VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ HOÀI THANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG CHO
NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH GIA LAI
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ THỊ HẢI NAM
ĐẮK LẮK, năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng nội dung của bản luận văn này chưa đuợc nộp cho
bất kỳ một chương trình cấp bằng cao học nào, cũng như một chương trình đào
tạo cấp bằng nào khác.
Tôi xin cam đoan các kết quả, phân tích và kết luận nghiên cứu trong luận
văn thạc sĩ Chính sách công về “Thực hiện chính sách khen thưởng cho người
lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai” (ngoài các phần được trích dẫn)
đều là kết quả làm việc của cá nhân tôi với sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê
Thị Hải Nam.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Lê Hoài Thanh
1.3.
Chương 2.
2.1.
2.2.
2.3.
Chương 3.
3.1.
3.2.
3.3
3.4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
STT
1.
2.
3.
4.
5.
từ năm 2014 đến năm 2018
2.4.
Tổng hợp kết quả khen thư
2.5
Tổng hợp kết quả khen thư
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số
hiệu
sơ đồ
2.1
2.2
Về kết quả danh hiệu Ch
từ năm 2014 đến năm 20
Về kết quả Bằng khen củ
từ năm 2014 đến năm 20
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
lao động trực tiếp, người trực tiếp thực hiện các phong trào thi đua. Đây là một bước
tiến quan trọng, cho thấy người lao động trực tiếp đã được quan tâm biểu dương,
ghi nhận công sức và khen thưởng được làm rõ trong chủ trương, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Trước 2013 chính sách, quy định khen thưởng cụ thể cho người lao động trực
tiếp không nhiều, cho đến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua,
khen thưởng (năm 2013) đề cập đến mục tiêu của thi đua rất cụ thể đó là: “Tạo
động lực lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu
nước, ...hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao” (Điều 1) và được cụ thể hóa tại Nghị
định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
Luật thi đua, khen thưởng, theo đó, quy định về nguyên tắc khen thưởng: “Khen
thưởng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được, không nhất
thiết phải có hình thức khen thưởng mức thấp mới được khen thưởng mức cao hơn.
Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ và cá nhân là người trực tiếp lao động, sản
xuất, học tập, công tác hoặc chiến đấu, phục vụ chiến đấu”; quy định cụ thể các
điều kiện, tiêu chuẩn khen thưởng cho người lao động trực tiếp tại các Điều 22, 23,
24 và 38.
Để triển khai thực hiện Luật Thi đua, khen thưởng; Nghị định số
91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thi
đua, khen thưởng, tỉnh Gia Lai đã kịp thời ban hành Quyết định số 33/2018/QĐUBND ngày 28/12/2018 về ban hành quy định thi đua, khen thưởng trên địa bàn
tỉnh Gia Lai nhằm cụ thể hóa quy định luật thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh,
trong đó, cụ thể tiêu chuẩn, điều kiện khen thưởng cho nông dân, người lao động
trực tiếp.
Từ những nội dung nêu trên cho thấy pháp luật hiện hành tuy đã có những
quy định cụ thể về khen thưởng cho người lao động trực tiếp, song trên thực tế việc
thực hiện nội dung này trong thực tiễn còn có những khó khăn và vướng mắc. Các
hướng dẫn về khen thưởng cho đối tượng là người lao động trực tiếp, khái niệm về
2
nhưng chủ yếu tập trung vào quản lý hoạt động thi đua khen thưởng, pháp luật về
thi đua khen thưởng, cụ thể là:
Tài liệu dạng sách và đề tài khoa học:
- Ban Thi đua - khen thưởng Trung ương (2008), Đảng, Bác Hồ với thi đua
yêu nước và công tác TĐKT”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
- Nguyễn Thế Thắng (2012), Những vấn đề lý luận chung về thi đua, khen
thưởng, đề tài khoa học cấp Nhà nước, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
- Trần Thị Hà (2013), Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới thi đua khen thưởng
trong giai đoạn hiện nay, đề tài khoa học cấp Nhà nước, Ban TĐKT Trung ương.
- Phạm Thu Thuỷ (2017), “Nâng cao chất lượng công tác khen thưởng cho
người lao động trực tiếp ở nước ta hiện nay”, Đề tài cấp khoa học cấp Bộ, Ban
TĐKT Trung ương.
Tài liệu dạng luận án, luận văn có:
- Đỗ Thúy Phượng (2010), Hoàn thiện pháp luật về TĐKT ở Việt Nam, luận
văn thạc sỹ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Dương Thị Tuyết Nhung (2015), Quản lý nhà nước về TĐKT trong các
trường đại học trên địa bàn Hà Nội, luận văn thạc sỹ luật học, Học viện KHXH.
- Nguyễn Đức Hiếu (2016), Hoàn thiện công tác TĐKT tại Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt nam, Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Học viện KHXH.
- Phùng Ngọc Tấn (2016), Pháp luật về thi đua khen thưởng ở Việt Nam hiện
nay, luận án tiến sĩ luật hiến pháp và luật hành chính, Học viện KHXH.
nghiên cứu thì cho tới nay chưa có tác giả nào thực hiện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách
khen thưởng cho người lao động trực tiếp ở tỉnh Gia Lai, đề xuất các giải pháp và
kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác khen thưởng cho người lao
động trực tiếp ở tỉnh Gia Lai hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản và các quy định pháp luật, văn
bản hướng dẫn về công tác khen thưởng.
Mô tả, phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức và thực hiện chính sách
khen thưởng cho người lao động trực tiếp ở tỉnh Gia Lai.
5
Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực
hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp và thực hiện chính sách
khen thưởng cho người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung nghiên cứu: Thực hiện chính sách khen thưởng cho người
lao động trực tiếp.
- Về không gian: Tỉnh Gia Lai
- Về thời gian: từ năm 2014 đến năm 2018
- Về thực tiễn:
Cung cấp số liệu về kết quả thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao
động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai ở các cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Đề xuất
một số giải pháp cơ bản như bổ sung, sửa đổi pháp luật về khen thưởng cho người
lao động trực tiếp; ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể của tỉnh Gia Lai về khen
thưởng cho người lao động trực tiếp để phù hợp với thực tiễn của tỉnh Gia Lai để
điều chỉnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác khen thưởng cho người lao động
trực tiếp ở tỉnh Gia Lai hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; phần Kết luận; Luận văn này có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về chính sách khen thưởng và khen thưởng
cho người lao động trực tiếp.
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách khen thưởng đối với người lao
động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách
khen thưởng cho người lao động trực tiếp ở tỉnh Gia Lai hiện nay.
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG VÀ
KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP
1.1. Một số khái niệm cơ bản về khen thưởng, chính sách khen thưởng
và người lao động
1.1.1. Khen thưởng
Khen thưởng là khái niệm không xa lạ, bởi khái niệm này được tiếp cận ở
nhiều văn bản về thi đua, khen thưởng qua từng thời kỳ khác nhau. Khen thưởng
được hiểu chung là việc làm của một cá nhân, tổ chức một cách chính thức đối với
đối tượng có thành tích nào đó.
5. Ai làm việc một cách trong sạch, ngay thẳng sẽ được thưởng.
6. Ai làm việc gì có lợi cho nước nhà, dân tộc, được dân chúng mến phục sẽ
được thưởng.
7. Ai bỏ tiền ra xây đắp cầu cống, đê, đường sẽ được thưởng.
8. Ai bắt được những kẻ phản quốc sẽ được thưởng.
9. Ai liều mình về công việc sẽ được thưởng.
10. Ai cứu được người bị nạn sẽ được thưởng.[28, tr.19]
10 điều khen thưởng này chính là nền tảng tư tưởng, nguyên tắc pháp lý chỉ
đạo việc khen thưởng trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu
nước và trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường nhắc cán bộ làm công tác thi đua, khen
thưởng: “Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn,
kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”[29]. Sau đó, năm 1947, Chủ
tịch Hồ Chí Minh lần lượt ký các Sắc lệnh thành lập Viện Huân chương, ban hành
Sắc lệnh đặt ra các Huân chương Quân công, Huân chương Chiến sĩ, Huân chương
Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập. Năm 1948 đặt ra
Huân chương Kháng chiến, năm 1959 đặt ra Huân chương Lao động. Chính phủ
cũng đã quy định các danh hiệu Anh hùng Quân đội, Anh hùng Nông nghiệp, Anh
hùng Công nghiệp năm 1952 để khen thưởng kịp thời những cá nhân và đơn vị có
thành tích trong cuộc kháng chiến kiến quốc.
9
Từ thực tiễn lịch sử trên đây, khen thưởng được hiểu là quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền để nhận xét, đánh giá về một tổ chức, cá nhân có
thành tích xuất sắc, có công đối với đất nước trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua khen thưởng năm 2013,
tại Khoản 2, Điều 3 định nghĩa về khái niệm khen thưởng như sau: “Khen thưởng
hoặc các quyết định tuyển dụng của cơ quan quản lý nhà nước... để họ làm việc,
đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng.
- Có thể nhìn nhận khái niệm “Người lao động trực tiếp” dưới các góc độ
khác nhau như:
+ Nhìn dưới góc độ lao động, sản xuất, người lao động trực tiếp có thể được
hiểu là: Người làm ra sản phẩm cụ thể, trực tiếp cầm, nắm, sản xuất hoặc điều
khiển trực tiếp để tạo ra sản phẩm.
Người lao động trực tiếp là những người lao động bình thường trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội, như công nhân lao động trực tiếp, người nông dân trực tiếp
lao động, canh tác, giáo viên đứng lớp, người nghệ sĩ biểu diễn, người lao động dọn
vệ sinh, những hộ lý, điều dưỡng trong các bệnh viện hoặc những người âm thầm,
lặng lẽ trực tiếp làm các nhiệm vụ tình nguyện, thiện nguyện...
+ Nhìn dưới góc độ quản lý nhà nước, người lao động trực tiếp có thể hiểu là
cán bộ, công chức, viên chức và không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý; có thể là
người làm công ăn lương và được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp trả lương
cho họ và không phải là lãnh đạo, quản lý, không phải là đối tượng được hưởng
phụ cấp chức vụ lãnh đạo theo quy định của nhà nước. Ví dụ như: công chức, viên
chức bình thường, giáo viên, bác sĩ, y tá, y sĩ, các văn nghệ sĩ… được hưởng lương
từ ngân sách nhà nước nhưng không thuộc diện lãnh đạo quản lý.
Nếu so với sản phẩm của người lao động trực tiếp là công nhân, nông dân
với sản phẩm của đối tượng là người lao động trực tiếp nhìn nhận dưới góc độ quản
lý có phần khác và mang tính đặc thù hơn. Sản phẩm của họ mang tính trí tuệ và
“đầu ra” của sản phẩm là các văn bản tham mưu cho đội ngũ lãnh đạo nhà nước,
các ý tưởng đổi mới trong cải cách, tổ chức bộ máy nhà nước, các công việc mang
lại hiệu quả lớn cho xã hội như chăm sóc người bệnh, điều chế thuốc, gìn giữ văn
hóa cội nguồn dân tộc....
11
12
Luật Thi đua, khen thưởng đã xác định: “Thi đua là hoạt động có tổ chức với
sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt
nhất trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc; Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương,
tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể
có thành tích trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Chính phủ thống nhất quản lý nhà
nước về thi đua, khen thưởng trong phạm vi cả nước”.
Hiện nay, chưa có một khái niệm cụ thể nào về Chính sách khen thưởng. Từ
khái niệm chung của chính sách công, cùng với các khái niệm về thi đua, khen
thưởng có thể định nghĩa: Chính sách khen thưởng là tập hợp các quy định, quyết
sách của Nhà nước nhằm đưa ra các công cụ và cách thức giải quyết các vấn đề liên
quan đến công tác khen thưởng và hoạt động khen thưởng. Các cơ quan trong hệ
thống hành pháp và mọi cá nhân, tổ chức có nhiệm vụ chấp hành quyết sách này
trong lĩnh vực hoạt động thi đua, khen thưởng theo đúng quy định của pháp luật.
1.1.5. Thực hiện chính sách khen thưởng
Thực hiện chính sách khen thưởng, là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ
thể trong chính sách thành hiện thực, là bước hiện thực hóa, đưa chính sách khen
thưởng vào thực tiễn cuộc sống.
Thực hiện chính sách khen thưởng là khâu quan trọng, là một khâu hợp
thành chính sách khen thưởng, thực hiện tốt không những mang lại lợi ích to lớn
cho các nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn góp phần làm tăng uy tín của
nhà nước trong quá trình quản lý xã hội. Thực hiện chính sách khen thưởng là tất
yếu, để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của nhà nước
và cũng là để đạt được mục tiêu của chính sách.
Mục tiêu của khen thưởng là nhằm động viên mọi cá nhân, tổ chức tham gia
các phong trào thi đua để từ đó phát huy tính tích cực trong công việc, phấn đấu vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; người được
khen thưởng tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được của mình, có thêm
tổ quốc... Hình thức khen có thể được vinh danh bởi các danh hiệu cao quý của
Đảng, Nhà nước được quy định trong Luật thi đua, khen thưởng hoặc khen trực tiếp
từ lãnh đạo quản lý, cơ quan, tổ chức, đoàn thể hoặc tổ chức, cá nhân ngoài đơn vị,
cơ quan mà người lao động trực tiếp đó làm việc, công tác.
14
1.2. Mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của công tác khen thưởng và
thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp
1.2.1. Vai trò của người lao động trực tiếp
Người lao động trực tiếp chính là những người tham gia thực hiện các hoạt
động lao động, sản xuất, tạo ra các sản phẩm, các giá trị xã hội. Đối tượng người lao
động trực tiếp là những công chức, viên chức, công nhân, nông dân… Đây là lực
lượng chiếm số lượng nhiều nhất, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc trực tiếp
thực thi nhiệm vụ chính trị ở các đơn vị, địa phương. Họ cũng là ựcl lượng chính
trong các phong trào thi đua yêu nước lớn, tiêu biểu, có hiệu quả cao đang được
triển khai trong thực tế hiện nay như: “Chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Lao
động giỏi, lao động sáng tạo”, “Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi”…
1.2.2. Ý nghĩa của công tác khen thưởng và tầm quan trọng của việc thực
hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp
- Làm cho người tốt, việc tốt được ghi nhận, tôn vinh và lan tỏa giá trị tốt
đẹp trong cuộc sống
Công tác khen thưởng và thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao
động trực tiếp có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với cơ quan, tổ chức mà
còn đối với người lao động trực tiếp đó là: Khi công tác khen thưởng được thực hiện
đúng người, đúng việc sẽ giúp cho người tốt, việc tốt được ghi nhận tôn vinh và lan
tỏa giá trị tốt đẹp trong cuộc sống.
- Thúc đẩy phong trào thi đua lao động và sáng tạo lập thành tích trong mỗi
cá nhân người lao động
thời
Mục đích của khen thưởng là động viên, thúc đẩy phong trào thi đua, khơi
dậy óc tìm tòi sáng tạo, phát huy trí tuệ, năng lực, tính tích cực của mỗi cá nhân. Do
đó, khen thưởng phải chính xác, công khai, công bằng và kịp thời mới có tác dụng
động viên nêu gương. Ngược lại, khen thưởng không chính xác, không trung thực,
đặc biệt là thiếu công bằng sẽ mất đi tính thời sự và mất tác dụng, ý nghĩa của khen
thưởng. Khi khen thưởng kịp thời, đúng lúc, cá nhân được khen sẽ cảm thấy được
trân trọng và vinh dự, tin tưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước. Khen thưởng trong trường hợp này giúp người được khen
nhìn nhận được tính công bằng trong các hình thức khen, từ đó phát huy được tính
tích cực trong các công việc mà người lao động trực tiếp đang đảm nhận. Người
16
không được khen thưởng cũng thấy được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình cần phải
phấn đấu để được ghi nhận trong thời gian tới.
Hai là, khen thưởng cho người lao động trực tiếp phải đúng thẩm quyền
Về thẩm quyền khen và cơ quan quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng
được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể như sau:
Chủ thể thực hiện công tác khen thưởng ở trung ương: là Ban Thi đua – Khen
thưởng Trung ương; Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương. Chủ thể thực
hiện công tác khen thưởng ở cấp tỉnh là Ban Thi đua – Khen thưởng trực thuộc Sở
Nội vụ (hoặc Văn phòng UBND cấp tỉnh), Hội đồng Thi đua – Khen thưởng cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan tham mưu cho cấp ủy Đảng và
chính quyền về công tác thi đua, khen thưởng của địa phương. Chủ thể thực hiện
công tác khen thưởng ở cấp huyện: Phòng Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Về thẩm quyền quyết định khen thưởng: Chủ tịch nước quyết định tặng
thưởng Danh hiệu vinh dự Nhà nước, Huân chương, Huy chương, Giải thưởng Hồ
Chí Minh...; Thủ tướng Chính phủ quyết định tặng thưởng Bằng khen và các danh
khẳng định rõ: “Tiếp tục quán triệt nội dung đổi mới công tác TĐKT theo tư tưởng
Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước và tinh thần chỉ thị số 35- CT/TW, ngày 3/6//1998
của Bộ chính trị khoá VIII, qua đó nâng cao hơn nữa nhận thức trách nhiệm về
công tác TĐKT”[33].
Năm 2014, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW về Tiếp tục đổi mới
công tác thi đua, khen thưởng “Xác định thi đua, khen thưởng là một chính sách lớn
của Đảng và Nhà nước, bản chất của phong trào thi đua là công tác dân vận của
Đảng; Tổ chức phong trào thi đua chính là tổ chức phong trào hành động cách
mạng dưới sự lãnh đạo của đảng, nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân
tập trung thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ”[36].
Từ năm 2000 đến nay, hệ thống văn bản pháp luật về TĐKT từng bước được
xây dựng hoàn chỉnh, gồm: Luật Thi đua, Khen thưởng được sửa đổi, bổ sung các
năm 2003, 2005, 2013 và các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành.
Việc tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và phong
trào thi đua yêu nước là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị; các cấp ủy Đảng, người
18