TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
NGUYỄN THỊ THU HÀ
ĐẢNG BỘ HUYỆN YÊN KHÁNH
(TỈNH NINH BÌNH) LÃNH ĐẠO PHÁT
TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ
NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
HÀ NỘI - 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
NGUYỄN THỊ THU HÀ
ĐẢNG BỘ HUYỆN YÊN KHÁNH
(TỈNH NINH BÌNH) LÃNH ĐẠO PHÁT
TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ
NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Nguyễn Thị Thu Hà
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND: Uỷ ban nhân dân
HĐND: Hội đồng nhân dân
HTX: Hợp tác xã
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
NXB: Nhà xuất bản
NTM: Nông thôn mới
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................. 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................. 4
5. Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 5
6. Đóng góp khóa luận ....................................................................................... 5
7. Kết cấu ........................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ NÔNG NGHIỆP.............................................................................................. 7
1.1. Cơ sở lý luận ............................................................................................... 7
1.1.1. Các khái niệm cơ bản............................................................................ 7
1.1.2. Tầm quan trọng của kinh tế nông nghiệp đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội ở huyện Yên Khánh Ninh Bình ..................................................... 8
1.2. Cơ sở thực tiễn .......................................................................................... 10
1.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Yên Khánh ............... 10
Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
do Đảng đề ra đã thu được những thành tựu to lớn. Những thành tựu to lớn trên
mặt trận nông nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao đời sống nhân
dân nói chung và nông dân nói riêng, tăng tích lũy cho nền kinh tế quốc dân,
từng bước xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp.
Chính những thắng lợi trên lĩnh vực nông nghiệp đã góp phần đưa nước ta ra
khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tạo tiền đề và cơ sở
bước đầu cho công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Yên Khánh là một huyện thuộc đồng bằng được bồi đắp phù sa của sông
Đáy nằm ở phía đông, nền kinh tế nổi bật của huyện là nông nghiệp. Những năm
gần đây, kinh tế nông nghiệp của huyện luôn ở vị trí đầu của tỉnh cả về diện tích,
năng suất và sản lượng. . Giá trị sản xuất trên 1ha canh tác đạt 123 triệu đồng,
góp phần tăng thu nhập cho người nông dân. Cơ cấu ngành trồng trọt- chăn nuôi
chuyển dịch theo hướng tích cực. Tốc độ tăng trưởng năm 2013 đạt 3,2%; tổng
giá trị ngành nông, lâm, thuỷ sản đạt 1.844 tỷ đồng. Với sự lãnh đạo tài tình của
Đảng bộ huyện Yên Khánh, nông nghiệp đã có sự phát triển nhanh chóng.
Ngành thủy sản không bị dịch bệnh, phát triển và cho năng suất ổn định. Năng
suất lao động tăng cao, các loại giống cây trồng khác nhau trong trồng trọt đã
được khắc phục không bị sâu bệnh. Chăn nuôi gia súc, gia cầm đạt mức tỉ trọng
cao so với những năm trước.. Tuy nhiên, với sự phát triển ấy vẫn chưa tương
xứng tiềm năng mà Đảng bộ huyện đã đề ra. Một bộ phận trong ngành kinh tế
1
nông nghiệp còn tồn tại những yếu kém và cần phải thay đổi.
Đây cũng chính là cơ sở để tôi lựa chọn đề tài : “Đảng bộ lãnh đạo huyện
Yên Khánh kinh tế nông nghiệp từ năm 2005- 2015”. Trong khóa luận này, tôi
đã nghiên cứu, trình bày về sự phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Yên Khánh
và định hướng phát triển của Đảng bộ qua các năm. Từ đó, đưa ra những định
PGS.TS Nguyễn Văn Bích (2007), Nông nghiệp nông thôn Việt Nam sau
hai mươi năm đổi mới quá khứ và hiện tại, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà
Nội. Tác phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá một cách gần như toàn
diện lịch sử phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta trong thế kỷ
XX, nhất là 20 năm đổi mới.
Những công trình nghiên cứu trực tiếp liên quan đến sự phát triển của kinh
tế nông nghiệp Yên Khánh như:
Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu phát triển sản xuất và tiêu thụ nấm ăn ở
huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình của Phạm Thị Hoa trường Đại học nông
nghiệp Hà Nội khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, năm 2009. Ở đây, tác giả
đã đi sâu vào nghiên cứu địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Qua
đó, đi vào thực tế cụ thể vào tình trạng sản xuất nấm và phương pháp phát triển
cho nông nghiệp tốt hơn.
Luận văn thạc sĩ Các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững trên địa
bàn huyện Yên Khánh của Nguyễn Thị Thu Hương trường Đại học Lâm nghiệp
khoa Kinh tế nông nghiệp, năm 2013. Luận văn này nói về các cơ sở lý luận về
phát triển nông nghiệp của vùng, đưa ra các số liệu các phương pháp để phân
tích tình hình nông nghiệp ở nước ta.
Tất cả các công trình trên đã cung cấp nhiều nội dung, phương pháp tiếp
cận về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và đề cập đến sự lãnh đạo của
Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở những mức độ nhất định.
Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện và hệ
thống về quá trình Đảng bộ huyện Yên Khánh lãnh đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015. Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu của những
công trình trên là nguồn tư liệu quý giá giúp tác giả có cơ sở để hoàn thành khóa
luận.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
2005 đến năm 2015.
+ Về không gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi không
gian trên địa bàn huyện Yên Khánh.
5. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp luận: Khóa luận sử dụng các quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về phát triển nông nghiệp, nông thôn là phương pháp luận để tác giả
nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài.
+ Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trong quá trình thực hiện đề tài,
phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp chủ yếu mà tác
giả luôn vận dụng vào đề tài. Ngoài ra, phương pháp phân tích - tổng hợp,
phương pháp thống kê, so sánh,…cũng được vận dụng để làm sáng tỏ nội dung
nghiên cứu.
6. Đóng góp khóa luận
+ Trên cơ sở hệ thống các nguồn tài liệu, tiếp thu những kết quả của các
công trình nghiên cứu, khóa luận là công trình nghiên cứu đầu tiên, trình bày có
hệ thống về quá trình Đảng bộ huyện Yên Khánh lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015.
+ Khóa luận khẳng định Đảng bộ huyện Yên Khánh trong quá trình lãnh
đạo đã đưa ra những thành tựu đạt được, đưa ra những hạn chế, khó khăn và rút
ra những kinh nghiệm để vận dụng vào việc đề ra phương hướng phát triển
ngành nông nghiệp cho huyện.
+ Sản phẩm của khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo bổ sung vào kho tư
liệu Lịch sử Đảng bộ địa phương trong thời kỳ đổi mới.
7. Kết cấu
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội
dung luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông nghiệp
Chương 2: Quá trình Đảng bộ huyện Yên Khánh lãnh đạo phát triển kinh tế
cách đây ít nhất 10.000 năm, khi mà các bộ lạc nguyên thủy ở đầu thời kỳ đồ đá
mới” [1;tr.4]
Trên cơ sở kế thừa các tài liệu tham khảo, tác giả đưa ra cách hiểu về khái
niệm nông nghiệp như sau: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của
nền kinh tế”. Hiểu theo nghĩa hẹp, nông nghiệp bao gồm: “trồng trọt, chăn nuôi
và dịch vụ nông nghiệp”. Hiểu theo nghĩa rộng, nông nghiệp gồm có nông
nghiệp theo nghĩa hẹp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Trong phạm vi của luận văn,
tác giả tiếp cận ngành nông nghiệp theo nghĩa rộng. Cách tiếp cận này sẽ làm
cho việc nghiên cứu của luận văn phù hợp với chính sách phát triển nông nghiệp
của Việt Nam hiện nay.
* Khái niệm kinh tế nông nghiệp
Theo Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội
- Đà Nẵng, 1997: “Kinh tế nông nghiệp được hiểu là những nguồn lợi thu được
từ lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nông nghiệp”.[2;tr.8]
Trong tổng thể các ngành kinh tế của một quốc gia, nông nghiệp có vai trò
không thể thiếu đối với sự sinh tồn, phát triển của con người trong quốc gia ấy
và đối với sự tăng trưởng của nhiều ngành kinh tế khác. Nguồn lợi thu được từ
lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nông nghiệp trong một thời kỳ nhất định
có thể bị giảm đi hoặc tăng lên do sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan và
khách quan. Trong trường hợp nguồn lợi tăng lên, ta gọi đó là sự phát triển, tăng
trưởng của kinh tế nông nghiệp.
Do đó sự lãnh đạo của Đảng nói chung và các Đảng bộ địa phương nói
riêng muốn đưa lại hiệu quả phải dựa trên sự nhận thức đầy đủ và đúng đắn
những yếu tố và quy luật ấy.
1.1.2. Tầm quan trọng của kinh tế nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở huyện Yên Khánh Ninh Bình
Với sự thay đổi trong các thành tựu đã làm bức tranh toàn cảnh kinh tế - xã
hội Việt Nam trong hơn 25 năm đổi mới có nhiều sự khác biệt, nổi bật lên vai
trò hết sức quan trọng của ngành nông nghiệp.
nghiệp.
Lượng cầu đã thay đổi trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác
dụng trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ
nông nghiệp làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ dẫn đến cầu về sản
phẩm công nghiệp tăng lên, thúc đẩy sản xuất công nghiệp phát triển.
Phần lớn ở các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp bao gồm 2 loại
đó là tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Nó tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị
trường trong nước mà đầu tiên là khu vực nông nghiệp và nông thôn.
Chính vì vậy, đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia,
thì nông nghiệp có vai trò, vị trí hết sức quan trọng. Trong điều kiện hiện nay, ở
đa số các nước đều cho rằng: Một quốc gia nếu muốn có một nền kinh tế quốc
dân vững chắc thì không thể thiếu một nền nông nghiệp phát triển và tiên tiến
được. Thực tế ở Việt Nam và nhiều nước đã chứng minh khi nền nông nghiệp
phát triển vững chắc sẽ giúp nền kinh tế phát triển ổn định, giảm nhanh tình
trạng hay cải cách kinh tế của nhiều quốc gia. Để thực hiện được vai trò và
khẳng định được vị trí của mình thì nông nghiệp cần có hướng phát triển phù
hợp. Trong đó phát triển nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH là điều cần thiết
và tất yếu.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Yên Khánh
* Điều kiện tự nhiên
Đất đai, theo số liệu thống kê thì tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là
2
1.392 km gồm các loại đất phù sa, đất Feralitic thích hợp trong việc sản xuất lúa
là chính. Với loại đất này, sẽ giúp cho nên nông nghiệp phát triển được nhiều
giống cây trồng mới đạt năng suất cao. Nhiều tài nguyên đất được phân bố rải
rác ở các vùng đồi núi thấp ở các xã dùng để sản xuất gạch ngói và nguyên liệu
* Điều kiện kinh tế - xã hội
Thị trường tiêu thụ, thị trường là một trong những nguồn lực phát triển
nông nghiệp mà huyện có lợi thế nhất. Căn cứ vào quy mô dân số và tốc độ tăng
trưởng kinh tế, huyện là thị trường tiêu thụ lúa lớn cả về số lượng lẫn chất
lượng. Đây cũng là huyện có ngành công nghiệp chế biến thực phẩm lớn trong
tỉnh. Năm 2010, toàn huyện có tới 663 cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm và đồ
uống. Nhu cầu nguyên liệu từ nông nghiệp để cung cấp cho ngành này là rất lớn.
Thị trường là lợi thế nhưng đồng thời là thách thức lớn đối với nông nghiệp của
huyện. Với việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân cư trên địa bàn, cạnh
tranh với nông sản của các địa bàn lân cận trong tỉnh. Huyện Yên Khánh sẽ thúc
đẩy ngành nông nghiệp đi vào phát triển theo chiều sâu, nâng cao chất lượng để
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của dân cư.
Dân số lao động, với quy mô dân số năm 2008 là gần 920 nghìn người. So
với dân số khu vực đồng bằng Sông Hồng, dân số tỉnh Ninh Bình chiếm 5,7%
và bằng 1,3% dân số cả nước.
Mật độ dân số của tỉnh (khoảng 676 người/km2) thấp hơn mật độ trung
bình của vùng, dự kiến dưới 1 triệu người đến 2015 và đang nằm trong “thời kỳ
dân số vàng”, là ưu thế không nhỏ để cung cấp nguồn lao động dồi dào, thuận
lợi trong quản lý và không gây sức ép lớn đối với phát triển kinh tế.
Yên Khánh có tỷ lệ lao động thất nghiệp đô thị khá thấp (3,6%), chất lượng
nguồn nhân lực được đánh giá là khá so vùng ĐBSH cũng như cả nước. Nguồn
lao động khá về cả số lượng, chất lượng và đang ở thời kỳ đầu với tổng lao động
năm 2009 chiếm 51,3% dân số (khoảng 480,4 nghìn ). Vì vậy, đây là một nhân
tố rất quan trọng để phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với các ngành, lĩnh vực thủ
công mỹ nghệ và công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động.
Cơ sở vật chất nông nghiệp, cùng với việc xây dựng cơ sở hạ tầng, Yên
Khánh cũng xác định, xây dựng NTM trên hết vẫn là nâng cao thu nhập, cải
thiện đời sống người dân. Theo đó ngay từ những ngày đầu thực hiện chương
Các máy nông cụ được đưa vào góp phần tăng năng suất lao động. Cơ cấu
tà lúa có nhiều thay đổi. Nếu như năm 1992 cả huyện chỉ có 26% trà xuân muộn
thì đến năm 2001 trà xuân muộn đã thay thế căn bản diện tích trà xuân sớm và
chiếm tới 90%. Cũng như vậy ở vụ mùa, năm 1992 trà lúa mùa sớm, mùa trung
chỉ có 33% thì năm 2001 diện tích là trên 70%.
Năm 1993, huyện chỉ đạo triển khai chương trình cấp I hóa giống lúa. Đồng
loạt các Công ty giống cây trồng trại sản xuất giống lúa được tổ chức lại, hàng
chục HTX nhân, lọc, sản xuất nông nghiệp chủng, HTX nào cũng có đội, nhóm
hộ sản xuất giống lúa cấp I…
Đến năm 1995, giống lúa đã cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất. Đặc biệt, có
thể nói việc gieo mạ nền, mạ dày xúc, che phủ nilon, cấy mạ non là những tiến
bộ kỹ thuật được áp dụng rất hiệu quả ở Yên Khánh. Các công nghệ này góp
phần đáng kể trong việc tăng năng suất lúa.
Sau 25 năm tái lập, tăng trưởng nông nghiệp luôn duy trì với mức ổn định,
trung bình 2 – 3%/năm. Nhiều lĩnh vực được mở rộng phát triển cả về quy mô,
sản lượng, giá trị, tạo ra số lượng hàng hóa lớn phục vụ cho người tiêu dùng
trong và ngoài huyện. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2015 đạt gần
8300 tỷ đồng, tăng trên 12 lần so với năm 1991, giá trị sản xuất trên 1 ha canh
tác đạt 105 triệu đồng/năm, tăng 5 lần so với năm 2001. Nhiều nông sản của
huyện Yên Khánh đã được xuất khẩu ra thế giới và được đánh giá cao về chất
lượng như: gạo, dứa, dưa chuột bao tử, ngô ngọt, rau chân vịt,…
Chính sách khuyến nông hỗ trợ phát triển sản xuất vụ đông đã góp phần mở
rộng diện tích cây vụ đông lên hàng chục nghìn ha, tổng giá trị sản xuất đạt 600
– 700 tỷ đồng. Nhiều hộ nông dân đạt được vụ sản xuất chính trong năm, đem
lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều loại cây trồng có giá trị được đưa vào sản xuất
mở rộng như dưa chuột, ớt xuất khẩu, rau, bí xanh,…
Lĩnh vực thủy sản phát triển nhanh cả về nuôi trồng, đánh bắt, diện tích,
năng suất, sản lượng. Tổng sản lượng thủy sản vào khoảng 43,8 nghìn tấn, tăng
mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước”. Chỉ thị nhấn mạnh: “Đối với nước ta, một nước nhiệt đới đi lên từ
nông nghiệp, công nghệ sinh học có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp
CNH, HĐH; là một yếu tố quan trọng góp phần đảm bảo an ninh lương thực”.
Vì vậy, Đảng ta đề ra mục tiêu và nhiệm vụ phát triển công nghệ sinh học như:
“Phải tạo ra giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh
tế cao phục vụ tốt nhu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng và
sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa, áp dụng rộng rãi công nghệ sinh học
trong công tác bảo vệ và khắc phục ô nhiễm môi trường”[18;tr.2]
Tổng kết 5 năm mà ta thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng. Đại hội nhấn mạnh: “ Vấn đề nông nghiệp, nông
thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng. Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp
hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững”. [19;tr.191]
Ngày 5/2/2007, tại Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành TW Đảng ( khóa X)
đã đề ra Nghị quyết số 08-NQ/TW về “ Một số chủ trương, chính sách lớn để
nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên
của tổ chức Thương mại thế giới”. Nghị quyết của Đảng đã chỉ ra cơ hội, thách
thức của nước ta khi gia nhập WTO, từ đó đưa ra các chủ trương, chính sách lớn
nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, đưa nền kinh tế nước ta phát triển
nhanh và bền vững theo định hướng XHCN. Trong đó, Đảng nhấn mạnh: “ Cần
bổ sung nguồn lực và tăng cường chỉ đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn trên
nguyên tắc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đẩy mạnh quá trình chuyển
dịch cơ cấu nông nghiệp; hình thành các vùng sản xuất tập trung, ứng dụng
KHCN tiên tiến vào sản xuất…”[19;tr.9]
Cụ thể hóa chủ trương Đại hội lần thứ X của Đảng, Hội nghị Ban chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ VII (tháng 7/ 2008) đã đề ra nghị quyết quan
trọng về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn” xác định mục tiêu phát triển nông
thông thuận lợi tới hầu hết các xã và cơ bản có đường lớn ô tô tới các thôn, xóm;
đảm bảo cơ bản điều kiện học tập tốt, chữa bệnh đặc biệt là bệnh hiểm nghèo,
sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao lành mạnh ở hầu hết các vùng nông thôn tiến
gần hơn các đô thị trung bình.
Để thực hiện được những mục tiêu lâu dài trên, Hội nghị xác định mục tiêu
trước mắt đến năm 2011 là: “Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông
nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh
phát triển nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, nhất
là ở các vùng có nhiều khó khăn; tăng cường nghiên cứu và chuyển giao khoa
học - công nghệ tiên tiến, tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực; tăng cường
công tác xóa đói giảm nghèo, đặc biệt ở các huyện còn trên 50% hộ nghèo, tập
trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở