Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng bệnh khe hở môi vòm miệng ở trẻ đến khám và điều trị tại bệnh viện răng hàm mặt trung ương hà nội và hiệu quả can thiệp (2019 2021) - Pdf 57

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khe hở môi (KHM) và khe hở vòm miệng (KHVM) là những loại dị tật
bẩm sinh rất phổ biến vùng hàm mặt. Thống kê trên thế giới cũng như ở Việt
Nam tỷ lệ này thay đổi trong khoảng 1/700 - 1/1000, tùy theo vùng địa lý và dân
tộc [1], [2], [3], [4]. Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới năm 2000, trong
khoảng 2 phút sẽ có một trẻ sinh ra bị dị tật khe hở môi hoặc khe hở vòm miệng
[5]. Nghiên cứu của tác giả James A.O. năm 2009 tại Mỹ trong 3.989.527 trẻ sơ
sinh, tỷ lệ trẻ bị KHM là 0,09% [6]. Ở Việt Nam, tình hình trẻ em bị KHM,
KHVM chiếm tỷ lệ 0,1 - 0,2% trẻ sơ sinh [7]. Theo Lâm Hoài Phương, cho biết
ước tính mỗi năm có khoảng 3.000 trẻ em sinh ra bị khe hở môi, hở vòm
miệng (trung bình cứ 500 em mới sinh thì có 1 em mắc).
Nếu không được điều trị sớm và đúng cách thì dị tật này sẽ ảnh hưởng
rất lớn lên sự phát triển về thể chất, cũng như tinh thần của trẻ, chưa kể đến sự
suy sụp của cha mẹ và gia đình trẻ, vì thế ảnh hưởng chung đến sự phát triển
của xã hội. Để việc điều trị có hiệu quả cho trẻ mắc khe hở môi vòm miệng
(KHMVM) đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ không chỉ của một chuyên khoa mà là
phối hợp của nhiều khoa, ngành (bác sỹ chẩn đoán hình ảnh, bác sỹ sản khoa
bác sỹ phẫu thuật hàm mặt, bác sỹ nhi khoa, bác sỹ dinh dưỡng, bác sỹ tai
mũi họng, KTV điều trị phát âm, nha sĩ, bác sỹ chỉnh nha, bác sỹ tâm lý…).
Ngoài ra không thể thiếu được sự hợp tác chặt chẽ từ phía gia đình bệnh nhân.
Việc điều trị toàn diện cho trẻ có khe hở môi vòm miệng hiện nay còn
chưa hợp lý. Các nhà phẫu thuật hiện nay đang đi sâu vào việc tạo hình lại các
khe hở môi và vòm miệng cho trẻ mà quên đi cần có sự hợp tác của các nhà
khoa học khác nhàm giúp trẻ tái hòa nhập cộng đồng, như việc trẻ phát âm
cũng như từng bước hòa đồng vào các hoạt động của trẻ cùng trang lứa.


2

3

1.1. Khe hở môi vòm miệng là gì?
Khe hở môi vòm miệng là một dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt.
Hở môi là trạng thái mà các khe hở bộ phận của môi trong quá trình phát
triển bào thai không kết dính lại với nhau (hay không mất đi) cho đến khi trẻ
được sinh ra.
Hở vòm miệng là trạng thái cho đến khi trẻ được sinh ra các điểm lồi
vòm miệng không kết dính lại với nhau.
Do đó, bất cứ đứa trẻ nào cũng có khả năng bị dị tật khe hở môi vòm
miệng [16].

Hình 1.1.
1.2. Nguyên nhân khe hở môi vòm miệng
Hiện tại, người ta chưa xác định rõ được nguyên nhân sâu xa gây ra tình
trạng khe hở môi vòm miệng. Nhưng nhận thấy có những yếu tố gây bệnh
thường gặp. Và chia khe hở môi vòm miệng thành hai nhóm lớn:
KHMVM trong hội chứng và KHMVM không trong hội chứng [3].
- KHMVM trong hội chứng: nguyên nhân di truyền, tuổi mẹ...
- KHMVM không trong hội chứng: đa nguyên nhân.
+ Liên quan đến nhiều gen (cao huyết áp, đái tháo đường ....)
+ Liên quan đến yếu tố môi trường (rượu, thuốc lá, thuốc ...)


4

+ Acid folic: tác dụng phòng ngừa.
+ Sử dụng vitaminA liều cao.
+ Yếu tố vật lý: phóng xạ, tia X ....
+ Yếu tố hóa học: thuốc trừ sâu, asen, chất độc hại....

- Nụ hàm trên: hình thành nên môi trên và phần trên của má.
- Nụ hàm dưới: hình thành nên môi dưới, cằm và phần dưới của má.
1.3.2. Phôi thai học quá trình thành vòm miệng thứ phát [7]
Sau lỗ mũi tiên phát, một nụ từ vùng giữa của trần hốc miệng và từ
thành sau của vách ngăn mũi tiên phát sẽ phát triển để hình thành vách ngăn
mũi thứ phát.
Hai nụ ngang trước gọi là nụ khẩu cái.
Hai nụ ngang sau là nụ chân bướm hàm.
Những nụ này dính với nhau ở đường giữa theo thứ tự từ trước ra sau,
sau đó quá trình trung bì hoá để hình thành vòm miệng thứ phát.
1.4. Cơ chế hình thành khe hở môi - vòm miệng
Để giải thích cơ chế bệnh sinh KHM-VM, người ta dùng thuyết nụ mầm
của Rathke (1832), Dursy (1869), và His (1888). Về sau các tác giả Victor Veau
(1930), Fleishman (1915), Politzer (1935) bổ sung thêm thuyết tường chìm.
1.4.1. Thuyết "Nụ mầm": giải thích quá trình hình thành môi và vòm miệng
do các nụ mặt giáp dính với nhau. Dưới tác động của các yếu tố ngoại lai hoặc
nội tại làm cho quá trình trung bì hóa không xảy ra giữa các nụ mặt nên chúng
không giáp dính với nhau sẽ tạo thành các khe hở [7], [14].
* Khe hở môi
Vào tuần lễ thứ 3 của bào thai, khi bào thai to 10mm, ở cung mang I vì
khối não và tim phát triển nhanh, giữa hai khối đó xuất hiện một chỗ lõm gọi
là hốc miệng nguyên thủy. Ở quanh hốc miệng nguyên thủy xuất hiện 5 nụ gọi


6

là những nụ mặt gồm 1 nụ trán ở trên, 2 hàm trên ở hai bên và 2 nụ hàm dưới
ở phía dưới.
Sau đó nụ trán chia làm hai nụ gọi là nụ mũi phải và nụ mũi trái, mỗi
nụ mũi phải và trái lại chia thành hai nụ mũi trong và mũi ngoài cách nhau

phải hay bên trái không dính với nhau, có thể một phần hoặc toàn bộ.
1.4.2. Thuyết tường chìm [7]
Theo nhóm tác giả Gian Todury, Vic tor Veau (1930), Fleishman (1915),
Politzer (1935).
Môi trên không phải được tạo bởi các nụ mặt, mà ở mồi bên ổ miệng và
hố mũi nguyên thủy có bức tường dựng đứng của tổ chức ngoại bì. Chính bức
tường này vào tuần lễ thứ 3 của bào thai bị chọc thủng bởi tổ chức trung bì
hình thành hàm ếch tiên phát.
Tổ chức trung bì này có ba nguồn: hai nguồn bên và một nguồn giữa chân
vách ngăn dưới, chính nó tạo ra mấu hàm trước. Sự phát triển không đầy đủ của
tổ chức trung bì này sẽ phát sinh khe hở môi khép và khe hở môi một bên.
Đó là sự tạo thành bình thường của vùng hàm mặt. Nếu vì một lý do nào
đó quá trình này bị rối loạn sẽ hình thành các khe hở vùng hàm mặt.
- Hai nụ hàm trên không dính với nụ mũi trong sẽ hình thành khe hở môi
một bên hoặc khe hở môi khép.
- Nụ hàm trên và nụ hàm dưới không dính với nhau sẽ sinh ra khe hở
ngang mặt.


8

- Nụ hàm trên và nụ mũi ngoài không dính với nhau sẽ sinh ra khe hở
mặt chéo.
- Hai nụ hàm dưới không dính với nhau sẽ sinh ra khe hở môi dưới.
- Hai nụ ngang trước (nụ khẩu cái) không gắn với nhau sẽ sinh ra khe hở
vòm miệng cứng.
- Hai nụ ngang sau (nụ chân bướm khẩu cái) không gắn với nhau sẽ sinh
ra khe hở vòm miệng mềm.
Lưu ý:
- Có thể có khe hở môi mà không có khe hở cung hàm, nhưng không thể

+

Độ II: Khe hở tới ½ da môi, cơ vòng môi không bị chia hoàn
toàn, cánh mũi không hoặc biến dạng rất ít, cung hàm bình thường.

+

Độ III: Khe hở đến nền mũi, thường gọi là KHM toàn bộ, cánh
mũi biến dạng, cung hàm không bị ảnh hưởng.

Khe hở cung hàm:
+

Độ I: Có vết hằn ở cung răng cửa hàm trên

+

Độ II: Có khe hở vùng ổ răng

+

Độ III: Khe hở đến lỗ răng cửa

Khe hở thứ phát.
Khe hở vòm miệng mềm.
+

Độ I: Khe hở lưỡi gà.

+

- 3 và 6 tương ứng với cung hàm trước lỗ răng cửa.
- 7 và 8 tương ứng với vòm miệng cứng.
- 9 tương ứng với vòm miệng mềm.
Trên cơ sở sơ đồ chữ Y của Kernahan, Millard (1977) đã đưa ra sơ đồ
hình chữ Y cải tiến, sơ đồ này mô tả thêm về những ảnh hưởng của khe hở
môi lên nền mũi và cánh mũi.

Hình 1.5: Sơ đồ chữ Y cải tiến của Millard [7]


11

1.6. Dịch tễ học của khe hở môi vòm miệng.
Những dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt, chủ yếu là những khe hở ở vùng
mặt, gây biến dạng mặt làm tổn thương đến tâm lý, thẩm mỹ và chức năng,
chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại dị tật chung của cơ thể (khoảng 10%) [7].
Theo Das (1995), Shaw (1991): đứa bé trai bị khe hở môi có hay không
có khe hở vòm miệng nhiều hơn bé gái, trong khi bé gái có nguy cơ cao bị
khe hở vòm miệng đơn thuần [14],[17].
Ở Đức, từ 1925-1958, thống kê toàn thể trẻ sơ sinh thì dị tật chung (ở
chân, tay, thần kinh, tim, mạch máu lớn và hàm mặt) chiếm 0,6 - 2%, trong đó
1/10 là khe hở bẩm sinh hàm mặt. Ở Tiệp Khắc, cứ 200 trẻ sơ sinh, có 1 trẻ dị
tật bẩm sinh chung (theo Burian).


12

Nói chung, trên thế giới cứ 1000 cháu mới sinh, thì có 1 cháu có dị tật
bẩm sinh vùng hàm mặt (tỷ lệ 0,1%). Tỷ lệ này có khác nhau ở mỗi nước và ở
các thời điểm khác nhau:

nghiệm của cha mẹ và toàn xã hội đối với việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ có
khe hở môi vòm miệng. Theo Barbro Johansson và Karin C. Ringsberg (2003)
cha mẹ hầu hết là lo lắng, không coi con là người khuyết tật nhưng luôn chú ý
đến dị tật cũng như sự khiếm khuyết của con trẻ. Việc giáo dục truyền thông
cho các nhân viên y tế để thúc đẩy sự hiểu biết của cha mẹ là cách tốt nhất để
giúp đỡ họ. Đặc biệt có thể làm các chương trình giáo dục lớn qua thông tin
đại chúng giúp xã hội có cái nhìn mới về vấn đề này. Ngoài ra cần có các
nghiên cứu mới về nhận thức của chính các nhân viên y tế đối với việc chăm
sóc nuôi dưỡng cho trẻ có khe hở môi vòm miệng.
Theo Goyal A, Jena AK, và Kaur M nghiên cứu trên 155 cha mẹ có trẻ
KHMVM tại Ấn Độ năm 2012 cho thấy việc cho trẻ ăn bằng thìa là phổ biến
nhất chiếm 57,74% đối với các trẻ dưới 6 tháng. Với trẻ từ 6 tháng đến 1 tuổi
tỷ lệ này lên đến 71,42%. Cách cho trẻ bú hoàn toàn bằng sữa mẹ thường phổ
biến ở nhóm tuổi < 6 tháng với tỷ lệ 19,14%. Theo Brine (1994) và Show
(1999) nghiên cứu tại Anh nhận thấy việc cho trẻ bú bình có hiệu quả với chai
mềm có thể ép được hơn là chai cứng.
Theo M. J. Trenouth’ và A. N. Campbell Hầu hết cha mẹ đều có vấn đề
về nuôi con với số lần cho ăn và đặc biệt là thời gian cho ăn, chất lượng bữa
ăn. 25% cha mẹ thiếu hiểu biết về số lượng thức ăn cho trẻ, trên 30% không
biết thiết lập mô hình cho trẻ ăn một cách bình thường. Có đến 50 % cha mẹ
muốn thay đổi phương pháp cho ăn từ một phương pháp đang áp dụng mà
không biết phải bắt đầu từ đâu. Có 48% bà mẹ luôn cố gắng cho con bú
nhưng không ai trong số họ thành công, thời gian bú là khi nào và bú trong
bao lâu cũng là vấn đề được rất nhiều bà mẹ than phiền. Đại đa số các bà mẹ
tỏ ra không hài lòng với thông tin về chăm sóc điều trị cho trẻ khi họ còn nằm


14

viện, đến khi ra viên các bà mẹ cũng không thấy được tư vấn nhắc nhở gì

với các thông tin đại chúng tìm hiểu về cách chăm sóc cho ăn hay điều trị cho
trẻ chỉ đạt 4%. Trong khi thực hiện nuôi dưỡng tốt cho trẻ chỉ có 8,8% bà mẹ
làm được điều này. Việc tự nguyện tìm hiểu các kiến thức về chăm sóc trẻ
trước sinh chỉ đạt 29%, thực hiện siêu âm trước sinh từ 1 đến 2 lần có 40%.
Thực trạng trên cho thấy vấn đề tuyên truyền giáo dục cho bà mẹ là rất quan
trọng, chưa nói đến các cấp ban ngành còn cần có các chương trình tập huấn
chi tiết đến các y tế thôn bản các cộng tác viên y tế để có thể đưa thông tin
chính xác hiểu quả đến từng hộ gia đình có trẻ KHMVM.
1.8. Những vấn đề thường gặp ở trẻ khe hở môi vòm miệng.
Trẻ mắc bệnh khe hở môi hay hở vòm miệng thường dễ mắc các bệnh
khác như câm, điếc và khiếm khuyết khả năng nói. Các bệnh về răng như
thiếu, thừa, dị hình hay răng mọc lộn xộn... cũng thường xảy ra trẻ khi sinh ra
mắc bệnh hở vòm miệng. Nhiều trẻ bị khe hở môi hay hở vòm miệng đặc biệt
dễ bị nhiễm trùng tai [13].
Trẻ bị khe hở môi hay hở vòm miệng cũng gặp nhiềụ khó khăn khi ăn
uống, bú mớm. Các bình sữa với núm vú đặc biệt có thể giúp trẻ bú dễ hơn.
Trong một số trường hợp, trẻ mắc bệnh khe hở môi hay hở vòm miệng có thể
phải cần đến vòm miệng giả để giúp trẻ có thể ăn uống được. Ngoài ra ảnh
hưởng của khe hở môi - vòm miệng đến sức khỏe toàn thân của trẻ.
- Dị dạng phối họp.
- Tâm lý.
- Nhiễm trùng đường hô hấp trên.
- Suy dinh dưỡng.
- Rối loạn mọc, biến dạng cung hàm và sọ mặt.
1.9. Điều trị khe hở môi vòm miệng
Nguyên tắc cơ bản của điều trị khe hở môi và vòm miệng. Trong việc
điều trị các bệnh nhân khe hở bẩm sinh hàm mặt, phải phối họp nhiều chuyên


16

càn được khám định kỳ 6 tháng/lần để phát hiện và điều trị răng sâu.
Tuy nhiên, thời gian này còn tùy thuộc vào từng trường hợp lâm sàng và
cơ địa của bệnh nhân.
1.9.2. Điều trị chỉnh hình
Có nghĩa là săn sóc và điều chỉnh để mang lại khớp cắn bình thường, qua
các giai đoạn phát triển xương hàm. Điều trị này còn có tác dụng làm thay đổi
lphần vẻ mặt và tiếng nói của bệnh nhân.
Quá trình phát triển xương hàm trên và xương hàm dưới ở trẻ bị khe hở
môi- vòm miệng không giống với các trẻ bình thường và cần được bác sĩ
chuyên khoa Nắn chỉnh Răng theo dõi. Khuôn mặt điển hình của trẻ mắc bệnh


18

khe hở môi- vòm miệng là kém phát triển xương hàm trên, vẩu xương hàm
dưới, tầng mặt giữa lép, răng cửa trên nằm ở phía trong răng cửa dưới (cắn
ngược), xoay răng...Tất cả những triệu chứng đó cần được các bác sĩ nắn
chỉnh răng khám và điều trị sớm ngay từ khi mới mọc răng vĩnh viễn. Quá
trình nắn chỉnh hàm và răng sẽ được kéo dài tới khi trẻ trưởng thành. Cùng
trong thời gian này các bác sĩ nắn chỉnh răng sẽ phối hợp cùng các bác sĩ phẫu
thuật thẩm mỹ để ghép xương và tạo dựng lại khuôn mặt hài hòa nhất cho
bệnh nhân [5].
1.9.3. Điều trị phát âm
Là công việc khó khăn và phức tạp, bắt đầu từ lúc biết nói, trước lúc điều
trị phẫu thuật. Đây là giai đoạn rất khó thực hiện vì hiện nay đa phần các trẻ
có khe hở môi vòm miệng thường ở vùng sâu vùng xa. Việc tiếp xúc với cán
bộ Y tế tại địa phương đã gặp rất nhiều khó khăn, trong khi việc hướng dẫn
điều trị phát âm cần có các chuyên gia về vấn đề này chứ không đơn thuần là
hướng dẫn cho cha mẹ. Sau điều trị phẫu thuật cần thiết phải tiếp tục điều trị
phát âm cho đến tuổi trưởng thành. Ở giai đoạn này các trẻ sau khi được phẫu

khi mẹ mang thai, luôn có cán bộ tâm lý giúp mẹ vượt qua từng thời kỳ của
thai ngén cũng như sinh con sau này. Việc này cần sự hợp tác của rất nhiều
chuyên khoa như bác sĩ chẩn đoán hình ảnh, bác sĩ sản khoa, bác sĩ tâm lý…
1.9.6. Lịch trình phẫu thuật
Có một lịch trình tốt nhất mà giờ đây được áp dụng nhiều thòi gian điều
trị phù họp cho trẻ mắc KHMVM như sau:
- Thời gian phẫu thuật đóng khe hở môi: trẻ tầm 3 tháng tuổi (Hà Nội thì
phẫu thuật được tiến hành khi trẻ 6 tháng tuổi).
- Thời gian phẫu thuật đóng khe hở vòm miệng (vòm miệng mềm và
vòm miệng cứng): từ 9 tháng đến 1 tuổi (tại Hà Nội, hầu hết chọn thời điểm là
trẻ đạt 18 tháng).


20

Thời gian điều trị chỉnh nha: bắt đàu từ khi 7tuổi kéo dài đến 18 tuổi.
- Thời gian phẫu thuật ghép xương ổ răng: khi trẻ đạt từ 9-11 tuổi.
- Ngoài ra có các phẫu thuật thẩm mỹ và sửa chữa khác: khi trẻ đạt 15
tuổi trở lên.
Các phẫu thuật điều trị chỉnh hình xương hàm sau 18tuổi.
Các điều trị về răng miệng, tai mũi họng,... định kỳ trong suốt quá trình
sổng của trẻ.
1.10. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về tỷ lệ khe hở môi vòm miệng
1.10.1. Ở Việt Nam
Khe hở môi trên và khe hở vòm miệng bẩm sinh là dị tật vùng hàm mặt
khá phổ biến. Theo các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, tỷ lệ trẻ sơ
sinh mắc các dị tật KHM - VM bẩm sinh thay trong khoảng 0,1% - 0,2%. Ở
nước ta tỷ lệ mắc bệnh khoảng 0,1%. Mỗi năm có thêm hàng nghìn trẻ sơ sinh
mắc dị tật này [9], [10], [11], [12]. Trong đó hơn 50% là KHM kết họp với
KHVM. KHM thường gặp ở nam nhiều hơn ở nữ, trong khi KHM đơn thuần

dân là:
KHM - KHVM

KHVM

Đan Mạch

0,1%

0,047%

Thuỵ điển

0,12%

0,051%

Nhật Bản

0,17%

0,036%

Trung Quốc

0,13%

0,036%

Tổng hợp từ nhiều báo cáo khác nhau, Bauer & Vicari [37] thấy tỷ lệ này

nhanh chóng trở thành phương pháp được lựa chọn rộng rãi vì dễ tiến hành và
có độ tin cậy cao.
- Phương pháp giải trình tự của Maxam và Gilbert [38]: Năm 1976-1977,
Allan Maxam và Walter Gilbert đã phát triển một phương pháp giải trình tự
DNA dựa trên sự cải biến hóa học DNA và sự phân cắt giới hạn tại những
nucleotid đặc hiệu. Phương pháp này đòi hỏi phải gắn phóng xạ tại đầu 5’ kết


23

thúc của sợi DNA (thường bằng một phản ứng kinase sử dụng gamma-32P
ATP) và đoạn DNA giải trình tự phải được tinh sạch. DNA được xử lý với hóa
chất tạo ra các điểm gãy ở một vị trí nhỏ của một hoặc hai trong số bốn
nucleotid của một trong bốn phản ứng (Dimethyl sunphat phá hủy G,
Glicosidic phá hủy A + G, Hydrazin phá hủy C, Hydrazin+ NaCl phá hủy C +
T). Phân tử DNA cải biến này sau đó được làm đứt bởi piperidine nóng ở vị
trí các nucleotid cải biến. Nồng độ của các chất hóa học được điều khiển để
trung bình chỉ có một cải biến trên mỗi phân tử DNA. Như vậy, một loạt các
đoạn đứt có đánh dấu được tạo ra. Các đoạn đứt trong bốn phản ứng được
điện di trong làn cạnh nhau trên gel polyacrylamide. Để quan sát kích thước
các đoạn đứt, gel được đưa lên phim chụp phóng xạ tự ghi X - ray để phát
hiện vạch, từ các vạch đó đó ta suy ra trình tự đoạn DNA ban đầu.
Phương pháp giải trình tự của Maxam - Gilbert ít được sử dụng vì những
nhược điểm bộc lộ ngày càng rõ như những phức tạp về mặt kỹ thuật không
thể sử dụng trong các kit sinh học phân tử tiêu chuẩn, cũng như việc phương
pháp này sử dụng nhiều hóa chất độc hại và gặp những khó khăn trong việc
mở rộng quy mô và cải tiến phương pháp.
- Phương pháp enzym (phương pháp Sanger) [39]: Vì phương pháp
Sanger có hiệu quả cao hơn đồng thời sử dụng ít hóa chất độc hại cũng như ít
các chất phóng xạ hơn phương pháp của Maxam và Gilbert, nó nhanh chóng

tự công suất lớn.
- Phương pháp giải trình tự động [40]: Cấu tạo của máy giải trình tự tự
động gồm 2 phần chính yếu: phần điện di với gel pop 7 và capilary 36 và
phần phát hiện peak điện di. Các mạch đơn DNA trong ống phản ứng giải
trình tự được đánh dấu huỳnh quang để các vạch điện di của các mạch đơn
này phát sáng khi đi qua chùm tia laser.
Nguyên tắc hoạt động: trong suốt quá trình điện di, mỗi khi có 1vạch
điện di đi qua chùm tia laser thì vạch điện di sẽ phát sáng lên và con mắt cảm


25

quang sẽ ghi nhận và lưu lại thành 1 đỉnh cường độ sáng trong biểu đồ. Từ
biểu đồ của các đỉnh cường độ sáng này, máy sẽ so dòng của các đỉnh tương
ứng với các màu để cuối cùng phân tích thành trình tự DNA.
Ngày nay, người ta dùng 4 màu huỳnh quang khác nhau để đánh dấu 4
loại ddNTP, nhờ vậy phản ứng giải trình tự có thể thực hiện được chỉ trong 1
ống nghiệm và khi giải trình tự chỉ cần điện di 1 hàng mà không cần phải trên
4 hàng khác nhau như trước đây.

Hình 1.8: Quy trình giải trình tự gen theo phương pháp ddNTP
1.11.2. Các phương pháp dựa trên phản ứng PCR:
- Phương pháp ARMS - PCR (amplification refractory mutation system



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status