phát triển khu vực tư nhân ở
Việt Nam
Ông Chunlin Zhang, Chuyên gia Kinh tế trưởng về Phát triển Khu vực Tư
nhân, Ngân hàng Thế giới

10:30-10:45

Làm thế nào để tạo thuận lợi thương mại và phát triển logistics ở Việt Nam
nhằm tối đa hóa lợi ích của TPP và EVFTA
Ông Gerard McLinden, Chuyên gia Kinh tế trưởng về Tạo thuận lợi Thương
mại, Ngân hàng Thế giới



Thảo luận

12:00-12:15

Bế mạc
Thứ trưởng Trần Quốc Khánh, Thứ trưởng Bộ Công thương
Bà Mona Haddad, Giám đốc Khu vực khối Thương mại và Tính cạnh tranh,
Ngân hàng Thế giới

12:15-13:30

Ăn trưa

4


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

APEC

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương

AFTA

Khu vực Tự do Thương mại ASEAN

ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á


Thiết bị Điện và Điện tử

ESCAP

Uỷ ban Kinh tế Xã hội châu Á-Thái Bình Dương

ETI

Chỉ số Thuận lợi Thương mại

EVFTA

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên Minh châu Âu

FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA

Hiệp định thương mại tự do

G2G

Chính phủ với Chính phủ

GATT

Hiệp ước chung về Thuế quan và Mậu dịch


Quyền sở hữu trí tuệ

IWT

Ngành Đường thủy Nội địa

LPI

Chỉ số Hoạt động Ngành Hậu cần

LSCI

Chỉ số Kết nối Tàu biển

MARD

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

MNCs

Hợp tác Đa Quốc gia

MOF

Bộ Tài chính

MOFA

Bộ Ngoại giao


Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế

NH

Quốc lộ

NSW

Cơ chế một cửa Quốc gia

NTB

Rào cản phi thuế quan

NTMs

Các biện pháp phi thuế quan

OBMs

Nhà Sản xuất Thương hiệu gốc

OEMs

Nhà Sản xuất Thiết bị gốc

OECD-WTO TiVA

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế–Tổ chức thương mại thế giới


Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ

SOE

Doanh nghiệp nhà nước

SPS

Các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật

TBT

Rào cản kỹ thuật thương mại

TDSI

Viện Chiến lược Phát triển Giao thông

TEU

Đơn vị đo sức chứa công-ten-nơ tương đương 6.1m

TFA

Hiệp định tạo thuận lợi thương mại

TFAPs

Kế hoạch Hành động Thúc đẩy Thương mại

VINATEX

Tập đoàn Dệt may Việt Nam

WEF

Diễn đàn Kinh tế Thế giới

WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới


BÁO CÁO TỔNG HỢP HỘI THẢO
1. Giới thiệu
Việt Nam đã đạt được thỏa thuận gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Chiếm
40% GDP và 30% thương mại toàn cầu, TPP là hiệp định toàn diện và tham vọng nhất được ký kết
cho tới thời điểm này. Việt Nam hiện cũng đã kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại tự do với Liên
minh châu Âu. Không chỉ bao gồm các vấn đề tiếp cận với thị trường truyền thống cho hàng hóa,
dịch vụ thương mại và đầu tư, cả hai hiệp định này còn đề cập đến những lĩnh vực mới chưa từng
hoặc ít được đề cập ở Tổ chức thương mại Thế giới (WTO). Thêm vào đó, các hiệp định mới tạo ra
các quy tắc quốc tế có tác động mạnh mẽ tới các chính sách và thể chế trong nước ở Việt Nam hơn
so với bất kỳ FTA nào trước đó.
Sự nhiệt tình tham gia vào các hiệp định này đã được thúc đẩy bởi thực tế là mặc dù Việt Nam được
hưởng lợi nhiều từ tự do hóa thương mại và hội nhập quốc tế, nhưng vẫn còn con đường dài trước
mắt phải đi. Việc tham gia vào TPP và EVFTA đã đem lại cho Việt Nam cơ hội tiếp tục duy trì tăng
trưởng mạnh mẽ và cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, những hiệp định này cũng
mang đến những rủi ro cần phải được giảm thiểu.
Ngân hàng Thế giới cam kết giúp Việt Nam tận dụng tối đa các hiệp định thương mại này. Hội thảo
“Việt Nam: Nắm bắt Cơ hội từ các Hiệp định Thương mại Tự do Thế hệ mới” vào ngày 15/6/2016 tại


7


• Giai đoạn 3: Triển khai đầy đủ (hơn 10 năm). Thị trường được mở cửa hoàn toàn và thực thi
đầy đủ các cam kết về Quyền sở hữu trí tuệ (IPRs). Mua sắm công (GP), Doanh nghiệp nhà
nước (SOEs), lao động, đầu tư, thương mại điện tử, hải quan và tạo thuận lợi thương mại, trợ
giá v.v (Hình 1)
Liên quan tới Giai đoạn 1, các bên liên quan (Các cơ quan nhà nước, các cộng đồng doanh nghiệp
và công chúng) tại Việt Nam cũng đã bắt đầu quá trình chuẩn bị để triển khai hai FTA này. Bộ Công
thương cũng đã tổ chức các hội thảo và seminar nhằm phổ biến kiến thức về hai FTA. Sổ tay về các
vấn đề cụ thể trong hai FTA cũng đang được xuất bản. Trong ngành công nghiệp, Tập đoàn Dệt may
Việt Nam (VINATEX) đã phổ biến thông tin về hai FTA tới các doanh nghiệp giúp họ chuẩn bị phân
tích năng lực cạnh tranh nhằm lựa chọn các chiến lược đúng đắn và sản phẩm phù hợp.
Trong Giai đoạn 2, đánh giá ban đầu của Bộ tư pháp cho thấy rằng những thay đổi luật pháp nhằm
tuân thủ TPP và EVFTA là có thể thực hiện được, các luật về sở hữu trí tuệ và lao động mất nhiều
công sức nhất. Việc thực thi, đặc biệt liên quan tới giải quyết tranh chấp trong EVFTA cũng là những
thách thức cụ thể.
Hình 1: Kế hoạch hành động nhằm triển khai FTA

Thực hiện FTA

NHU CẦU

KẾ HOẠCH

2 năm trước
khi triển khai

10 năm+

thương mại, Trợ
cấp…

Có liệu lực:
Phần lớn các
thay đổi pháp
lý được thực
hiện, một số
thị trường
được mở cửa

Phân tích khoảng trống
Xác định các vấn đề
rộng lớn hơn
Xây dựng lộ trình và kế
hoạch






Nâng cao năng lực
Hỗ trợ điều chỉnh
Lộ trình được rà soát
Giám sát

Nguồn: Đòn bẩy TPP và EVFTA cho sự hội nhập của Việt Nam vào Chuỗi giá trị toàn cầu. Haddad,
M., 2016.
Giai đoạn 3 sẽ bao gồm xây dựng các kế hoạch hành động của Chính phủ nhằm triển khai hai FTA

FTA. Có thể tìm kiếm hỗ trợ quốc tế của các nhà tài trợ cho các vấn đề này.
3. Tiến tới chuỗi giá trị và nâng cấp công nghiệp
Thực tế xuất khẩu Việt Nam đang phụ thuộc nhiều vào các nguyên liệu nhập khẩu với các nguyên
tắc xuất xứ chặt chẽ của TPP có thể hạn chế Việt Nam trong việc tối đa hóa lợi ích từ TPP/EVFTA.
Thách thức này cũng tạo cơ hội lớn cho tái cấu trúc ngành công nghiệp hướng tới hội nhập chuỗi giá
trị toàn cầu GVC và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam. Trong tương lai, Việt Nam
sẽ cần phải phát triển các cụm ngành công nghiệp lựa chọn hoạt động hiệu quả nhằm tận dụng lợi
thế cạnh tranh và cải thiện năng lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa để họ tham gia hiệu quả vào
chuỗi cung ứng do các công ty đa quốc gia MNC dẫn đầu.
Trong TPP và EVFTA, các rào cản thuế quan và phi thuế quan của Việt Nam sẽ được giảm đáng kể,
với mức giảm nhiều nhất trong các ngành dệt, may mặc và sản xuất thực phẩm. Lợi thế cạnh tranh
lớn hơn cho xuất khẩu các sản phẩm này sẽ làm tăng thị phần xuất khẩu.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng được kỳ vọng tăng trưởng, đặc biệt trong những ngành công
nghiệp thượng nguồn như dệt may, giầy dép, thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ và nội địa mới
khác. Các doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) sẽ được hỗ trợ, kết nối với
các doanh nghiệp FDI trong chuỗi giá trị.
Tuy nhiên, khả năng tận dụng các cơ hội này của Việt Nam bị suy giảm bởi một thực tế là các ngành
như dệt may, giày dép, cà phê thô, thủy sản, lúa gạo, hạt điều đều tập trung vào các phân đoạn với
giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs), dựa vào lao động tay nghề thấp với
chi phí rẻ. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) cũng không sản xuất đáp ứng được chất lượng,
tốc độ và tiêu chuẩn quy mô quốc tế. Đầu tư, nghiên cứu và phát triển không đầy đủ. Hiệu quả sản
xuất thấp, tính cạnh tranh của nhiều SMEs còn kém, vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn là một vấn đề.
Không có các cụm doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
Mặc dù một vài lĩnh vực như dệt may hội nhập ngày càng nhiều vào GVC, các doanh nghiệp trong
nước thiếu liên kết với các doanh nghiệp FDI cùng ngành. Do đó, lợi ích lan tỏa từ các GVCs và FDI
tới các công ty trong nước còn ở mức khiêm tốn.
Tuy nhiên, các ngành xuất khẩu hiện nay như dệt may được kỳ vọng tiếp tục là động năng kinh tế
mạnh mẽ cho Việt Nam kể cả trong trung hạn. Các FTA mới có tiềm năng mang lại ưu đãi cho việc
sáng tạo giá trị và nâng cấp các ngành công nghiệp trong nước thông qua (i) thu hút FDI và các
tác động lan tỏa; (ii) ngành sản xuất trong nước nâng cấp từ sự chủ động tham gia vào GVCs, và

khu vực phi chính thức và sân chơi còn chưa bình đẳng với họ. Trong khi đã có nhiều nỗ lực nhằm
cải thiện môi trường doanh nghiệp, thì các doanh nghiệp tư nhân vẫn còn tiếp tục phải đối mặt với
những thách thức lớn. Bao gồm cả việc tiếp cận đất đai thuận lợi hơn cho các SOEs trong khi họ
vẫn nhận được trợ cấp, tín dụng ưu đãi với các điều khoản vay thuận lợi.
Việc loại bỏ những di sản trong quá khứ và áp dụng chế độ cạnh tranh bình đẳng mới có thể vẫn
còn là một con đường dài phía trước và đòi hỏi những hành động cải cách mạnh mẽ. Môi trường
kinh doanh Việt Nam đã trở nên thuận lợi hơn, nhưng sự tiến bộ vẫn còn chậm. Cho dù Việt Nam
được xếp hạng nhóm giữa trong Bảng Chỉ số xếp hạng cạnh tranh toàn cầu và Chỉ số tạo thuận lợi
cho doanh nghiệp, nhưng sự tiến bộ vẫn không nhiều và còn chậm.
Có một vài lý do cho sự chậm tiến bộ. Đầu tiên, sự can thiệp của nhà nước theo xu hướng kiểm soát
nhiều hơn là tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Thứ hai là việc thực thi luật pháp chưa đầy đủ, vẫn còn
khoảng cách giữa luật pháp và thực tế thi hành. Thứ ba là, sự phối hợp giữa các bên liên quan còn
yếu, trong khi trách nhiệm giải trình còn chưa được minh bạch. Cuối cùng, rất nhiều quy định luật
pháp còn có khe hở dẫn đến việc những yếu kém và thiếu hiệu quả không được kiểm tra, khắc phục.
Quá trình chậm chạp này làm suy giảm tinh thần doanh nghiệp, giảm tính hiệu quả và hiệu lực của
nhiều chương trình Chính phủ trong việc hỗ trợ doanh nghiệp và làm cản trở việc tạo ra một sân
chơi công bằng. Hiệp định TPP và EVFTA đem đến các cơ hội nhằm điều chỉnh những tình huống
không mong muốn thông qua ba cam kết: (i) Không phân biệt đối xử và cân nhắc đến khía cạnh
thương mại; (ii) cấm các hỗ trợ phi thương mại; và (iii) các cơ quan nhà nước/tiếp cận tòa án dân
sự không công tâm, thiên vị.
Tạo thuận lợi trong thương mại
Cải thiện sự thuận lợi trong thương mại và hoạt động hậu cần là kịp thời và tiết kiệm chi phí là yếu
tố chính nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh và năng suất lao động. Nhưng một số thách thức tác
động tới tạo thuận lợi cho thương mại và hoạt động hậu cần tại Việt Nam - nằm ở cả phần cứng và
phần mềm. Những lĩnh vực yếu kém nhất bao gồm quản lý biên giới (hải quan và thủ tục của các cơ
quan khác tại biên giới) và thương mại xuyên biên giới.
Các cam kết về hải quan và tạo thuận lợi thương mại của TPP và EVFTA được thể hiện trong Hiệp
định tạo thuận lợi cho thương mại (TFA) bổ sung trong WTO và có những điểm tốt hơn các qui
định tại WTO. Hoàn toàn nhất quán với ASEAN và APEC, việc thực hiện các qui định về tạo thuận
lợi thương mại trong cả hai FTA sẽ đem đến những cơ hội mạnh mẽ trong việc hiện thực hóa các

cần phải được loại bỏ. Quá trình cải cách này đang diễn ra nhưng còn chậm và bị tụt hậu, thay
vì việc nó phải là mũi nhọn của cải cách.
• Các cơ chế và chính sách nhằm cải thiện việc tiếp cận các nguồn lực và thị trường cho các
doanh nghiệp thông qua phát triển thị trường tài chính, lao động, khoa học kỹ thuật và đất đai
cũng cần được cải thiện.
• Xây dựng năng lực cho Chính phủ và doanh nghiệp nhằm nắm bắt những cơ hội từ các FTA
cũng cần được đẩy mạnh.
• Sự phối hợp của các bên tham gia cần được nâng cao.
5. Giảm thiểu rủi ro
Cải cách Đổi Mới và sự thay đổi cơ cấu sau đó là những định hướng chính cho tăng trưởng bao trùm
tại Việt Nam. Hiệp định TPP có tiềm năng tạo ra các thuận lợi hơn là thay đổi mang tính cơ cấu,
nhưng cũng có thể đem lại rủi ro về phân phối thu nhập. Sự mở rộng một cách nhanh chóng các
ngành chế tạo đòi hỏi nhân lực lớn cũng có thể đem lại những rủi ro cho an sinh xã hội của người
lao động cũng như về môi trường. Việc bảo đảm các doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được các
tiêu chuẩn khác của TPP và EVFTA cũng là cách làm giảm đi các rủi ro, bao gồm qui định trong các
chương về môi trường và lao động trong các hiệp định thương mại nêu trên. Thực hiện điều này cần
phải có những cải cách trong nước quan trọng. Việc đáp ứng các tiêu chuẩn về lao động sẽ cần sự
thay đổi nhạy cảm về chính trị với luật pháp và thực tiễn lao động, chủ yếu trong lĩnh vực tự do liên
kết. Chương Môi trường tạo ra sự tự chủ và linh hoạt đối với việc thực thi trong nước, nhưng Việt
Nam cũng nên đặt kỳ vọng vào sự thay đổi cũng như tạo ra các thể chế và pháp luật về môi trường
phù hợp trong nước.
Đảm bảo tăng trưởng bao trùm
Cải cách kinh tế Việt Nam kể từ thời kỳ Đổi mới vào năm 1986 đã có những thành tựu ấn tượng
trong phát triển kinh tế xã hội. Khoảng 30 triệu người Việt Nam đã thoát khỏi đói nghèo trong một
thời gian khá ngắn chưa đầy 2 thập kỷ, nêu bật tính bao trùm trong hiệu quả tăng trưởng quốc gia.
Nhìn chung, mức độ bất bình đẳng của Việt Nam phù hợp với trình độ phát triển; Việt Nam xếp hạng
trung bình – đứng thứ 17 trong số 34 quốc gia – trong bảng xếp hạng bất bình đẳng tổng thể tại các
quốc gia có thu nhập trung bình thấp của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF 2015)1. Mặc dù chịu tác
Việt Nam được xếp hạng 1 trong số 36 nước có thu nhập trung bình thấp trong bảng xếp hạng về chỉ số trả lương lao
động và việc làm, và xếp hạng 4 trong bảng chỉ số trả lương lao động (WEF 2014).

định về lao động và môi trường cụ thể.
Lao động và an sinh xã hội
Đáp ứng với các tiêu chuẩn lao động sẽ là một thách thức cho Việt Nam khi triển khai TPP. Cả TPP
và EVFTA đều yêu cầu bảo vệ quyền của người lao động, bao gồm tự do liên kết; xóa bỏ lao động
cưỡng bức; loại bỏ có hiệu quả lao động trẻ em, xóa phân biệt đối xử bất công trong việc làm. Việt
Nam cần phải tiến hành các cải cách nói trên trước khi TPP có hiệu lực giữa hai quốc gia. Nội dung
những qui định về lao động nằm trong chương phát triển bền vững của hiệp định thương mại tự do
với Liên Minh châu Âu, nó cũng bao gồm quyền của người lao động và bảo vệ môi trường.
Chương về tiêu chuẩn lao động trong TPP có những điều khoản hơn trong EVFTA. Đây là một vấn
đề quan trọng với Việt Nam bởi vì việc gia nhập đầy đủ vào thị trường Mỹ phụ thuộc vào sự tuân thủ
các tiêu chuẩn của các cơ quan chuyên môn của Mỹ. Nhưng với Việt Nam, đáp ứng các tiêu chuẩn
lao động sẽ có những thay đổi nhạy cảm về chính trị liên quan đến Luật lao động và các thực tiễn
hiện hành, chủ yếu trong lĩnh vực tự do liên kết.
Môi trường
Một trong những rủi ro môi trường lớn nhất mà TPP mang lại là sự phát triển của ngành công nghiệp
dệt may. Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp này trong khi bảo vệ môi trường không
đầy đủ có thể tạo ra những tác động tiêu cực đến môi trường, và cuối cùng là đến tăng trưởng và
sự phát triển lâu dài.
Nhằm tuân thủ quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi của TPP, cần phải tái cấu trúc ngành công nghiệp dệt
may hướng tới hội nhập trở lại trong nước. Nhưng tạo ra ngành công nghiệp dệt may trong nước lại
có các rủi ro lớn về môi trường. Những đầu tư vào sản xuất hàng dệt may - đặc biệt là làm nhuộm
và hoàn thiện vải - đều có những tác động nghiêm trọng tới môi trường. Sản xuất hàng dệt may
không chỉ sử dụng lượng nước khổng lồ lên tới 250 tấn nước cho sản xuất 10.000m vải, mà còn
xả ra lượng nước thải và ô nhiễm khủng khiếp. Ngành công nghiệp này cũng sử dụng một lượng
lớn hóa chất độc hại trong quá trình sản xuất. Rủi ro là Việt Nam có thể trở thành một trong những
nước tiêu thụ hóa chất dệt may lớn nhất trên thế giới (khoảng 25% tổng số hóa chất được sản xuất
ra trên toàn cầu được sử dụng trong ngành công nghiệp này). Do đó, Việt Nam cần phải có chính
12



nguồn FDI vào trong nước. Cả thương mại và FDI đều tăng, nhưng thương mại sẽ tăng nhiều hơn.
Một phần là do việc dịch chuyển thương mại từ các các nước không phải thành viên sang các nước
thành viên hiệp định. Nhưng để nắm bắt lợi ích này cần phải có những nỗ lực vượt trội. Các lý luận
cho thấy:


Mong muốn của các bên khi tham gia vào TPP và EVFTA sẽ chỉ có thể được chuyển thành sự
sẵn sàng nếu các quốc gia nỗ lực nhằm cải thiện hệ thống pháp lý, nâng cao thể chế và hợp lý
hóa các qui trình tổ chức và hành chính;



Xây dựng năng lực, bao gồm phát triển nguồn nhân lực, và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ giúp các
quốc gia tái cấu trúc qui trình chuỗi cung ứng để tận dụng được nhiều giá trị gia tăng hơn nữa;



Tạo sân chơi công bằng giữa các SOEs và các doanh nghiệp tư nhân thông qua những cải
cách lớn và tạo thuận lợi thương mại sẽ khuyến khích tinh thần doanh nghiệp và tạo môi trường
cần thiết cho doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh theo các Hiệp định;



Các biện pháp giảm thiểu rủi ro đi kèm với việc triển khai các hiệp định này là cần thiết. Những
rủi ro này bao gồm các tác động tiêu cực đến phát triển bao trùm, làm suy giảm hệ thống bảo
trợ xã hội và phá hoại môi trường;



Một số rủi ro khác như các thách thức trong giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

lớn nhất về hạt tiêu, hạt điều; và là nước xuất khẩu cá và động vật giáp xác thuộc loại lớn trên thế
giới. Các ngành công nghiệp chế tác, dệt may, giày dép, và gần đây là ngành lắp ráp điện tử đã tăng
trưởng với tốc độ cực kỳ cao.
Quá trình hội nhập toàn cầu này diễn ra trên nền tự do hóa thương mại mạnh mẽ. Từ các hiệp định
thương mại song phương thời kỳ đầu cho tới sự kiện gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm
2007 như là một dấu mốc quan trọng Việt Nam đã tích cực tham gia vào tự do hóa thương mại đa
phương.
Trong thời gian tới Việt Nam sẽ tiếp tục hưởng lợi từ lợi thế tương đối, tiếp tục thu hút đầu tư và
tăng trưởng dựa trên xuất khẩu. Việt Nam là một trong số 12 nền kinh tế trong Vành đai Thái Bình
Dương vừa đạt được thỏa thuận về một hiệp định thương mại toàn diện nhất từng có trong 2 thập
kỷ qua— Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP). Chiếm tỉ trọng 40% GDP và 30%
tổng kim ngạch buôn bán hàng hóa toàn cầu, TPP đã thực sự là hiệp định thương mại tham vọng
nhất và toàn diện nhất từng hoàn tất từ trước đến nay. Gần đây Việt Nam cũng đã đàm phán xong
Hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EVFTA). Việt Nam đang đứng trước vận hội lớn,
đó là khai tác tối đa lợi ích do các hiệp định thương mại tự do này mang lại, kể cả xét về mặt tiếp
cận thị trường rộng lớn, và, thậm chí còn quan trọng hơn, xét về mặt thúc đẩy cải cách trong nước.
Hai hiệp định thương mại nêu trên không chỉ đề cập vấn đề thâm nhập thị trường hàng hóa, dịch vụ,
và đầu tư truyền thống mà còn đề cập cả những vấn đề mới chưa từng được nhắc đến hoặc chưa
được giải quyết thấu đáo trong các hiệp định ký kết trong khuôn khổ WTO như: thương mại điện tử,
lao động, môi trường, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp nhà nước và hài hòa chính sách.
Hơn nữa, các hiệp định thương mại mới cũng thiết lập các luật chơi quốc tế và các luật chơi đó sẽ
có tác động mạnh hơn lên các chính sách và thể chế trong nước so với bất kỳ hiệp định thương mại
tự do nào đã ký trước đây.
Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới này dự kiến sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam về
thương mại, đầu tư, tăng trưởng và tạo việc làm. Kết quả tính toán sơ bộ cho thấy rằng TPP có thể
góp phần làm cho thu nhập của Việt Nam gia tăng thêm 8% vào năm 2035 và EVFTA có thể đóng
góp thêm 4% nữa. Trong số các nước ký kết TPP hiện nay thì Việt Nam—do có mức GDP bình
quân đầu người thấp nhất—có một lợi thế tương đối độc nhất vô nhị, nhất là khi ta để ý đến ngành
công nghiệp chế tạo thâm dụng lao động và các ngành khác hiện đang phải chịu thuế suất cao, ví
dụ ngành dệt may. Do mở đường tăng cường xuất khẩu vào các thị trường lớn nên các hiệp định


Phiên Toàn thể 1:
Đề dẫn – Việt Nam sẵn sàng thực hiện các
hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

17


TPP VÀ EVFTA:
KẾ HOẠCH PHÊ CHUẨN VÀ THỰC THI
Ông Trần Quốc Khánh, Thứ trưởng, Bộ Công thương
QUY ĐỊNH VỀ PHÊ CHUẨN CỦA TPP
1. Có hiệu lực trong vòng 60 ngày sau ngày tất cả các nước thông báo với Niu Di-lân (nước lưu
chiểu văn bản) về việc hoàn thành các thủ tục pháp lý trong nước về phê chuẩn Hiệp định.
2. Trường hợp không đủ toàn bộ các nước hoàn thành các thủ tục pháp lý trong nước trong vòng
2 năm kể từ ngày ký, Hiệp định TPP sẽ có hiệu lực trong vòng 60 ngày kể từ khi hết thời hạn 2
năm nếu có ít nhất 6 nước với ít nhất 85% tổng sản phẩm quốc nội cộng gộp theo giá trị năm
2013 hoàn thành các thủ tục pháp lý trong thời gian này.
TÌNH HÌNH PHÊ CHUẨN CỦA CÁC NƯỚC TPP
AUSTRALIA

Đã trình Quốc hội để tiến hành thủ tục phê chuẩn, nhưng còn chờ Chính
phủ mới

BRU-NÂY
CANADA
CHI-LÊ
NHẬT BẢN
MA-LAI-XI-A


MBộ NG và cq liên quan trả lời cơ quan đàm phán (15 ngày)



Cơ quan đàm phán trình CP để trình CT nước (15 ngày)



Chính phủ trình CT nước



CT nước trình QH phê chuẩn



TPP

TÌNH HÌNH PHÊ CHUẨN TPP CỦA VIỆT NAM


 gày 28/4/2016, trên cơ sở ý kiến của Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành liên quan,
N
Bộ Công thương đã trình Chính phủ việc phê chuẩn Hiệp định TPP.



Tại Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 9/5/2016, Chính phủ giao Bộ Công thương chủ trì, phối hợp
với Bộ NG, Bộ TP và các Bộ ngành liên quan hoàn thiện Tờ trình phê chuẩn Hiệp định TPP trình
Thủ tướng CP thay mặt Chính phủ ký trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định trình QH phê


Tham gia Hội đồng, các Ủy ban theo quy định của Hiệp định.

Về tổ chức thực thi trong nước:
• Xây dựng Chương trình hành động của Chính phủ.


Hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Tuyên truyền, phổ biến:
• Xây dựng Cổng thông tin dành riêng cho TPP & EVFTA.


Tổ chức hoạt động tuyên truyền phổ biến trên toàn quốc cho tất cả các đối tượng liên quan, bao
gồm các cơ quan Nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và người dân.

19


TẬN DỤNG TPP VÀ EVFTA THỰC HIỆN
TẦM NHÌN VIỆT NAM 2035
Bà Mona Haddad, Giám đốc khu vực Khối Thương mại và Cạnh tranh, Ngân hàng Thế giới
THÀNH TÍCH VÀ TĂNG TRƯỞNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Thành tích tăng trưởng và giảm nghèo của Việt Nam rất ấn tượng
80%

GDP/người, 1990-2014
10

$3.10/ngày

Băng-la-đét
Xinh-ga-po
Ê-ti-ô-pi-a
Ru-an-đa
Séc bi
Ác-hen-ti-na
Tuốc-mê-ni-xtan
Ka-dắc-xtan
Ai Cập
En Xan-va-đo
PNG
Pa-ki-xtan
Bra-xin
Ma-la-uy
Đức
Đan Mạch
Nga
Pháp
Nhật Bản
Hy Lạp
Ke-ni-a
Ý
Bờ Biển Ngà
Ca-mơ-run
Ni-giê
Dim-ba-bu-ê

2012

2011


1995

1994

0%

2013

10%

1993

-2

Tỷ lệ nghèo, 1990-2014

70%

Kinh tế tư nhân giữ vai trò quan trọng
Số doanh nghiệp tư nhân trong nước đăng ký mới



 iện có 650.000 doanh nghiệp đăng ký, trong khi năm 1999 là 40.000 và năm 1990 hầu như
H
không có

Tăng trưởng dựa trên xuất khẩu
Chỉ số tăng trưởng xuất khẩu thực tế, 1996 = 1

Nông-Lâm-Ngư nghiệp

30
6.0
20
4.0
10

Khoáng sản (dầu, khí đốt, than đá)

2.0

20

2013
2014

2012

2011

2007
2008
2009
2010

2005
2006

2003


2003

2002

2001

2000

1999

1998

1997

1996

0.0

1995

0



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status