ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
TRẦN NGỌC BẢO VY
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
NGƢỜI CHĂM BANI HIỆN NAY
(QUA KHẢO CỨU Ở TỈNH NINH THUẬN
VÀ TỈNH BÌNH THUẬN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
TRẦN NGỌC BẢO VY
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
NGƢỜI CHĂM BANI HIỆN NAY
(QUA KHẢO CỨU Ở TỈNH NINH THUẬN
VÀ TỈNH BÌNH THUẬN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: TÔN GIÁO HỌC
MÃ SỐ: 60.220.309
Tác giả
Trần Ngọc Bảo Vy
MỤC LỤC
Mở đầu .................................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 3
2. Tình hình nghiên cứu ........................................................................................... 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. ...................................................................... 9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 10
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu......................................................... 10
6. Đóng góp của Luận văn ..................................................................................... 11
7. Kết cấu của Luận văn ......................................................................................... 11
Chƣơng 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
NGƢỜI CHĂM BANI Ở TỈNH NINH THUẬN VÀ TỈNH BÌNH THUẬN.......... 12
1.1. Nhân tố lịch sử và nhân tố kinh tế, xã hội của người Chăm Bani ở tỉnh
Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận ......................................................................... 12
1.1.1. Nhân tố lịch sử ...................................................................................... 12
1.1.2. Nhân tố kinh tế, xã hội........................................................................... 14
1.2. Nhân tố văn hóa tín ngưỡng và tôn giáo của người Chăm Bani ở tỉnh Ninh
Thuận và tỉnh Bình Thuận ................................................................................. 19
1.2.1. Nhân tố văn hóa tín ngưỡng .................................................................. 19
1.2.2. Nhân tố tôn giáo .................................................................................... 24
Tiểu kết chƣơng 1 ................................................................................................. 30
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VỀ ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA
NGƢỜI CHĂM BANI Ở TỈNH NINH THUẬN VÀ TỈNH BÌNH THUẬN
HIỆN NAY............................................................................................................. 31
2.1. Thực trạng về đời sống hôn nhân của người Chăm Bani ở tỉnh Ninh Thuận
và tỉnh Bình Thuận hiện nay............................................................................... 31
Tiểu kết chƣơng 3 ................................................................................................. 82
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................ 85
PHỤ LỤC ẢNH .................................................................................................... 92
2
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Islam là một tôn giáo thế giới, xuất hiện ở phía Tây bán đảo Ả Rập vào
những năm đầu của thế kỷ thứ VII. Trong quá trình truyền bá và phát triển,
Islam đã được lan rộng đến nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Đến với nước ta thông qua việc giao lưu buôn bán với các thương
nhân nước ngoài cùng với hệ thống giáo lý, giáo luật chặt chẽ, Islam dễ
dàng được người dân tiếp nhận, chủ yếu là người Chăm. Trong hoàn cảnh
người Chăm đang chịu những cuộc chiến tranh liên miên, một tôn giáo hòa
bình như Islam sẽ là điều kiện để người dân tin theo. Hơn nữa, Balamon
giáo với những nghi thức tục lệ nặng nề đã không còn hấp dẫn với cộng
đồng người Chăm nên một số bộ phận cư dân đã cải đạo theo Islam. Về
sau, số lượng tín đồ theo Islam giáo ngày càng đông hơn. Tuy nhiên, do trải
qua nhiều biến cố lịch sử mà hiện nay cộng đồng người Chăm theo đạo
Islam ở nước ta được chia ra làm hai nhóm chính là Chăm Bani (Islam
không chính thống) sống tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận
và nhóm Chăm Islam (Islam chính thống) sống chủ yếu ở Thành phố Hồ
Chí Minh, An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai.
Nếu như nhóm Chăm Islam chính thống (Chăm Islam) chịu ảnh
hưởng sâu sắc và thực hiện nghiêm khắc các giáo lý, giáo luật của đạo
Islam thì nhóm Chăm Islam không chính thống (Chăm Bani) lại chịu ảnh
hưởng bởi nhiều luồng văn hóa khác nhau, trong đó đậm nét là Balamon
Nhà nước cũng như mục tiêu phát triển gia đình của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam đã đặt ra. Thực tiễn này đòi hỏi phải có sự hiểu biết cơ bản, yêu
cầu đặt ra cho các nhà khoa học là nghiên cứu cả mặt lý luận lẫn thực tiễn
về hôn nhân và gia đình của người Chăm theo đạo Islam ở nước ta, cụ thể
là người Chăm Bani. Trên cơ sở đó, chỉ ra những giá trị, hạn chế và đề ra
4
giải pháp trong hôn nhân và gia đình của người Chăm nhằm xây dựng hôn
nhân tiến bộ, gia đình ấm no, hạnh phúc nhằm tiến tới một xã hội văn
minh, lành mạnh.
Ngoài ra, nghiên cứu về hôn nhân, gia đình người Chăm Bani dưới
góc độ Tôn giáo học không chỉ giúp cho chúng ta có cách nhìn mới toàn
diện hơn về sự giao thoa, tiếp biến giữa văn hóa Islam vào văn hóa Chăm
mà còn thấy được những ảnh hưởng của Islam đến đời sống văn hóa tín
ngưỡng, tôn giáo, sinh hoạt hằng ngày của người Chăm Bani.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Hôn nhân và
gia đình của người Chăm Bani hiện nay. (Qua khảo cứu ở tỉnh Ninh Thuận
và tỉnh Bình Thuận)” làm luận văn Thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về hôn nhân và gia đình của người Chăm Bani ở tỉnh
Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận hiện nay đã được ít nhiều các nhà khoa học
quan tâm bàn đến. Sau khi tham khảo các công trình đi trước liên quan đến
nội dung nghiên cứu, chúng tôi tạm chia ra ba mảng đề tài chính sau đây:
- Thứ nhất, mảng đề tài nghiên cứu về Hồi giáo và Hồi giáo ở Việt Nam
Liên quan đến mảng đề tài này, trước hết phải kể đến cuốn Góp phần
tìm hiểu từ Islam đến Hồi giáo Bani ở Việt Nam (2010) của Trần Tiến
Thành, Nxb. Tôn giáo. Với kết cấu hai phần gồm Hồi giáo thế giới và Hồi
giáo Việt Nam, tác giả đã tìm hiểu bối cảnh ra đời của Hồi giáo Ả rập; về
nội dung Thiên kinh Qur’an và những tín điều căn bản quy định các
sách Người Chăm những nghiên cứu bước đầu (2003), Nxb Khoa học xã
hội. Trong hai cuốn sách này, các tác giả đã trình bày những quan niệm của
người Chăm Bani về Thượng đế Allah, về tiên tri Mohamad, nội dung Kinh
Qur’an, nghi thức thờ cúng trong tháng chay Ramadan, nghi lễ thành niên
dành cho các chàng trai, cô gái trước khi lập gia đình.
6
Công trình Tín ngưỡng, tôn giáo trong cộng đồng người Chăm ở
Ninh Thuận và Bình Thuận (2006) của Hoàng Minh Đô, Nxb. Lý luận
chính trị và Một số vấn đề cơ bản về tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào
Chăm ở hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận hiện nay (2007) của Nguyễn
Hồng Dương, Nxb. Chính trị Quốc gia có đề cập đến hôn nhân của người
Chăm Bani. Tuy nhiên, nội dung chính của hai cuốn sách này chỉ tập trung
nghiên cứu về thực trạng tôn giáo, tín ngưỡng của người Chăm ở hai tỉnh
Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận. Dựa trên cơ sở đó, hai tác giả đã đưa ra
những kiến nghị, chính sách nhằm phát huy giá trị tốt đẹp của tôn giáo,
đồng thời hạn chế những hủ tục, nghi thức rườm rà của đồng bào dân tộc
Chăm hiện nay.
Cuốn Văn hóa Chăm – Nghiên cứu và phê bình (2010) của Sakaya,
Nxb. Hà Nội đã giúp cho người đọc nắm bắt rõ hơn về lịch sử hình thành
của người Chăm, những văn hóa truyền thống, sinh hoạt hằng ngày cũng
như nhiều lĩnh vực khác trong đời sống dựa trên việc phân tích, phê phán
những công trình trước.
Nguyễn Duy Hinh cũng cho ra đời công trình Người Chăm xưa và nay
(2010), Nxb. Văn hóa Thông tin với mong muốn mở rộng và làm sáng rõ
hơn mối quan hệ Việt-Chăm từ thời xa xưa thông qua các thư tịch, khảo cổ,
dân tộc học; đồng thời phản bác nhiều luận điểm sai trái của một số nhà
nghiên cứu nước ngoài về những xung đột giữa hai bên thời kỳ trung cận
đại.
Nghiên cứu dưới góc độ Nhân học và Văn hóa học, bài viết Lễ nghi
đám cưới người Chăm đạo “Bà Ni” (2001) ở Ninh Thuận của Amư Nhâm
được in trên Tạp chí Văn hóa các dân tộc, “Phong tục cưới của dân tộc
Chăm” (1991) của Lê Ngọc Canh trên Tạp chí Dân tộc học cũng đã trình
bày khá chi tiết các nghi lễ cưới hỏi trong hôn nhân của người Chăm Bani
8
như lễ dạm hỏi, lễ hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt… Tác giả Đoàn Việt đã có bài
báo cáo điền dã Khảo sát về thực trạng hôn nhân và việc thực hiện luật hôn
nhân và gia đình ở người Chăm huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
(2000) với những số liệu khảo sát và bảng điều tra khá cụ thể.
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, hầu hết các công trình đi
trước chủ yếu tìm hiểu về nguồn gốc, giáo lý, giáo luật của Islam giáo hoặc
những ảnh hưởng của Islam đến cộng đồng người Chăm nói chung, người
Chăm Bani nói riêng. Những công trình nghiên cứu chuyên sâu về đời sống
hôn nhân, gia đình của người Chăm Bani còn rất ít, nếu có chỉ dưới góc độ
dân tộc học hoặc văn hóa học, xã hội học. Trên cơ sở những dữ liệu có
được, luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng đời sống hôn nhân, gia
đình của người Chăm Bani dưới góc nhìn tôn giáo học với hi vọng bổ sung
phần nào vào mảng nhỏ còn thiếu trong phong tục tập quán hôn nhân và gia
đình của người Chăm Bani hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn phân tích thực trạng đời sống hôn nhân và gia đình của
người Chăm Bani ở tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận hiện nay. Dựa
trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp phát huy giá trị tích cực trong hôn nhân và
gia đình của người Chăm Bani ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
Tôn giáo học Mác – Lênin và liên ngành của Tôn giáo học như: phương
pháp duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã
hội.
- Cách tiếp cận: Dân tộc học, Xã hội học, Tôn giáo học,..
10
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích tổng hợp, khái quát hóa và
phỏng vấn sâu, điều tra xã hội học, quan sát tham dự,…
6. Đóng góp của Luận văn
Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề cơ bản về hôn nhân, gia đình
của người Chăm Bani ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận như: kết hôn,
ly hôn, các mối quan hệ trong gia đình. Từ đó chỉ ra những giá trị và hạn
chế trong hôn nhân, gia đình của người Chăm Bani đối với xã hội.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,
Nội dung của Luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
11
Chƣơng 1:
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
NGƢỜI CHĂM BANI Ở TỈNH NINH THUẬN VÀ TỈNH BÌNH THUẬN
1.1. Nhân tố lịch sử và nhân tố kinh tế, xã hội của ngƣời Chăm
Bani ở tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận
1.1.1. Nhân tố lịch sử
Theo như học giả R.P Durrand giải thích tên gọi Bani: “Những người
theo Hồi giáo tại Bình Thuận cũng được gọi là người Chăm Bani, theo các
Chăm Nam Bộ bao gồm những người Chăm sinh sống ở An Giang, thành
phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh Đông Nam Bộ. Người Chăm ở đây có
cùng nguồn gốc với người Chăm H’roi và người Chăm ở Ninh Thuận –
Bình Thuận, nhưng do nguyên nhân lịch sử mà nhiều người đã di cư sang
nước khác và bị ngược đãi nên đã tìm về cư trú ở An Giang, Tây Ninh.
Người Chăm Nam Bộ theo Hồi giáo chính thống. Còn nhóm Chăm Ninh
Thuận – Bình Thuận (gọi là Chăm Bàni) gồm những người Chăm cư trú ở
Ninh Thuận, Bình Thuận, đây là nhóm cộng đồng Chăm lớn nhất nước ta
với số lượng 39.620 người, chiếm 45,81% tổng số người Chăm trong khu
vực. Trong đó, Ninh Thuận có 21.798 tín đồ Chăm Bani, chiếm 38,15% số
người Chăm trong tỉnh, cư trú tập trung chủ yếu ở 7 làng: Văn Lâm (xã
Phước Nam), Thành Tín (xã Phước Hải), Tuấn Tú (xã An Hải), Phú Thuận
(xã Phước Thuận), thuộc huyện Ninh Phước và các làng Lương Tri, An
Nhơn, An Phước thuộc huyện Ninh Hải. Còn Bình Thuận có 18.528 tín đồ,
chiếm 63,11% tổng số người Chăm trong tỉnh, cư trú tại 10 xã thuộc 6
huyện, nhưng chủ yếu tập trung ở huyện Bắc Bình [22, tr. 67].
Khu vực cư trú của cộng đồng người Chăm Bani là một dãi đồng
bằng hẹp ven biển, có hình thể giống như hình bình hành, phía Bắc giáp với
tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp với tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu,
13
phía Tây giáp với tỉnh Lâm Đồng và phía Đông hướng về biển Đông. Vốn
mang tính cộng đồng rất cao, người Chăm Bani có tập quán bố trí dân cư
theo bàn cờ. Mỗi dòng họ, mỗi nhóm gia đình thân tộc hay có khi chỉ một
đại gia đình sống quây quần thành một khoảnh hình vuông hoặc hình chữ
nhật. Trong các làng Chăm Bani, những khoảnh không gian sống như thế
được ngăn cách với nhau bằng con đường nhỏ. Thông thường, các làng
Chăm Bani ở tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận hiện nay sống co cụm
theo tôn giáo riêng, nhưng lại có một số ngôi làng người Chăm Bani sống
Điển hình như đập Nha Trinh, Maren, Lâm Cấm ở Ninh Thuận; đập Cà
Giây, Làng Sông ở Bình Thuận mà ngày nay vẫn còn.
Vì nghề trồng lúa nước phát triển từ sớm nên cộng đồng người Chăm
Bani đã tích lũy được một hệ thống kinh nghiệm khá dày dặn. Tùy vào
từng loại đất mà họ có kỹ năng gieo trồng và canh tác khác nhau. Nói về
nghề trồng lúa nước, thì đây là một ngành nghề rất vất vả, người nông dân
phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Để có được hạt thóc, hạt gạo, họ
không những chỉ chịu thương, chịu khó, mà còn phải tỉ mỉ từ việc chọn cây
lúa cho đến cách gieo mạ, bón phân, và phải thực hiện hết sức cẩn thận,
nghiêm ngặt các khâu trong sản xuất lúa gạo. Bởi nếu không cẩn thận sẽ dễ
dẫn đến mất mùa, thất bát gây ra tình trạng đói kém. Với tính chất của
ngành nghề, đòi hỏi người lao động phải có tính cần mẫn, chăm chỉ, khéo
léo. Và không ai khác, chính người phụ nữ, người vợ trong gia đình là
người thích hợp nhất để đảm nhiệm công việc vất vả này. Những sản phẩm
thu hoạch được vừa mang lại sự no ấm trong bữa cơm hằng ngày vừa được
đem đi trao đổi, buôn bán để trang trải các chi phí sinh hoạt khác trong
cuộc sống.
Nếu như nghề trồng lúa nước là công việc thích hợp với người phụ
nữ Chăm Bani, thì nghề đi biển lại là công việc phù hợp, thể hiện sức mạnh
15
của người đàn ông. Nghề đi biển tưởng chừng như đơn giản nhưng lại là
ngành nghề khó và nguy hiểm, thậm chí nghề biển còn được ví như nghề
“bán mạng cho biển” để kiếm tiền. Người đi biển ngoài kinh nghiệm, sức
khỏe tốt còn phải kiên cường, chịu đựng được sóng to gió lớn. Do vậy mà
người ra khơi đánh bắt chủ yếu là công việc của đàn ông. Làm trong môi
trường khá khắc nghiệt, thế nhưng lao động nghề biển của người đàn ông
Chăm Bani hiện nay dường như không được đãi ngộ bởi sự biến đổi của
khí hậu gây ra bão biển và nhiều bất thường. Thêm nữa là nguồn hải sản
với nhiều sản phẩm độc đáo. Hầu như gia đình nào cũng làm, thợ làm gốm
đa số là người phụ nữ. Người phụ nữ Chăm Bani không dùng bàn xoay mà
chỉ sử dụng những công cụ giản đơn theo phương pháp thủ công truyền
thống. Chính vì vậy mà nghề làm gốm đất khá vất vả, công phu từ việc
chọn đất, đập nhuyễn, nhồi với cát trắng cho tới tạo hình rồi mới đem nung.
Đối với sản phẩm gốm có kích thước lớn và cồng kềnh, người phụ nữ
Chăm Bani phải có nhiều kinh nghiệm và nhiều thời gian mới thực hiện
được. Kỹ thuật chế tác gốm đòi hỏi người thợ phải khum người xuống,
dùng cả hai chân để dịch chuyển bàn kê, còn hai tay tạo dáng và thân sản
phẩm. Những sản phẩm làm ra khá đa dạng, thường là những chiếc chum
đựng nước, bộ khuôn đổ bánh xèo, kể cả tượng tháp hay tượng các vũ nữ
Apsara được ra đời với những hoa văn tinh xảo của dân tộc. Mặc dù giá
thành của những sản phẩm này không cao nhưng lại được ưa chuộng và dễ
tiêu thụ trên thị trường, đem lại thu nhập kinh tế.
Nhìn chung, với đặc trưng của ngành nghề đã cho thấy diện mạo
kinh tế của người Chăm Bani được xây dựng từ khá từ lâu đời và gắn
liền với vai trò của người phụ nữ. Như vậy, có thể thấy các hoạt động
kinh tế là một trong những cơ sở hình thành chế độ “Mẫu hệ” của người
Chăm Bàni. Chính lẽ đó mà người vợ, người phụ nữ chiếm một vị trí
17
quan trọng trong xã hội nói chung và trong hôn nhân, gia đình nói
riêng của người Chăm Bàni .
1.1.2.2. Nhân tố xã hội
Bên cạnh nhân tố kinh tế thì nhân tố xã hội cũng tác động không nhỏ
đến đời sống hôn nhân và gia đình người Chăm Bani. Trước kia, cộng đồng
người Chăm bị chia rẻ, ly tán thành nhiều nhóm gây ảnh hưởng đến trật
tự xã hội ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Nhưng hiện nay, với
những chính sách, chủ trương, pháp luật đúng đắn của Đảng và Nhà
bị dụng cụ y khoa, thuốc cần thiết để khám chữa bệnh. Nhiều câu lạc bộ ra
đời để giáo huấn, bồi dưỡng kiến thức về chăm sóc sức khỏe, đồng thời vận
động người dân thực hiện kế hoạch hóa gia đình bằng cách đưa ra biện
pháp tránh thai. Các địa phương còn có chính sách miễn giảm viện phí, cấp
thẻ bảo hiểm cho những người nghèo. Do đó mà hiện nay phụ nữ Chăm
Bani khi mang thai không phải sinh con ở nhà mà có thể đến bệnh viện
hoặc trạm y tế để được chăm sóc, phát thuốc. Họ còn thực hiện kế hoạch
hóa gia đình, mỗi gia đình sinh từ hai đến ba con, phòng ngừa bệnh tật và
chăm sóc cho con cái có khoa học.
Như vậy, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước mà tình hình kinh
tế, xã hội trong cộng đồng người Chăm Bani ở tỉnh Ninh Thuận và tỉnh
Bình Thuận có nhiều thay đổi. Đây chính là điều kiện thuận lợi để người
dân được nâng cao trình độ hiểu biết, tiến tới hôn nhân tiến bộ, gia đình bền
vững trong một xã hội phát triển như hiện nay.
1.2. Nhân tố văn hóa tín ngƣỡng và tôn giáo của ngƣời Chăm
Bani ở tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận
1.2.1. Nhân tố văn hóa tín ngưỡng
Vì tin rằng vạn vật đều có linh hồn và có mối quan hệ với con người
nên người Chăm Bani hiện nay ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận có
19
một hệ thống văn hóa tín ngưỡng phong phú và đa dạng. Trong đó, thờ
cúng tổ tiên là một trong những loại hình tín ngưỡng vẫn đang tồn tại rõ nét
nhất. Thờ cúng tổ tiên của người Chăm Bani là thờ những linh hồn đã chết
có cùng huyết thống như ông bà, cha mẹ hay họ hàng. Theo quan niệm của
họ, thế giới trần gian chỉ là “cõi tạm”, sau khi chết con người sẽ đầu thai ở
một thế giới khác. Người “chết tốt” được xem là người có phúc thì được
siêu thoát, còn người “chết xấu” khó siêu thoát và biến thành ma quỷ quấy
phá con cháu. Con cháu chỉ được ông bà tổ tiên che chở, phù hộ chỉ khi
Cầu đảo xin cho mưa thuận gió hòa, lễ Mbăng Chambur để tạ ơn các vị
thần đã giúp đỡ. Ngoài các lễ hội trên còn có một số lễ hội khác liên quan
đến sự sinh trưởng của cây lúa như: lễ dựng chòi, lễ cúng thần Ruộng lúa
lúc mới gieo, lễ cúng lúa lúc làm đồng, lễ cúng chuẩn bị thu hoạch và lễ
mừng lúa lên sân. Hệ thống những nghi lễ nông nghiệp của người Chăm
Bani chủ yếu là lễ cúng của từng gia đình được tổ chức tại ruộng tư gia do
ông thầy kéo đàn Kanhi, ông cai đập thực hiện. Lễ vật chủ yếu là dê hoặc
gà, cơm, rượu, trứng do các thành viên trong gia đình chuẩn bị.
Bên cạnh đó, tín ngưỡng phồn thực vẫn còn đang tồn tại trong cộng
đồng người Chăm Bani ở hai tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận hiện
nay. Trong tín ngưỡng này, người Chăm Bani thờ sinh thực khí của người
đàn ông, gọi là Linga và sinh thực khí của người phụ nữ, gọi là Yoni. Có
thể nói rằng, vùng đất Ninh Thuận, Bình Thuận là nơi thờ Linga và Yoni
với hình dáng đa dạng và kích thước lớn nhất nước ta. Linga và Yoni chính
là biểu hiện cho hai mặt âm - dương của vũ trụ, là cội nguồn sinh sôi, nảy
nở của muôn loài vạn vật, ước mong được sản xuất phồn thịnh, mùa màng
được bội thu. Trong đó, Linga là biểu tượng cho dương tính và năng lực
sáng tạo, tượng trưng cho thần Siva - một trong ba vị thần tối cao của Ấn
Độ giáo. Còn Yoni tượng trưng cho thần Uma - vợ của thần Siva, biểu
21