Nghiên cứu lựa chọn hệ thống bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên taekwondo 12 – 14 tuổi thành phố hồ chí minh - Pdf 57

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------

HUỲNH HỒNG NGỌC

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN HỆ THỐNG BÀI TẬP
PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CHUYÊN MÔN CHO NỮ
VẬN ĐỘNG VIÊN TAEKWONDO 12 - 14 TUỔI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019

1


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------

HUỲNH HỒNG NGỌC


4

MỤC LỤC
Trang
TRANG BÌA
PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
DANH MỤC CÁC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIẾU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

DANH MỤC NHỮNG TỪ, THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
CLB

Câu lạc bộ

HLTT

Huấn luyện thể thao

HLV

Huấn luyện viên

ThS

Thạc sĩ

PGS.TS
VĐV

Phó giáo sư .Tiến sĩ
Vận động viên

DANH MỤC CÁC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG VIẾT TẮT
Độ

Góc độ

Kg

Kilôgam

Kgms
m

Kilôgam Mili giây
Mét

m/s

Mét/giây

ms

47


6

1.5
1.6
3.1

3.2

3.3
3.4

3.5

3.6
3.7

3.8

Giá trị trung bình sức bền ưa khí của VĐV
Taekwondo đỉnh cao Mỹ.
Giá trị trung bình sức bền ưa khí (ml/kg/phút) của
các đối tượng khác
So sánh kết quả hai lần phỏng vấn các test thể lực
chuyên môn
Độ tin cậy của các test đánh giá thể lực chuyên môn
của nữ vận động viên Taekwondo 12 – 14 tuổi Thành
Phố Hồ Chí Minh

94

14 tuổi Thành Phố Hồ Chí Minh
Tiêu chuẩn phân loại các thông số đánh giá thể lực
3.9

chuyên môn của nữ vận động viên Taekwondo 12 –
14 tuổi Thành Phố Hồ Chí
Bảng điểm các thông số đánh giá thể lực chuyên môn

3.10

của nữ vận động viên Taekwondo 12 – 14 tuổi Thành

3.11

Phố Hồ Chí Minh
Bảng điểm xếp loại tổng hợp các thông số đánh giá
thể lực chuyên môn của nữ vận động viên

6

99


7

Taekwondo 12 – 14 tuổi Thành Phố Hồ Chí Minh.
Kết quả kiểm tra các test đánh giá thể lực chuyên
3.12

Kết quả phỏng vấn huấn luyện viên, chuyên gia,
3.16

trọng tài về lựa chọn hệ thống các bài tập huấn luyện
thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên
Taekwondo 12 – 14 tuổi Thành Phố Hồ Chí Minh
Kết quả phỏng vấn nội dung xây dựng kế hoạch huấn

3.17

luyện thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên

121

3.18

Taekwondo 12 – 14 tuổi Tp.HCM
Kế hoạch huấn luyện năm 2016

122

Tiến tình thực nghiệm hệ thống bài tập phát triển thể
3.19

lực chuyên môn cho nữ vận động viên Taekwondo 12
– 14 tuổi Thành Phố Hồ Chí Minh
Nhịp tăng trưởng các test đánh giá thể lực chuyên

3.20




9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ

Tên biểu đồ

Trang

3.1
3.2
3.3

Đối tượng phỏng vấn lần 1
Đối tượng phỏng vấn lần 2
Tổng hợp đối tượng phỏng vấn lần 1 và lần 2
Thực trạng thể lực chuyên môn của nữ vận động viên

79
79
79

3.4

Taekwondo 12 – 14 tuổi Thành phố Hồ Chí Minh qua

102


3.11
3.12
3.13

9

chuyên môn của nữ vận động viên Taekwondo 12 –
14 tuổi Thành Phố Hồ Chí Minh sau thực nghiệm
Nhịp tăng trưởng test Đá vòng cầu 1 chân tại chỗ 10s
(lần) sau thực nghiệm.
Nhịp tăng trưởng test Đá vòng cầu 2 chân tại chỗ 10s
(lần) sau thực nghiệm.
Nhịp tăng trưởng test Đá lướt vòng cầu 1 chân tại chỗ
10s (lần) sau thực nghiệm.
Nhịp tăng trưởng test Đá chẻ 1 chân trước tại chỗ 10s
(lần) sau thực nghiệm.
Nhịp tăng trưởng test Lướt đá ngang 1 chân tại chỗ
trong 10s (lần) sau thực nghiệm.

137

140
140
141
141
142


10



DANH MỤC CÁC HÌNH
HÌNH

TÊN HÌNH ẢNH

Trang

Hình 2.1
Hình 2.2
Hình 2.3

Khu vực quay và vị trí đặt máy quay
Vật chuẩn 3D
Hệ thống tọa độ 3D trên máy vi tính
Chuyển động trong không gian 3 chiều của kỹ thuật

59
60
61

Hình 2.4
Hình 2.5
Hình 2.6

11

đá chẻ
Chuyển động trong không gian 3 chiều của kỹ thuật
đá vòng cầu

thi đấu nữa, do lực lượng VĐV trẻ không thể thay thế kịp thời thế hệ trước nên
Thành phố Hồ Chí Minh đã đánh mất vị trí số một trên toàn quốc. Để
Taekwondo Thành phố Hồ Chí Minh lấy lại vị trí đã mất thì việc đào tạo lực
lượng VĐV Taekwondo trẻ kế cận có trình độ cao là việc làm quan trọng và cần
thiết.

12


13

Là một môn thi đối kháng trực tiếp, thời gian thi đấu cũng tương đối dài,
điều đó đòi hỏi vận động viên phải có một trình độ thể lực nhất định, có thể duy
trì suốt thời gian thi đấu và cả giải đấu. Các tố chất thể lực đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo dựng nền tảng vững chắc cho mỗi vận động viên, thể lực
được phát triển thì các yếu tố kỹ thuật, chiến thuật, tâm lý tập luyện và thi đấu
cũng dần được nâng cao.
Trong huấn luyện Taekwondo ở nước ta đã có một số công trình nghiên
cứu về các mặt: thể lực, kỹ thuật, tâm lý và tuyển chọn VĐV như các tác giả:
Nguyễn Thy Ngọc nghiên cứu về một số thành phần của trình độ tập luyện ở
VĐV Taekwondo 14-16 tuổi; Vũ Xuân Thành nghiên cứu về hệ thống bài tập
phát triển sức mạnh tố độ cho nam VĐV Taekwondo trẻ tại Việt Nam, tác giả Lê
Nguyệt Nga và cộng sự nghiên cứu về đặc điểm tâm lý VĐV Taekwondo,
Trương Ngọc Để và cộng sự nghiên cứu về vấn đề tuyển chọn VĐV Taekwondo
ở các tuyến, các tác giả trên đã nghiên cứu các bài tập phát triển các tố chất thể
lực, kỹ thuật, tâm lý cũng như các khả năng vận động cho các lứa tuổi khác
nhau. Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu về thể lực chuyên môn thì rất ít tác giả
nghiên cứu đến, đặc biệt đối tượng là các nữ VĐV ở lứa tuổi 12-14 tại TP.HCM
vẫn chưa ai đề cập đến.
Đặc thù của môn Taekwondo là môn thi đấu cá nhân có tính đối kháng

môn cho nữ vận động viên Taekwondo.
+ Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực chuyên môn của nữ vận động
viên Taekwondo 12 – 14 tuổi Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Xác định các thông số đánh giá thể lực chuyên môn cho nữ vận động
viên Taekwondo 12 – 14 tuổi Thành phố Hồ Chí Minh bằng công nghệ 3D và hệ
thống đo xung lực

-

Đánh giá thực trạng thể lực chuyên môn của nữ vận động viên Taekwondo 12 –
14 tuổi Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Đánh giá thực trạng thể lực chuyên môn của nữ vận động viên
Taekwondo 12 – 14 tuổi Thành phố Hồ Chí Minh theo tiêu chuẩn được xây
dựng.
+ Đánh giá thực trạng thể lực chuyên môn của nữ vận động viên
Taekwondo 12 – 14 tuổi Thành phố Hồ Chí Minh bằng công nghệ 3D và hệ
thống đo xung lực.
14


15

Mục tiêu 2: Lựa chọn và ứng dụng hệ thống bài tập phát triển thể lực
chuyên môn cho nữ vận động viên Taekwondo 12 – 14 tuổi Thành phố Hồ
Chí Minh.
-

Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho nữ vận động viên
Taekwondo 12 – 14 tuổi Thành phố Hồ Chí Minh.


nền tảng thể lực chung. Như vậy có thể nói rằng: huấn luyện thể lực chung là
nền tảng, còn việc lựa chọn biện pháp thích hợp lại mang những đặc trưng của
môn thể thao, là tiền đề hình thành các tố chất thể lực chuyên môn sau này. [8],
[9], [12], [29] Việc hình thành thể lực chuyên môn cơ sở của các môn thể thao
không chu kỳ tương đối khó khăn. Ở đây có hai cách lựa chọn:
Thứ nhất: Bằng cách lặp lại nhiều lần các hoạt động chính đặc trưng của
môn thể thao lựa chọn.
Thứ hai: Sự lặp lại nguyên vẹn các bài tập thi đấu của chính môn thể thao
đó.
Trong quá trình lựa chọn và thực hiện không đúng những bài tập hình
thành và phát triển các tố chất thể lực chuyên môn cơ sở sẽ dẫn đến sự sai lầm
chuyên môn trong các cơ quan chức phận, điều này sẽ làm ảnh hưởng đến việc
phát triển thành tích thể thao của vận động viên. Chính vì vậy, các bài tập được
lựa chọn làm phương tiện giáo dục thể lực chuyên môn cơ sở còn phải được
thực hiện với cường độ cao. Mặt khác, khối lượng thực hiện các bài tập để giáo
dục thể lực chuyên môn cở sở phải tính toán tới việc sử dụng khối lượng và
cường độ bài tập mang những nét đặc trưng của môn thể thao tương ứng phù
hợp.
1.1.2. Khái niệm huấn luyện thể lực chuyên môn cơ bản:
Huấn luyện thể lực chuyên môn cơ bản chính là việc nâng cao đến mức
cần thiết sự phát triển của các tố chất vận động và khả năng chức phận của các
cơ quan nội tạng, trước những đòi hỏi của môn thể thao lựa chọn. Sự phát triển
các tố chất vận động chuyên môn cơ bản phụ thuộc chủ yếu vào các bài tập đặc
16


17

thù của môn thể thao. Các bài tập đó được thực hiện trong những điều kiện giảm
nhẹ hoặc tăng cường thêm độ khó. Nguyên tắc chung trong lựa chọn các bài tập


thể thao là nhằm hướng tới tạo nên những biến đổi thích nghi về mặt sinh học
(cấu trúc và chức năng) diễn ra trong cơ thể vận động viên dưới tác động của tập
luyện và được biểu hiện ở năng lực hoạt động cao hay thấp.
Dưới góc độ tâm lý PGS. Lê Văn Xem [49] cho rằng quá trình chuẩn bị
thể lực chung và chuyên môn cho vận động viên là quá trình giải quyết những
khó khăn liên quan đến việc thực hiện các hành động kỹ thuật, là sự phù hợp với
những yếu tố tâm lý trong hoạt động tập luyện và thi đấu của vận động viên.
[43], [46]
Từ các ý trên chứng tỏ: quá trình chuẩn bị thể lực chuyên môn của vận
động viên là sự tác động có hướng đích của lượng vận động (bài tập thể chất)
lên vận động viên nhằm hình thành, phát triển khả năng vận động mà biểu hiện
là hoàn thiện các năng lực thể chất (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khả năng
phối hợp động tác và độ dẻo), là ở việc nâng cao khả năng hoạt động của các cơ
quan chức phận tương ứng với năng lực vận động của vận động viên, phù hợp
với thực tiễn huấn luyện.
1.1.3. Khái niệm về bài tập và hệ thống bài tập thể lực:
Các phương tiện giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao được sử dụng
để tác động lên các đối tượng tập luyện nhằm đạt được mục đích của giáo dục
thể chất. Bài tập bao gồm: Các bài tập thân thể (còn gọi là các bài tập thể dục thể
thao), các động tác tự nhiên, môi trường, các yếu tố vệ sinh... Trong đó, các bài
tập thể thao được coi là phương tiện chủ yếu và chuyên biệt của giáo dục thể
chất [39].
Bài tập thể dục thể thao là những hoạt động chuyên biệt do con người
sáng tạo nên một cách có ý thức, có chủ đích, phù hợp với qui luật phát triển thể
thao. Người ta sử dụng chúng để giải quyết các nhiệm vụ giảng dạy đáp ứng nhu
cầu nâng cao thể lực và phát triển tinh thần của con người [39].
Bài tập thể lực là bài tập được tạo thành từ những động tác cụ thể chuyên
dùng để phát triển thể chất, vui chơi, giải trí hoặc nâng cao trình độ thể thao
18

dục thể chất (bài tập thể chất) để phát triển các tố chất vận động (sức nhanh, sức
mạnh, sức bền ...)
19


20

- Bài tập thể lực chuyên môn là quá trình tập luyện có và không có dụng
cụ, được tiến hành chặt chẽ với đặc điểm kỹ thuật chuyên môn của Taekwondo.
Huấn luyện Taekwondo không chỉ là một quá trình diễn ra trong từng giai
đoạn, từng năm mà còn diễn ra hàng ngày. Mỗi ngày, vận động viên không chỉ
thực hiện một bài tập mà phải sử dụng kết hợp nhiều bài tập. Trong từng thời kỳ
khác nhau, tính chất và yêu cầu bài tập cũng thay đổi và mang ý nghĩa khác
nhau.
Các bài tập phát triển thể lực chung nhằm chuẩn bị toàn diện cho vận
động viên, và là cơ sở cho việc phát triển thể lực chuyên môn. Trong các bài tập
huấn luyện thể lực chung, có thể có những bài tập trùng hợp hoặc không trùng
hợp với bài tập thể lực chuyên môn. Về lý thuyết, phạm vi này không có giới
hạn. Nhưng trong thực tế, nó lại bị giới hạn bởi sự hao phí thời gian, các điều
kiện dụng cụ, cơ sở tập luyện và các yếu tố khác.
Khi lựa chọn các bài tập huấn luyện thể lực chung cho vận động viên
Taekwondo, cần chú ý:
- Phải sử dụng các phương tiện giáo dục các tố chất thể lực một cách toàn
diện.
- Quá trình huấn luyện thể lực chung cho vận động viên phải phản ánh
được đặc điểm của các tố chất thể lực đặc thù trong Taekwondo. Các phương
tiện huấn luyện thể lực chung cần phải gắn chặt với yêu cầu về tố chất thể lực
chuyên môn.
Bài tập phát triển thể lực chung gián tiếp: Là các bài tập tác động trực tiếp
vào quá trình hoàn thiện các tố chất vận động.

gọi là Subakhi, được tập luyện không chỉ được xem như là một kỹ năng để tăng
cường sức khỏe mà nó còn được khuyến khích tập luyện như một môn võ thuật.
Theo định nghĩa của Bách khoa toàn thư mở : Taekwondo là môn thể thao của
quốc gia Triều Tiên và là loại hình võ đạo (Mudo) được tập luyện nhiều nhất của
nước này. Trong tiếng Triều Tiên, Tae có nghĩa là "đá bằng chân"; Kwon có
nghĩa là "đấm bằng tay"; Do có nghĩa là "con đường" hay "nghệ thuật" vì vậy,
Taekwondo có nghĩa là "Cách thức hay Nghệ thuật đấu võ bằng tay và chân".
[42]
21


22

Hiện nay Taekwondo có khoảng trên 50 triệu người tập luyện với hơn
200 quốc gia là thành viên của Liên đoàn Taekwondo Thế giới (WTF), được Ủy
ban Olympic Quốc tế (IOC) công nhận là môn thể thao thi đấu quốc tế tại Đại
hội thứ 83 năm 1980 và trở thành môn thi đấu chính thức tại Thế vận hội
Olympic từ năm 2000 đến nay.
Trong thi đấu Taekwondo sử dụng bàn chân, cẳng chân bằng những kỹ
thuật đá điêu luyện, mạnh mẽ, đồng thời sử dụng kỹ thuật đấm bằng tay để ghi
điểm. Để phân biệt hình thức thi đấu đặc thù của môn võ Taekwondo, các kỹ
thuật ghi điểm bằng chân được tính điểm cao hơn các kỹ thuật ghi điểm bằng tay
(đá vào phần thân người được tính 02 điểm; đá xoay người vào vùng thân người
được tính 03 điểm; đá vào phần đầu được tính 03 điểm; đá xoay người vào vùng
đầu được tính 04 điểm; đấm vào phần thân người được tính 01 điểm; nghiêm
cấm đấm vào vùng đầu đối phương) nên các kỹ thuật ghi điểm bằng tay ít được
quan tâm trong các chương trình huấn luyện nâng cao. Tuy nhiên, các kỹ thuật
đỡ, gạt bằng tay nhằm hạn chế hiệu quả của các kỹ thuật đá bằng chân, luôn
được các HLV đề cập thường xuyên trong huấn luyện và tại những thời điểm
quan trọng như: cuối hiệp đấu, cuối trận đấu hay thi đấu luật Bàn thắng vàng, thì

Judo
Cao
Cao
Trung bình
Cao
Karate
Cao
Cao
Cao
Trung bình
Aikido
Thấp
Thấp
Trung bình Trung bình
Kung fu
Cao
Cao
Cao
Trung bình
Muay Thai
Cao
Trung bình Trung bình Trung bình
Jujitsu
Thấp
Thấp
Trung bình Trung bình
Bảng 1.1 Các yêu cầu thể lực ở một số môn võ thuật.

Công suất
(sức mạnh

24

Công suất cơ là một tố chất thể lực cần thiết để tối ưu hóa thành tích
trong các môn võ thuật. Sự chuyển động của cơ thể có thể thực hiện với tốc độ
khác nhau. Nói cách khác, cơ có thể co với các tốc độ nhanh hay chậm khác
nhau. Trong hoạt động thi đấu Taekwondo, hầu hết các chuyển động trong tấn
công và phòng thủ, phản công đều yêu cầu thực hiện với tốc độ bột phát của các
nhóm cơ. Do đó, yêu cầu phát triển công suất – sức mạnh tốc độ của cơ bắp là
rất quan trọng.
Công suất cơ là khả năng một hay một nhóm cơ phát lực lớn nhất trong
một thời gian ngắn nhất. Việc phát triển công suất có thể thực hiện bằng việc cải
thiện 2 yếu tố cấu thành là lực sức mạnh và tốc độ co cơ. Thí dụ, một cú đá
ngang trong Taekwondo sẽ hiệu quả hơn khi VĐV có thể thực hiện trong 0,03
giây (từ lúc bắt đầu đến kết thúc cú đá) thay vì 0,05 giây. Yếu tố thứ hai của phát
triển công suất cơ là cải thiện lực cơ, sức mạnh cơ. Kết quả phát triển công suất
cơ tốt nhất khi cả hai yếu tố lực và tốc độ được phát triển. Trở lại thí dụ trên,
hiệu quả của cú đá trong thi đấu sẽ đạt cao nhất khi cả tốc độ và lực đá được
nâng lên đến mức tối đa.
1.2.2.3. Sức bền cơ ( Muscular endurance )
Là khả năng một hay nhiều sợi cơ co lặp đi lặp lại nhiều lần trong một
thời gian kéo dài. Trong thực tế thi đấu ở môn Taekwondo, đòi hỏi VĐV phải
thực hiện các động tác nhiều lần trong từng hiệp, từng trận… với thời gian nghỉ
giữa rất ngắn hay không có thời gian nghỉ giữa các lần co cơ.
Việc phát triển sức bền cơ sẽ làm cơ bắp lâu mệt mỏi hơn, duy trì mức
độ thể lực cao trong suốt hiệp, trận và giải đấu.
Cụ thể hơn, Bompa (2002) đã tổng kết và phân chia sức bền cơ hay sức
mạnh bền ra làm các loại sau: [1]
- Sức mạnh bền trong thời gian ngắn: đề cập đến sức mạnh bền cần thiết
cho các môn thể thao thi đấu thời gian ngắn (40 giây đến 2 phút).


thể với tốc độ cao nhất. Hoạt động của môn Taekwondo đòi hỏi VĐV phải có
khả năng linh hoạt cao. Thí dụ: các hoạt động di chuyển của chân, thân mình
trong lúc chuẩn bị tấn công, phòng thủ, phản công). [15], [16], [52]
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status