SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LANG CHÁNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO THÔNG
QUA HĐNGLL ĐỂ HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC TIẾNG
VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 6 BẰNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
Người thực hiện: Hoàng Thị Thoa
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường PTDTBT THCS Giao Thiện
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2019
MỤC LỤC
STT
Nội dung
Trang
1
1. Mở đầu
1
2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề
2-4
8
2.1.1. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
2-3
9
2.1.2. Sơ đồ tư duy
3-4
10
2. 2.Thực trạng vấn đề
4-5
11
2.2.1. Thực trạng dạy, học văn ở trường THCS
12
2.2.2. Thực trạng dạy, học Văn ở khối lớp 6 của trường
PTDTBT THCS Giao Thiện
3. Kết luận, kiến nghị
19 - 20
18
3.1. Kết luận
19
3. 2. Kiến nghị
1- 2
4
19
19 - 20
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta biết rằng, hiện nay các trường đang tổ chức thực hiện học tập
dưới dạng hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Đây được coi là chìa khóa thực hiện
việc học đi đôi với hành, học qua loa, học để giải quyết các vấn đề thực tiễn
trong cuộc sống ngay trong lớp, trong trường. Đồng thời, đây cũng được coi là
phương pháp thực sự ưu việt cho sự phát triển năng lực sáng tạo, giúp các em tự
chiếm lĩnh kiến thức, hình thành các kĩ năng, giá trị và phẩm chất của bản thân.
Hầu hết học sinh khi học tập dưới dạng này đều tỏ ra thích thú, hứng khởi. Rất
quyết vấn đề và ra quyết định dựa trên những tri thức và ý tưởng mới thu được
từ trải nghiệm. Hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm bao gồm: Hình thức có
tính khám phá (thực địa - thực tế, tham quan, cắm trại, trò chơi...); hình thức có
tính thể nghiệm tương tác (diễn đàn, giao lưu, hội thảo, sân khấu hóa...); hình
thức có tính cống hiến (thực hành lao động, hoạt động tình nguyện, nhân đạo...);
hình thức có tính nghiên cứu (dự án và nghiên cứu khoa học, hoạt động theo
nhóm sở thích). 2.1.2. Sơ đồ tư duy
- Khái niệm sơ đồ tư duy:
Để học sinh có thể tiếp cận với hình thức học theo sơ đồ tư duy, giáo viên
trước hết phải giúp các em hiểu được sơ đồ tư duy là gì? Vì sao ta nên học theo
sơ đồ tư duy? Đặc biệt, hình thành ngay từ lớp đầu cấp (lớp 6) làm nền móng để
tiếp tục duy trì ở các lớp tiếp theo.
Sơ đồ tư duy hay bản đồ tư duy (Mind Map) là một phương pháp học tập hiệu
quả, tích cực, hiện đại và nhiều lí thú nếu bạn biết làm chủ nó. Tony Buzan sinh
năm 1942, Anh, chuyên gia hàng đầu thế giới về nghiên cứu hoạt động của bộ
não và là cha đẻ của Mind Map.
Sơ đồ tư duy hay bản đồ tư duy (Mind Map) là hình thức ghi chép sử dụng
màu sắc, hình ảnh nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý
chính của một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề. Nó là một công cụ tổ chức tư
duy được tác giả Tony Buzan nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ biến rộng khắp thế
giới.
Phương pháp tư duy của ông được dạy và sử dụng ở khoảng 500 tập đoàn,
công ty hàng đầu thế giới; hơn 250 triệu người sử dụng phương pháp Mind Map
của Tony Buzan; khoảng hơn 3 tỷ người đã từng xem và nghe chương trình của
ông. Ông đã từng sang Việt Nam năm 2007 để nói chuyện về lĩnh vực nghiên
cứu của mình.
- Nguyên lý hoạt động của sơ đồ tư duy
Nguyên lý hoạt động của sơ đồ tư duy theo nguyên tắc liên tưởng “ý này gợi
ý kia” của bộ não. Các bạn có thể tạo một sơ đồ tư duy ở dạng đơn giản theo
nguyên tắc phát triển ý: từ một chủ đề tạo ra nhiều nhánh lớn, từ mỗi nhánh lớn
lời văn hết sức lủng củng, thiếu logic. Đặc biệt, có những bài văn diễn đạt ngô
nghê, tối nghĩa,...Đây là một tình trạng đã trở nên phổ biến và thậm chí là đáng
báo động trong xã hội ta.
Không chỉ có vậy, chính ''bệnh thành tích trong giáo dục'' là một con sâu đục
thân làm cho lỗ hổng kiến thức ở học sinh, nhất là ở môn Ngữ văn thì càng lớn.
Tư tưởng đang tồn tại ở một số giáo viên và học sinh là học vì thành tích, học vì
điểm số chứ không học vì kiến thức. Chính vì thế mà có nhiều em học sinh khi
học xong lớp 9 đạt học sinh xuất sắc nhưng hỏi lại kiến thức đã học thì không
nhớ gì, thậm chí để viết một đoạn văn, tạo lập một văn bản thì rất khó khăn và
sai nhiều lỗi diễn đạt, lỗi chính tả, dùng từ đặt câu.
Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người toàn diện, nhưng thực tế hiện nay
cho thấy, các bộ môn Khoa học Xã hội thường bị học sinh xem nhẹ. Mặc dù,
kiến thức của các bộ môn này vô cùng quan trọng cho tất cả mọi người. Muốn
khôi phục sự quan tâm của xã hội đối với các bộ môn Khoa học Xã hội, không
thể chỉ bằng biện pháp kêu gọi mà chúng ta phải tích cực đổi mới phương pháp
dạy học Văn, khơi gợi lại hứng thú học Văn của học sinh, hình thành cho các em
phương pháp học Văn hiệu quả nhất. Đặc biệt là tạo cho các em sự hứng khởi,
vừa học vừa chơi, học lý thuyết kết hợp thực hành, giúp các em đỡ nhàm chán,
phát huy năng lực sáng tạo, tự chủ, tích cực, đoàn kết trong học tập bộ môn; loại
bỏ tâm lý học đối phó, học vì thành tích trước mắt.
2.2.2. Thực trạng dạy, học Văn ở khối lớp 6 của trường PTDTBT THCS Giao
Thiện, huyện Lang Chánh
Đối với học sinh lớp 6, các em vừa bước vào một môi trường học tập mới với
trường mới, thầy mới, bạn mới và cả kiến thức mới, phương pháp mới. Chính vì
vậy, tạo được cho các em một tâm thế học tập ổn định, một cách học phù hợp là
điều không dễ dàng. Điều đó đòi hỏi rất cao ở người giáo viên, đặc biệt là giáo
viên dạy Văn. Với đối tượng học sinh lớp 6 ở các trường trung tâm thì việc tiếp
cận và hòa nhập môi trường mới có thể dễ dàng hơn nhưng với các em học sinh
lớp 6 ở trường PTDTBT THCS Giao Thiện, huyện Lang Chánh tôi đang dạy
hiện tại thì có lẽ là phải cả một thời gian dài.
Số học sinh Rất thích
Thích
thường
thích
7
50
5/50
10/50
20/50
15/50
Kết quả nội dung điều tra thứ hai: Điều tra sự hứng thú học phân môn Tiếng
Việt.
Bình
Không
Khối
Số học sinh Rất thích
Thích
thường
thích
7
50
4/50
10/50
20/50
16/50
Kết quả nội dung điều tra thứ ba: Điều tra việc nắm kiến thức Tiếng Việt lớp 6.
Nắm chắc
Không nắm
Khối
Số học sinh
cho các em bằng việc thiết lập hệ thống sơ đồ tư duy. Với hệ thống sơ đồ tư duy
này, các em có thể vận dụng đến lớp 9 khi học tiết 43,44,49,53,59 "Tổng kết về
từ vựng" (SGK Ngữ văn lớp 9, tập 1) và tiết 147,148, 155: "Tổng kết về ngữ
pháp" (SGK Ngữ văn lớp 9, tập 2). Đặc biệt là có thể trở thành một phần trong
hành trang khi học môn Ngữ văn.
2.3. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
2.3.1. Hệ thống hóa kiến thức cho học sinh lớp 6 bằng sơ đồ tư duy
Trong phần này, tôi đưa ra hệ thống sơ đồ tư duy từ rộng đến hẹp, các em có
thể nắm kiến thức Tiếng Việt của lớp 6 lần lượt theo từng sơ đồ. Trong quá trình
ôn tập, các em có thể vận dụng một cách linh hoạt, tùy theo khả năng nắm bắt
của từng em.
Sơ đồ I:
Từ
Cụm từ
TIẾNG VIỆT LỚP 6
Dấu câu
Câu
6
Sơ đồ 1:
Nghĩa của từ, từ nhiều
nghĩa và hiện tượng
chuyển nghĩa của từ
Cách giải
thích
NGHĨA CỦA TỪ, TỪ NHIỀU NGHĨA,
HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA
Từ nhiều nghĩa và
hiện tượng chuyển
nghĩa của từ
Nghĩa gốc
Nghĩa
chuyển
7
Sơ đồ 1.2:
Danh từ
Động từ
Phó từ
TỪ LOẠI
Tính từ
Chỉ từ
Danh từ
sự vật
Đơn vị
quy ước
Ước
chừng
Danh từ
chung
Danh từ
riêng
8
Sơ đồ 1.2.2:
Là những từ chỉ
hoạt động, trạng
thái..
Khả năng kết hợp:
thường kết hợp với
các từ đã, sẽ, đang,
Định nghĩa
Đặc điểm
ĐỘNG TỪ
Phân loại
Tính từ chỉ đặc
điểm tương đối
Chức vụ điển hình: làm
vị ngữ (hạn chế hơn
động từ)
Tính từ chỉ đặc
điểm tuyệt đối
9
Sơ đồ 1.2.4
Là những từ chỉ
số lượng và thứ
tự
Định nghĩa
SỐ TỪ
Phân loại
Số từ chỉ số
lượng
Số từ chỉ thứ tự
Sơ đồ 1.2.5:
ngữ hoặc chủ ngữ
Sơ đồ 1.2.7
Là những từ chuyên đi
kèm động từ, tính từ để
bổ sung ý nghĩa
Định nghĩa
PHÓ TỪ
Phân loại
Đứng trước động từ, tính từ
Thờ
i
gia
n
Sự
tiếp
diễn
tươn
g tự
Mứ
c độ
Phủ
định
Từ
ghé
p
đẳn
Từ
ghé
p
chín
Từ láy
Láy
bộ
phậ
n
Láy
toà
n
bộ
Sơ đồ 1.4:
TỪ PHÂN LOẠI THEO NGUỒN GỐC
Từ Thuần Việt
Từ mượn của tiếng Hán
tương đồng
nhằm tăng
sức gợi hình,
gợi cảm
Định
nghĩa
Định
nghĩ
Vế A
Dùng
những
từ vốn
gọi
người
để gọi
vật
Nhân
hóa
Dùng
những từ
chỉ hoạt
động, tính
chất của
người để
u
Ẩn
dụ
BIỆN PHÁP TU TỪ
Hình thức
Cách thức
Vế B
Ngang
bằng
Phân
loại
Không
ngang
bằng
Định
nghĩ
Là gọi tên sự
vật, hiện
tượng, khái
niệm bằng tên
sự vật, hiện
để
gọi
sự vật
Phân
loại
Phẩm chất
Chuyển đổi cảm giác
Lấy
cái cụ
thể
gọi
cái
trừu
tượng
13
Sơ đồ 1.6
LỖI DÙNG TỪ
Lặp từ
Lẫn lộn
các từ
gần âm
Phần
sau
( đặc
điểm,
vị trí)
Cấu tạo
Định
nghĩa
Cụm danh từ
Cụ
m
tính
từ
CỤM TỪ
Cụm động từ
Định nghĩa
Là tổ
hợp
của
động
từ và
Sơmột
đồ số
3:
(động
từ)
Phần
sau
( đối
tượng,
hướng,
thời
gian,
nguyên
Phần sau
(vị trí, so sánh, mức
độ, phạm vi, nguyên
nhân,..)
14
Câu miêu tả
Câu trần thuật
đơn có từ là
Câu tồn tại
Câu trần thuật
đơn không có từ
thiếu
cả
chủ
ngữ
lẫn vị
ngữ
Câu
sai về
quan
hệ ngữ
nghĩa
giữa
các
thành
phần
15
Sơ đồ 4:
DẤU CÂU
Dấu kết thúc câu
Dấu
chấm
Dấu
Làm việc theo nhóm từ 4-10 người (Tôi sẽ giao bài về nhà cho 4 nhóm. Nhóm
1 sơ đồ phức tạp hơn nên tôi sẽ giao cho khoảng 8-10 em; nhóm 2,3,4 mỗi nhóm
khoảng 4- 6 em. Những học sinh ở gần nhà nhau thì phân công ở cùng nhóm).
E. Các hoạt động thực hiện chủ đề:
a. HĐ 1: Tìm kiếm và xử lý thông tin
- Thông tin từ sách giáo khoa:
Cá nhân sử dụng SGK Ngữ văn lớp 6 để xem lại các kiến thức đã học ở phân
môn Tiếng Việt lớp 6 từ đầu năm.
- Thông tin từ các nguồn khác:
Nhóm trưởng phân công các thành viên sử dụng các cụm từ khóa: "Sơ đồ tư
duy môn Tiếng Việt lớp 6", "Kĩ năng học tốt các tiết ôn tập Tiếng Việt", "Ôn tập
Tiếng Việt lớp 6 theo sơ đồ tư duy"...để tìm những bài viết hoặc những kiến thức
có liên quan đến việc tạo lập sơ đồ tư duy.
b. HĐ 2: Xử lý thông tin
16
- Bước 1: Từng thành viên báo cáo kết quả tìm kiếm thông tin.
- Bước 2: Nhóm thống nhất tổng hợp, khái quát thông tin đã tìm kiếm được để
xây dựng hệ thống sơ đồ tư duy cần nhớ khi ôn tập Tiếng Việt lớp 6.
(Ở bước này, tôi sẽ đưa ra hệ thống sơ đồ tư duy mình đã xây dựng ở mục 3 để
các em tham khảo).
- Bước 3: Giao nhiệm vụ cho các nhóm cụ thể một sơ đồ (4 nhóm tương ứng
với 4 sơ đồ lớn cũng là 4 nội dung kiến thức khái quát nhất mà tôi đã đưa ra ở sơ
đồ I).
c. HĐ 3: Xây dựng ý tưởng cho việc hình thành hệ thống sơ đồ tư duy
- Bước 1: Mỗi cá nhân trình bày và giải thích cho ý tưởng xây dựng của mình.
Ý tưởng nên được chuẩn bị cụ thể trên giấy A4 (có thể là một hình ngôi sao,
hình bông hoa hay hình một cái cây....)
- Bước 2: Cả nhóm trao đổi, thảo luận, thống nhất ý tưởng, xây dựng sơ đồ.
Mức độ
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Sau quá trình nghiên cứu và triển khai thực hiện ở lớp 6 năm học 2017- 2018
mà tôi đã dạy ở trường PTDTBT THCS Giao Thiện, bản thân tôi nhận thấy:
- Học sinh thực sự là chủ thể trên lớp.
17
- Tạo được tính chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Tạo được sự hứng thú và yêu thích học tập bộ môn.
- Giúp học sinh ôn tập nhanh và nhớ lâu kiến thức.
- Kiến thức sau một lớp được nắm bắt một cách hệ thống.
- Các em có thể sử dụng hệ thống sơ đồ tư duy này trong nhiều năm.
- Đối tượng học sinh trung bình và yếu kém cũng có thể nắm bắt được kiến thức
cơ bản.
- Đây là một giải pháp mới, dễ sử dụng và hiệu quả cao.
- Thời gian chuẩn bị cho sản phẩm khoảng 2, 3 tuần. Sau đó, các em sẽ báo cáo
sản phẩm trước lớp. Hầu hết các em đều rất hứng thú khi giao việc.
Khi thực hiện, bản thân tôi cảm thấy rất bất ngờ về kết quả thu được. Đa số
các em đều hào hứng, phấn khởi, đón đợi đến buổi học để được trình bày, thể
hiện. Nhiều em bộc lộ rõ năng khiếu của mình như khả năng tư duy, hội họa,
thiết kế...Ngay cả một số em cá biệt rất lười học nhưng khi các em tham gia các
hoạt động trải nghiệm sáng tạo gắn với xây dựng hệ thống sơ đồ tư duy thì các
em lại rất nhiệt tình.
Đó là điều mà giáo viên chúng tôi rất mừng. Khi học theo hình thức này sẽ
giúp các em tiếp cận kiến thức một cách dễ dàng, chủ động, tích cực, sáng tạo,
tiếp cận và phát triển năng lực của các em. Đồng thời, giúp cho các em lớp 6 ở
vùng sâu, vùng xa như học sinh trường PTDTBT THCS Giao Thiện có điều kiện
tham gia hoạt động chung, mạnh dạn phát biểu trước lớp. Các em tự tin hơn, hòa
nhập dễ dàng hơn.
17/47
3/47
Kết quả nội dung điều tra thứ ba: Điều tra việc nắm kiến thức Tiếng Việt lớp 6.
Nắm chắc
Không nắm
Khối
Số học sinh
Nắm lơ mơ
kiến thức
được gì
7
47
16/47
26/47
5/47
Những kết quả trên đây là động lực để tôi tiếp tục trau dồi, học hỏi về chuyên
môn nghiệp vụ, không ngừng đổi mới để tìm ra nhiều phương pháp hay hơn,
đem đến cho học sinh những giờ học thú vị bổ ích. Những giờ học đó không chỉ
đem đến cho các em tri thức khoa học mà còn dạy các em những kĩ năng, năng
lực, những cách ứng xử nhân văn trong cuộc sống. Là chìa khóa để các em có
18
thể mở toang cánh cửa tri thức khi học Ngữ văn, trong đó có phân môn Tiếng
Việt.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Ngữ văn nói chung và phân môn tiếng Việt nói riêng là môn học có vai trò
rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người. Đồng
giáo viên chúng ta cần nghiên cứu các hình thức trải nghiệm sáng tạo, xây dựng
các hoạt động học tập trải nghiệm cho học sinh phù hợp với tâm lý lứa tuổi...để
các em thực sự phát triển năng lực, hứng thú khi học tập bộ môn mà mình giảng
dạy.
3.2.Kiến nghị
- Đây là đề tài về phân môn Tiếng Việt, từ đề tài này chúng ta hãy suy ngẫm
trao đổi với nhau về phương pháp dạy học sinh để các em đến với các tiết Tiếng
Việt cũng như đến với môn Ngữ văn thật sự là một niềm đam mê, một sự hứng
thú …., và để các em thấy rằng Tiếng Việt không khô khan, khó nhớ.
19
- Cần quan tâm và đầu tư nhiều hơn nữa về phương pháp, phương tiện, thiết
bị, kinh phí…trong quá trình giảng dạy. Các tiết học bằng hình thức trải nghiệm
sáng tạo gắn với xây dựng sơ đồ tư duy nên sử dụng máy chiếu, giấy Ao, giấy
màu, bút màu... để học sinh tiện theo dõi.
- Nên tổ chức thường xuyên các buổi sinh hoạt chuyên đề, buổi nói chuyện,
báo cáo hoặc thi viết sáng kiến kinh nghiệm về những phương pháp dạy học hay,
đạt hiệu quả để giáo viên có cơ hội giao lưu, học hỏi, rút kinh nghiệm.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Lang Chánh, ngày 20 tháng 04 năm
2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Hoàng Thị Thoa
20