Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại tại Việt Nam tt - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH TÚ

ĐỀ TÀI

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU
TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2019


MỞ ĐẦU
1.

Lí do lựa chọn đề tài

Về mặt thực tiễn, trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ
của kinh tế, đa dạng hóa và mở rộng dịch vụ là xu hướng tất yếu tại các ngân
hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Tại Việt Nam hiện nay, các ngân hàng
thương mại không chỉ dừng lại ở việc đẩy mạnh các dịch vụ truyền thống mà
ngày càng phát triển nhiều loại hình hoạt động, trong đó nhiều ngân hàng phát
triển thành mô hình có tính chất hỗn hợp. Các hoạt động đầu tư của ngân hàng
thương mại như góp vốn, mua cổ phần, đầu tư chứng khoán theo đó được đẩy
mạnh, trở thành hoạt động có vị trí ngày càng quan trọng bởi lợi ích kinh tế và ý

qua nội dung các công trình này được mô tả chi tiết tại mục 2 Phần thứ nhất của
Luận án).
Từ những lí do trên, việc nghiên cứu thấu đáo những vấn đề lí luận và thực
tiễn đối với pháp luật về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại, từ đó xây
dựng và hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này
là cấp thiết và có tính thời sự. Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Hoàn
thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương tại Việt
Nam” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ luật học của mình.
2.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng cơ sở lí luận về hoạt động
đầu tư và pháp luật đối với hoạt động đầu tư của NHTM, đánh giá thực trạng các
quy định pháp luật hiện hành, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với
hoạt động đầu tư của NHTM. Nghiên cứu, đánh giá của luận án nhằm đến mục
tiêu quản lí hiệu quả, đồng thời có tính định hướng đối với hoạt động đầu tư của
các NHTM hiện nay trước yêu cầu hội nhập của nền kinh tế.
Với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác
định là:
Thứ nhất, tác giả tập trung nghiên cứu và đưa ra khái niệm về hoạt động
đầu tư của NHTM, chỉ ra đặc điểm đặc thù hoạt động đầu tư của NHTM với các
hoạt động ngân hàng truyền thống và các hoạt động đầu tư khác cũng như ý nghĩa
hoạt động đầu tư đối với mô hình NHTM.
Thứ hai, nghiên cứu và xây dựng khái niệm và xác định cấu trúc pháp luật
điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến


pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của các NHTM.
Thứ ba, nghiên cứu lí luận và thực tiễn một số nội dung pháp luật điều

động đầu tư của NHTM từ khi ban hành Luật các TCTD số 47/2010/QH12 năm
2010 đến nay. Bên cạnh đó, tác giả xác định phạm vi nghiên cứu chỉ bao gồm
các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, hoạt động kinh doanh chứng khoán và hoạt
động uỷ thác đầu tư. Luận án không nghiên cứu các hoạt động tín dụng đầu tư,
đầu tư vào tài sản cố định, và một số hoạt động đầu tư khác như kinh doanh ngoại
hối, kinh doanh vàng, đây được xác định là nội dung đã được nghiên cứu tại nhiều
công trình.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy


vật biện chứng và duy vật lịch sử; các quan điểm, chủ trương chính sách của
Đảng và nhà nước về hoạt động tài chính ngân hàng. Để giải quyết hiệu quả đề
tài, các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phỏng đoán khoa học sẽ được
tác giả vận dụng một cách linh hoạt nhằm đặt được mục đích nghiên cứu từng
nội dung.
Tại phần I, phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu nhằm tạo lập
nguồn tài liệu đầy đủ cho nghiên cứu và hoàn thiện Luận án. Bên cạnh đó,
phương pháp phỏng đoán được kết hợp nhằm đưa ra kết luận và đánh giá về tình
hình nghiên cứu của đề tài.
Tại phần II, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng phù hợp với mục
tiêu nghiên cứu của từng phần:
Chương I, xác định nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tư
của NHTM và pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, tác giả sử dụng
chủ yếu phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh
pháp luật, đồng thời có vận dụng phỏng đoán khoa học. Các phương pháp trên
giúp cho việc xem xét hoạt động đầu tư của các NHTM, pháp luật điều chỉnh
hoạt động đầu tư của NHTM một cách đầy đủ, từ đó đánh giá khách quan, toàn
diện và xác định rõ ràng phạm vi vấn đề nghiên cứu cũng như đánh giá bước đầu
về yêu cầu, tiêu chí và mức độ điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động đầu tư

pháp luật này tại Việt Nam.
- Đánh giá khách quan các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt
động đầu tư của NHTM trong bối cảnh các yêu cầu đặt ra của tình hình mới.
Trên cơ sở đó, Luận án chỉ ra những bất cập còn tồn tại, khẳng định tính tất yếu
khách quan của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của
NHTM.
- Nghiên cứu, đề xuất các kiến nghị, giải pháp phù hợp và khả thi, không
chỉ trên phương diện hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của
NHTM mà còn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, phù hợp với đòi hỏi của thực
tiễn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
6.

Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Thứ nhất: hệ thống hóa vào làm rõ các vấn đề lí luận về hoạt động đầu tư của
NHTM và pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM làm cơ sở xác định yêu
cầu trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh.
Thứ hai: đánh giá tương đối toàn diện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của
NHTM tại Việt Nam trong bối cảnh tình hình mới, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thị
trường, khảo sát số liệu và trong sự so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới.
Trên có sở đó, Luận án chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong nội dung pháp luật, khẳng
định yêu cầu tất yếu của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của
NHTM.
Thứ ba: kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật, giải pháp phù hợp và khả thi,
không chỉ trên phương diện hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM mà
còn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế.
Bên cạnh ý nghĩa khoa học, kết quả nghiên cứu có tính ứng dụng thực tiễn lớn,
thể hiện: (i) đóng góp căn cứ cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt


tư do NHTM thực hiện, tính chất rủi ro đặt ra vấn đề cần thiết quản lí và điều
chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động này. Tiếp đó, một số bất cập trong pháp
luật điều chỉnh hoạt động đầu tư cũng được chỉ ra như vấn đề hạn chế trong quản
lí nguồn vốn, trong quản lí, tách bạch mối quan hệ và giao dịch giữa NHTM và
công ti trực thuộc, thiếu cơ chế trong quản lí hoạt động uỷ thác đầu tư, hạn chế


trong công thết lập cơ chế giám sát của cơ quan quản lí đến NHTM khi thực hiện
hoạt động đầu tư,...
Nhìn chung, nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM
đã được nghiên cứu ở mức độ nhất định, tuy nhiên không có tính toàn diện và
thực sự chuyên sâu. Do đó, kế thừa, tiếp tục nghiên cứu nội dung về hoạt động
đầu tư của NHTM và pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM đảm bảo
tính mới và có ý nghĩa hết sức quan trong trong hoàn thiện nội dung pháp luật
này, góp phần đảm bảo an toàn thị trường tiền tệ và thị trường tài chính tại Việt
Nam.
PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU
CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
1.1.1 Quan niệm về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
Đầu tư là khái niệm có nội hàm rộng. Đối với hoạt động đầu tư của NHTM
cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp tuỳ theo
mục đích nghiên cứu. Trong phạm vi luận án, “hoạt động đầu tư của NHTM được
hiểu là việc NHTM trực tiếp bỏ vốn, tài sản nhằm góp vốn thành lập doanh nghiệp,
mua bán các công cụ đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác
hoặc uỷ thác cho bên thứ ba thực hiện các hoạt động đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận”.

Dưới cách tiếp cận này, luận án cũng xác định giới hạn nghiên cứu về pháp

- Thực hiện hoạt động đầu tư giúp NHTM có thể da dạng hoá danh mục
đầu tư, góp phần tạo lập và ổn định thu nhập
- Thực hiện hoạt động đầu tư góp phần cân bằng rủi ro tín dụng của NHTM
- Hoạt động đầu tư góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động ngân hàng


1.2. Quan niệm và cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của
ngân hàng thương mại
1.2.1. Quan niệm về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng
thương mại
Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM là hệ thống các quy tắc
xử sự, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình NHTM thực hiện, sử dụng nguồn vốn, tài sản thực hiện các
hoạt động đầu tư bao gồm hoạt động góp vốn, mua cổ phần, hoạt động đầu tư
chứng khoán và hoạt động uỷ thác đầu tư.
1.2.2. Cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng
thương mại
Việc xác định cấu trúc pháp luật có thể dựa trên cơ sở từ các quan hệ xã
hội cơ bản phát sinh trong quá trình chủ thể thực hiện hoạt động mà pháp luật đó
điều chỉnh, đồng thời xuất phát từ đặc trưng và yêu cầu đặc thù đối với nội dung
pháp luật đó.
Trong quá trình NHTM thực hiện hoạt động đầu tư sẽ phát sinh các nhóm
quan hệ xã hội giữa ba bên: NHTM (với vai trò là nhà đầu tư); chủ thể tiếp nhận
nguồn vốn đầu tư và chủ thể quản lí. Sự điều chỉnh các nhóm quan hệ này, phải
đặt trong yêu cầu đặc thù của hoạt động đầu tư do NHTM thực hiện, đó là đảm
bảo sự quản lí, giám sát của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư theo đúng định
hướng, trong phạm vi được xác lập hướng đến an toàn hệ thống, giảm thiểu rủi
ro hoạt động đối với NHTM, đồng thời đảm bảo quyền tự do kinh doanh và phát
huy được tính chủ động của NHTM.
Từ việc xem xét nội dung nhóm quan hệ và yêu cầu điều chỉnh đặc thù

đảm an toàn hệ thống tài chính, nền kinh tế cũng như quyền tự do kinh doanh
của ngân hàng.
1.3.2. Nguyên tắc cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt
động đầu tư của ngân hàng thương mại
Trong lĩnh vực ngân hàng, sự an toàn của hệ thống được coi là mục tiêu
rất quan trọng trong điều hành và quản lí, bởi vậy, trong hoàn thiện pháp luật
điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM phải đảm bảo đồng thời và cân đối hai
nguyên tắc cơ bản: (i) nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh; (ii) nguyên
tắc bảo đảm an toàn hệ thống.
1.3.3. Tiêu chí hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân
hàng thương mại
- Nội dung pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM phải phù hợp với
quan điểm, đường lối, chính sách phát triển nền kinh tế của quốc gia và trình độ
phát triển kinh tế - xã hội của chính quốc gia đó.
- Nội dung pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM phải dựa trên các
đặc thù của hoạt động đầu tư do NHTM thực hiện.
- Nội dung pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM phải đảm bảo tính
hợp lí, khả thi, tính toàn diện và tính thống nhất.


CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
2.1. Thực trạng pháp luật về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư của
ngân hàng thương mại
2.1.1. Về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại
Pháp luật ngân hàng Việt Nam đã tạo lập cơ sở pháp lí rõ ràng và ngày
càng cụ thể về hình thức và lĩnh vực thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần
của NHTM, tạo điều kiện để các NHTM thực hiện hoạt động này trên thực tế.
Tuy nhiên, quy định trong hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM vẫn còn
tồn tại một số hạn chế cần hoàn thiện.

2.2. Thực trạng pháp luật về điều kiện và trình tự thực hiện hoạt động
đầu tư của ngân hàng thương mại
2.2.1 Điều kiện và trình tự thực hiện góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng
thương mại
Quy định về điều kiện thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần với
những bổ sung gần đây đã thể hiện sự cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ, tạo điều kiện
TCTD thực hiện quyền kinh doanh, tạo động lực cho chính các NHTM đảm bảo
lành mạnh chế độ tài chính nếu muốn mở rộng phạm vi hoạt động, đồng thời tạo
cơ sở pháp lí cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng quản lí. Bên cạnh đó, một
số hạn chế vẫn còn tồn tại:
Thứ nhất, quy định về điều kiện chưa có sự xem xét đến quy mô của ngân
hàng, cùng với đó các điều kiện tài chính chưa thực sự được đảm bảo trên thực
tế.
Thứ hai, trong thủ tục quản lí hoạt động góp vốn, mua cổ phần chưa có sự
phối hợp và thiếu thống nhất về mặt qui định giữa NHNN với cơ quan quản lí
chuyên ngành trong lĩnh vực khác.
2.2.2. Điều kiện và trình tự thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán của
ngân hàng thương mại
Pháp luật hiện hành đã đặt ra điều kiện đầu tư đối với một số chứng khoán
xét về tiêu chí an toàn thấp hơn trong nhóm chứng khoán được phép, đồng thời
pháp luật cũng có những điều chỉnh kịp thời về điều kiện và giới hạn trong hoạt
động đầu tư chứng khoán nhằm phù hợp với biến động của thị trường.


Điểm hạn chế trong quy định về điều kiện và trình tự thực hiện hoạt động
đầu tư chứng khoán của NHTM thể hiện như sau:
Thứ nhất, pháp luật hiện hành không có quy định hướng dẫn về điều kiện
nhằm đảm bảo hoạt động quản lí nội bộ, cơ chế đầu tư hiệu quả đối với đầu tư
chứng khoán của NHTM.
Thứ hai, trong điều kiện, trình tự thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán,

nhiều doanh nghiệp lách luật bằng cách đầu tư vòng vo nhiều cấp sau đó quay
trở lại NHTM, kết quả là không thể xóa bỏ được các dạng thức sở hữu chồng
chéo phức tạp.
2.3.3 Quy định khác nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động đầu tư của ngân
hàng thương mại
Pháp luật đã đặt ra một số giới hạn trong hoạt động đầu tư chứng khoán
trực tiếp và uỷ thác đầu tư của các NHTM nhằm đảm bảo an toàn hơn cho nguồn
vốn sửa dụng vào hoạt động đầu tư này, tuy nhiên, xét các quy định hiện hành,
mức giới hạn trong hoạt động đầu tư chứng khoán chưa thực sự đầy đủ, chưa có
quy định điều kiện, giới hạn đối với chứng chỉ quỹ hay “giấy tờ có giá khác”.
Đối với hoạt động uỷ thác đầu tư, pháp luật đã đặt ra một số giới hạn, tuy
nhiên, các quy định hiện nay chưa tạo được cơ sở pháp lí đầy đủ cho quản lí các
giao dịch liên quan, đặc biệt thiếu các biện pháp quản lí dòng vốn đầu tư và bảo
đảm an toàn vốn.
2.4 Thực trạng quy định về quản lí nhà nước đối với hoạt động đầu tư
của ngân hàng thương mại
2.4.1 Chủ thể quản lí hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
Tương tự như pháp luật các quốc gia, Việt Nam có cơ quan chuyên trách
thực hiện quản lí hoạt động ngân hàng là Ngân hàng Nhà nước. Ngoài ra, các
chủ thể khác như Bộ Tài chính, Sở Kế hoạch Đầu tư, cơ quan quản lí cạnh tranh
cũng tham gia vào công tác quản lí tuỳ theo phương thức đầu tư mà NHTM thực
hiện. Các chủ thể quản lí nhìn chung đã thực hiện tương đối toàn diện chức năng,
nhiệm vụ của mình. Vấn đề cần xem xét trong thời gian tới đó là nâng cao tính
tự chủ của NHNN, tăng cường phối kết hợp với các cơ quan chuyên ngành khác,


đồng thời hạn chế sử dụng các công cụ quản lí bằng mệnh lệnh hành chính trong
hoạt động quản lí.
2.4.2 Biện pháp quản lí nhà nước đối với hoạt động đầu tư của ngân hàng
thương mại

triển thị trường tài chính của Nhà nước, đặc biệt phải dựa trên cơ sở đánh giá điều
kiện riêng biệt đặc thù của nền kinh tế, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Để đảm
bảo định hướng hoàn thiện pháp luật trên, một số nội dung cụ thể được xác định
như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM phải phù
hợp chủ trương, định hướng phát triển thị trường tài chính của Đảng và Nhà
nước.
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM cần đảm
bảo và phù hợp với mục tiêu tái cơ cấu hệ thống tài chính, tái cơ cấu các TCTD.
Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM cần đáp ứng
yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế và yêu cầu hội nhập đặt trong trực trạng đánh giá
tình hình tài chính Việt Nam.
Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM đảm bảo mục
tiêu giảm thiểu rủi ro hoạt động, đảm bảo hài hoà lợi ích của các bên trong quan
hệ đầu tư.
3.2. Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật điều
chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại tại Việt Nam
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của
ngân hàng thương mại
3.2.1.1. Hoàn thiện quy định về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư
của ngân hàng thương mại
Thứ nhất, bổ sung quy định về “mô hình tập đoàn tài chính” nhằm quản
lí hoạt động của NHTM và hệ thống các công ti trực thuộc. Quy định mô hình
tập đoàn tài chính là xu hướng và giải pháp được áp dụng tại nhiều quốc gia và
có sở tại Việt Nam nhằm quản lí, giám sát hệ thống ngân hàng và công ti trực
thuộc.


Thứ hai, quy định rõ loại chứng khoán được phép thực hiện hoạt động mua


Thứ nhất, cần thiết phải bổ sung các quy định giới hạn nghiêm ngặt hơn
về mức sở hữu cổ phần và quyền tham gia lãnh đạo của mỗi cá nhân. Cụ thể: cá
nhân không được thông qua những người được ủy quyền để mua hay khống chế
cổ phần tại ngân hàng (truy soát nguồn gốc dòng tiền); nghiêm cấm việc các
công ti và tập đoàn kinh tế đầu tư hoặc sở hữu ngân hàng, sau đó lại dùng ngân
hàng đó để đầu tư vốn cho các dự án của mình; định nghĩa lại người có liên quan
theo hướng hạ thấp tỷ lệ sở hữu ngân hàng phải công bố thông tin.
Thứ hai, cần đặt ra yêu cầu các NHTM nói riêng và TCTD nói chung phải
duy trì sự độc lập trong mô hình tổ chức, hoạt động giữa NHTM và các công ti
trực thuộc.
Thứ ba, sửa đổi bổ sung quy định về kế toán trong báo cáo tài chính của
ngân hàng liên quan đến chứng khoán đầu tư của NHTM theo hướng tiếp cận
các chuẩn mực kế toán quốc tế.
Thứ tư, bổ sung quy định giới hạn và tăng cường quản lí trong hoạt động
đầu tư chứng khoán của TCTD. Giải pháp cần xem xét gồm ban hành yêu cầu
thiết lập cơ chế quản lí rủi ro chặt chẽ đối với tất cả hoạt động mua bán các loại
chứng khoán; đặt ra yêu cầu các NHTM cần quản lí chặt chẽ, xây dựng mô hình/
đào tạo chuyên sâu về phân tích, giám sát chất lượng và cơ cấu danh mục chứng
khoán.
3.2.1.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lí của Nhà nước đối với
hoạt động đầu tư của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Thứ nhất, xây dựng cơ chế quản lí, giám sát hoạt động tài chính tập trung.
Để thực hiện nội dung này, trước hết cần xây dựng một mô hình giám sát hợp
nhất. Tiếp đó, nghiên cứu xây dựng lộ trình và biện pháp thanh tra, giám sát cụ
thể cho hoạt động đầu tư, góp vốn của các NHTM.
Thứ hai, cần siết chặt chế tài xử lí đối với hành vi vi phạm trong hoạt động
đầu tư của NHTM nhằm tạo tính răn đe.




tiêu chí hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM đã được làm rõ làm
cơ sở cho việc nghiên cứu trực trạng pháp luật hiện nay.
Thứ hai, bên cạnh những thành tựu đạt được, pháp luật điều chỉnh hoạt
động đầu tư của NHTM còn rất nhiều bất cập cần được sửa đổi, bổ sung. Các
hạn chế có thể kể đến như sau: Một là, quy định về phương thức thực hiện hoạt
động đầu tư còn thiếu rõ ràng trong một số hoạt động như đầu tư chứng khoán,
uỷ thác đầu tư; Hai là, quy định về điều kiện và trình tự thực hiện hoạt động đầu
tư chưa tạo được sự gắn kết với các cơ quan liên quan, điều kiện chưa thống nhất
và đầy đủ đối với các hoạt động đầu tư; Ba là, quy định về các biện pháp bảo
đảm an toàn còn hạn chế trong kiểm soát nguồn vốn và giao dịch giữa trong hệ
thống các công ti có mối quan hệ sở hữu, chưa kiểm soát rủi ro đối với hoạt động
uỷ thác đầu tư; Bốn là, nội dung quy định về quản lí Nhà nước và giám sát đối
với hoạt động đầu tư của NHTM cần phải được sửa đổi do chưa tạo lập được cơ
chế phối kết hợp tốt giữa các cơ quan quản lí liên quan, thiếu quy định về công
khai và minh bạch cũng như chất lượng thông tin, chế tài xử lí vi phạm chưa tạo
được tính răn đe.
Thứ ba, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM
là hết sức cần thiết. Trong quá trình hoàn thiện pháp luật cần đảm bảo phù hợp
với chủ trương, định hướng phát triển thị trường tài chính của Đảng và Nhà nước,
đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế, yêu cầu hội nhập và đảm bảo các yêu
cầu về nội dung đối với việc ban hành và thực thi pháp luật. Các giải pháp hoàn
thiện pháp luật cụ thể cần được xem xét trong thời gian tới như sau: Một là, quy
định cụ thể, chi tiết các phương thức thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM, đặc
biệt tập trung và phương thức hiện nay pháp luật còn bỏ ngỏ như uỷ thác đầu tư,
hoặc hoạt động hiện đang phát sinh nhiều rủi ro cho thị trường – hoạt động góp
vốn, mua cổ phần; Hai là, các quy định về điều kiện và trình tự, thủ tục thực hiện
hoạt động đầu tư của NHTM cần được hoàn thiện theo hướng quy định rõ ràng
các chi tiết các điều kiện, trình tự thực hiện trong từng hoạt động đầu tư, thể hiện
được sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Ba là, cần hoàn thiện quy định về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status