Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh gia lai - Pdf 58

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH

1
9

KHEN THƯỞNG VÀ KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI
LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP
1.1. Một số khái niệm cơ bản về khen thưởng, chính sách khen

9

thưởng và người lao động
1.2. Mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của công tác khen

17

thưởng và thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao
động trực tiếp
1.3. Các yếu tố tác động đến chất lượng, hiệu quảthực hiện

20

chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp
Tiểu kết chương 1
Chương 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHEN

24
25


quan trọng của công tác khen thưởng cho người lao động
trực tiếp
3.2. Đổi mới cách thức tổ chức thực hiện chính sách khen

59

thưởng theo hướng kịp thời, thiết thực, trọng tâm và hiệu
quả
3.3 Hoàn thiện quy định, pháp luật khen thưởng đối với người

65

lao động trực tiếp
3.4 Kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ 69
làm công tác khen thưởng; Tăng cường công tác thanh tra,
kiểm tra chấp hành quy định pháp luật về khen thưởng, nhất
là công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp
Tiểu kết chương 3

73

KẾT LUẬN

74

TÀI LIỆU THAM KHẢO

75



Chỉ thị

4.

HCM

5.



Nghị định

6.

ND

Nhân dân

7.

NN

Nhà nước

8.

NLĐTT

9.


XHCN

Xã hội chủ nghĩa

15.

TĐKT

Thi đua, khen thưởng


DANH MỤC BẢNG
Số
hiệu

Tên bảng

Trang

bảng
2.1
2.2

2.3

Về kết quả khen thưởng cho cá nhân giai đoạn 2014 – 2018
Về kết quả danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh cho cá nhân
từ năm 2014 đến năm 2018.
Về kết quả Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho cá nhân

2.2

Về kết quả danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh cho cá nhân
từ năm 2014 đến năm 2018
Về kết quả Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho cá nhân
từ năm 2014 đến năm 2018

50

51


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự
quan tâm, chỉ đạo sâu sắc đối với các phong trào thi đua và công tác khen thưởng,
đặc biệt là đã có nhiều chính sách, quy định pháp luật quan trọng điều về TĐKT.
Thi đua và khen thưởng là hai hoạt động luôn gắn kết và hỗ trợ cho nhau trong
nhiều phong trào từ lớn đến nhỏ, từ cả nước đến mỗi cụm dân cư. Khen thưởng là
một nội dung không thể thiếu của phong trào thi đua. Thi đua mà không có khen
thưởng thì rất khó để duy trì và tạo động lực cho người lao động. Trong thực tiễn
khen thưởng đã luôn tạo động lực thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước phát triển,
góp phần dành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc và xây dựng
đất nước Việt Nam. Qua khen thưởng đã xuất hiện nhiều tấm gương anh hùng, dũng
sĩ, chiến sĩ thi đua, tấm gương điển hình tiên tiến “người tốt” “việc tốt”.
Thực hiện lời kêu gọi thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua
là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những người yêu
nước nhất”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước các phong trào thi đua yêu nước
trong những năm qua đã liên tục được phát động, động viên, cổ vũ các tầng lớp
nhân dân phát huy truyền thống yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất, vượt qua khó

24 và 38.
Để triển khai thực hiện Luật Thi đua, khen thưởng; Nghị định số
91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thi
đua, khen thưởng, tỉnh Gia Lai đã kịp thời ban hành Quyết định số 33/2018/QĐUBND ngày 28/12/2018 về ban hành quy định thi đua, khen thưởng trên địa bàn
tỉnh Gia Lai nhằm cụ thể hóa quy định luật thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh,
trong đó, cụ thể tiêu chuẩn, điều kiện khen thưởng cho nông dân, người lao động
trực tiếp.
Từ những nội dung nêu trên cho thấy pháp luật hiện hành tuy đã có những
quy định cụ thể về khen thưởng cho người lao động trực tiếp, song trên thực tế việc
thực hiện nội dung này trong thực tiễn còn có những khó khăn và vướng mắc. Các
hướng dẫn về khen thưởng cho đối tượng là người lao động trực tiếp, khái niệm về


người lao động trực tiếp, công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp mới chỉ
dùng lại ở những điểm còn chung chung, chưa được quy định cụ thể, chi tiết. Mặc
dù nhiều năm qua, đối tượng lao động trực tiếp đã được khen thưởng, nhưng số
lượng không nhiều, không đồng đều. Công tác khen thưởng chưa thực sự chú trọng
nhiều đến người lao động trực tiếp và chưa thực sự quyết liệt.
Mặt khác, trong thực hiện trên thực tế vẫn còn tình trạng khen thưởng chưa
thực sự đúng người, còn có cách nghĩ cách làm “hoa thơm mỗi người hưởng một
tý” làm cho giá trị của công tác khen thưởng không còn nguyên bản.
Trên thực tế nếu khen thưởng đúng sẽ góp phần quan trọng trong việc xây
dựng cuộc sống mới, con người mới, nền văn hóa mới, thực sự làm cho cái thiện,
mặt tốt trong mỗi con người ngày càng được nhân lên làm cho cái xấu, cái ác đẩy
lùi trong xã hội. Khen thưởng đúng sẽ tạo động lực cho mỗi người trong lao động,
học tập và hướng thiện. Khen thưởng thiếu thực chất sẽ tác động ngược lại, làm cho
phong trào thi đua và động lực của người lao động giảm sút, tác động tiêu cực đến
mỗi người và toàn xã hội.
Trước tình hình đó, với trách nhiệm là người làm công tác khen thưởng của
tỉnh Gia Lai học viên đã lựa chọn vấn đề: “Thực hiện chính sách khen thưởng cho

học trên địa bàn Hà Nội, luận văn thạc sỹ luật học, Học viện KHXH.
- Nguyễn Đức Hiếu (2016), Hoàn thiện công tác TĐKT tại Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt nam, Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Học viện KHXH.
- Phùng Ngọc Tấn (2016), Pháp luật về thi đua khen thưởng ở Việt Nam hiện nay,
luận án tiến sĩ luật hiến pháp và luật hành chính, Học viện KHXH.
- Bùi Tuyết Nhung (2017) “Về thực hiện chính sách TĐKT từ thực tiễn của Viện Hàn
lâm KHXH Việt Nam” , luận văn thạc sĩ chính sách công, Học Viện KHXH.
Tài liệu bài tạp chí có:
- Phùng Ngọc Tấn (2014), Giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện
pháp luật về thi đua khen thưởng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật.


- Nguyễn Đình Châu (2014), Tăng cường làm tốt công tác TĐKT góp phần thực hiện
thắng lợi chiến lược xây dựng con người mới của Đảng trong giai đoạn hiện nay,
Tạp chí Giáo dục lý luận, số 213 (tháng 5).
- Lê Văn Phong (2014), Công tác thi đua, khen thưởng ở Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh (2009-2014), Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9, tr. 52-56.
Các công trình nêu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của công
tác thi đua khen thưởng, như một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về công tác thi
đua khen thưởng: Khái niệm, hình thức, nội dung, yêu cầu công tác thi đua, công
tác khen thưởng; thực trạng pháp luật về thi đua khen thưởng, giải pháp và kiến
nghị hoàn thiện pháp luật.
Đáng chú ý là Luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Tuyết Nhung nghiên cứu “về
thực hiện chính sách TĐKT từ thực tiễn của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam”. Đây
là nguồn tài liệu có giá trị mà học viên có thể tham khảo, kế thừa có chọn lọc để
phục vụ cho nghiên cứu của mình.
Tuy nhiên, nghiên cứu trực tiếp về thực hiện chính sách khen thưởng cho
người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai theo tài liệu học viên đã tìm hiểu
nghiên cứu thì cho tới nay chưa có tác giả nào thực hiện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

việc phân tích các số liệu trong bảng tổng hợp, tính toán tỷ lệ % để thấy được thực
trạng công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp ở tỉnh Gia Lai hiện nay.
+ Phương pháp tổng hợp: Sử dụng để tóm lược, rút ra những kết luận của vấn
đề nghiên cứu. Tổng hợp các kết quả nghiên cứu, số liệu thống kê về đối tượng
khen thưởng là người lao động trực tiếp từ năm 2014 đến năm 2018 trên địa bàn
tỉnh qua các báo cáo về công tác thi đua, khen thưởng hàng năm.
+ Phương pháp so sánh: Sử dụng khi phân tích, đánh giá các Nghị quyết,
chuyên đề của Đảng, các quy định của pháp luật về chính sách khen thưởng cho
người lao động trực tiếp qua các giai đoạn lịch sử so sánh với việc thực hiện chính
sách và quy pháp luật trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận:


Hệ thống hóa những quan niệm, quan điểm lý luận về khen thưởng, công tác
khen thưởng và làm rõ thêm một số vấn đề mang tính chất mới về khen thưởng cho
người lao động trực tiếp, khái niệm người lao động trực tiếp và các nhân tố ảnh
hưởng đến chất lượng khen thưởng cho đối tượng này.
- Về thực tiễn:
Cung cấp số liệu về kết quả thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao
động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai ở các cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Đề xuất
một số giải pháp cơ bản như bổ sung, sửa đổi pháp luật về khen thưởng cho người
lao động trực tiếp; ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể của tỉnh Gia Lai về khen
thưởng cho người lao động trực tiếp để phù hợp với thực tiễn của tỉnh Gia Lai để
điều chỉnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác khen thưởng cho người lao động
trực tiếp ở tỉnh Gia Lai hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; phần Kết luận; Luận văn này có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về chính sách khen thưởng và khen thưởng
cho người lao động trực tiếp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc khen thưởng, Người nêu rõ:
“Thưởng phạt phải nghiêm minh, có công thì thưởng, có lỗi thì phạt; có công mới
có huân, phải có công huân mới được thưởng huân chương, thưởng cái nào đích


đáng cái ấy khen thưởng phải có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương”[28,
tr.20].
Ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 26/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ký ban hành Quốc lệnh 10 điều thưởng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà, gồm:
“1. Nhà nào có 3 con tòng quân sẽ được thưởng.
2. Ai lập được quân công sẽ được thưởng.
3. Ai vì nước hy sinh sẽ được thưởng.
4. Ai ra trận can đảm phi thường sẽ được thưởng.
5. Ai làm việc một cách trong sạch, ngay thẳng sẽ được thưởng.
6. Ai làm việc gì có lợi cho nước nhà, dân tộc, được dân chúng mến phục sẽ
được thưởng.
7. Ai bỏ tiền ra xây đắp cầu cống, đê, đường sẽ được thưởng.
8. Ai bắt được những kẻ phản quốc sẽ được thưởng.
9. Ai liều mình về công việc sẽ được thưởng.
10. Ai cứu được người bị nạn sẽ được thưởng.[28, tr.19]
10 điều khen thưởng này chính là nền tảng tư tưởng, nguyên tắc pháp lý chỉ
đạo việc khen thưởng trong cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu
nước và trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường nhắc cán bộ làm công tác thi đua, khen
thưởng: “Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn,
kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”[29]. Sau đó, năm 1947, Chủ
tịch Hồ Chí Minh lần lượt ký các Sắc lệnh thành lập Viện Huân chương, ban hành
Sắc lệnh đặt ra các Huân chương Quân công, Huân chương Chiến sĩ, Huân chương
Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập. Năm 1948 đặt ra

Người lao động là người làm công ăn lương là người lao động trí thức như:
công chức, viên chức, cán bộ, các chuyên gia trong các ngành, lĩnh vực khác nhau
như công nghệ, kinh tế, ngoại thương, ngoại giao...
Đặc điểm của người lao động là “bán công sức”, có thể là sức khỏe, trí tuệ...
để làm ra của cải vật chất hoặc các sản phẩm mang tính sáng tạo, mang tính đặc thù


như là “lao động mềm trong nền công vụ” phục vụ cho người thuê lao động (chủ
lao động). Các công việc được thuê làm đối với người lao động này thường được
tuân thủ bởi các hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc (bằng miệng hoặc văn bản)
hoặc các quyết định tuyển dụng của cơ quan quản lý nhà nước... để họ làm việc,
đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng.
- Có thể nhìn nhận khái niệm “Người lao động trực tiếp” dưới các góc độ
khác nhau như:
+ Nhìn dưới góc độ lao động, sản xuất, người lao động trực tiếp có thể được
hiểu là: Người làm ra sản phẩm cụ thể, trực tiếp cầm, nắm, sản xuất hoặc điều
khiển trực tiếp để tạo ra sản phẩm.
Người lao động trực tiếp là những người lao động bình thường trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội, như công nhân lao động trực tiếp, người nông dân trực
tiếp lao động, canh tác, giáo viên đứng lớp, người nghệ sĩ biểu diễn, người lao động
dọn vệ sinh, những hộ lý, điều dưỡng trong các bệnh viện hoặc những người âm
thầm, lặng lẽ trực tiếp làm các nhiệm vụ tình nguyện, thiện nguyện...
+ Nhìn dưới góc độ quản lý nhà nước, người lao động trực tiếp có thể hiểu là
cán bộ, công chức, viên chức và không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý; có thể là
người làm công ăn lương và được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp trả lương
cho họ và không phải là lãnh đạo, quản lý, không phải là đối tượng được hưởng phụ
cấp chức vụ lãnh đạo theo quy định của nhà nước. Ví dụ như: công chức, viên chức
bình thường, giáo viên, bác sĩ, y tá, y sĩ, các văn nghệ sĩ… được hưởng lương từ
ngân sách nhà nước nhưng không thuộc diện lãnh đạo quản lý.
Nếu so với sản phẩm của người lao động trực tiếp là công nhân, nông dân

động lên đối tượng quản lý theo một cách thức nào đó nhằm đạt tới mục tiêu mong
muốn.
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của
Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải
quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [6, tr.12].
1.1.4. Chính sách khen thưởng
Chính sách khen thưởng là một hợp phần của chính sách công.


Luật Thi đua, khen thưởng đã xác định: “Thi đua là hoạt động có tổ chức
với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích
tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc; Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu
dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân,
tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Chính phủ thống nhất quản
lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong phạm vi cả nước”.
Hiện nay, chưa có một khái niệm cụ thể nào về Chính sách khen thưởng. Từ
khái niệm chung của chính sách công, cùng với các khái niệm về thi đua, khen
thưởng có thể định nghĩa: Chính sách khen thưởng là tập hợp các quy định, quyết
sách của Nhà nước nhằm đưa ra các công cụ và cách thức giải quyết các vấn đề liên
quan đến công tác khen thưởng và hoạt động khen thưởng. Các cơ quan trong hệ
thống hành pháp và mọi cá nhân, tổ chức có nhiệm vụ chấp hành quyết sách này
trong lĩnh vực hoạt động thi đua, khen thưởng theo đúng quy định của pháp luật.
1.1.5. Thực hiện chính sách khen thưởng
Thực hiện chính sách khen thưởng, là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ
thể trong chính sách thành hiện thực, là bước hiện thực hóa, đưa chính sách khen
thưởng vào thực tiễn cuộc sống.
Thực hiện chính sách khen thưởng là khâu quan trọng, là một khâu hợp
thành chính sách khen thưởng, thực hiện tốt không những mang lại lợi ích to lớn
cho các nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn góp phần làm tăng uy tín của
nhà nước trong quá trình quản lý xã hội. Thực hiện chính sách khen thưởng là tất

vệ tổ quốc. Thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp cũng là
thực hiện chính sách khen thưởng, song đối tượng là người lao động trực tiếp, có
các quy định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn riêng cho đối tượng này”.
Theo đó, đối tượng được khen là cá nhân (lao động trực tiếp) được nhận các
hình thức khen thưởng do có thành tích trong lao động, sản xuất, xây dựng, bảo vệ
tổ quốc... Hình thức khen có thể được vinh danh bởi các danh hiệu cao quý của
Đảng, Nhà nước được quy định trong Luật thi đua, khen thưởng hoặc khen trực tiếp
từ lãnh đạo quản lý, cơ quan, tổ chức, đoàn thể hoặc tổ chức, cá nhân ngoài đơn vị,
cơ quan mà người lao động trực tiếp đó làm việc, công tác.


1.2. Mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của công tác khen thưởng và thực hiện
chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp
1.2.1. Vai trò của người lao động trực tiếp
Người lao động trực tiếp chính là những người tham gia thực hiện các hoạt
động lao động, sản xuất, tạo ra các sản phẩm, các giá trị xã hội. Đối tượng người lao
động trực tiếp là những công chức, viên chức, công nhân, nông dân… Đây là lực
lượng chiếm số lượng nhiều nhất, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc trực tiếp
thực thi nhiệm vụ chính trị ở các đơn vị, địa phương. Họ cũng là lực lượng chính
trong các phong trào thi đua yêu nước lớn, tiêu biểu, có hiệu quả cao đang được
triển khai trong thực tế hiện nay như: “Chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Lao
động giỏi, lao động sáng tạo”, “Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi”…
1.2.2. Ý nghĩa của công tác khen thưởng và tầm quan trọng của việc thực
hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp
- Làm cho người tốt, việc tốt được ghi nhận, tôn vinh và lan tỏa giá trị tốt đẹp trong
cuộc sống
Công tác khen thưởng và thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao
động trực tiếp có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với cơ quan, tổ chức mà
còn đối với người lao động trực tiếp đó là: Khi công tác khen thưởng được thực
hiện đúng người, đúng việc sẽ giúp cho người tốt, việc tốt được ghi nhận tôn vinh

Mục đích của khen thưởng là động viên, thúc đẩy phong trào thi đua, khơi
dậy óc tìm tòi sáng tạo, phát huy trí tuệ, năng lực, tính tích cực của mỗi cá nhân. Do
đó, khen thưởng phải chính xác, công khai, công bằng và kịp thời mới có tác dụng
động viên nêu gương. Ngược lại, khen thưởng không chính xác, không trung thực,
đặc biệt là thiếu công bằng sẽ mất đi tính thời sự và mất tác dụng, ý nghĩa của khen
thưởng. Khi khen thưởng kịp thời, đúng lúc, cá nhân được khen sẽ cảm thấy được
trân trọng và vinh dự, tin tưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước. Khen thưởng trong trường hợp này giúp người được khen
nhìn nhận được tính công bằng trong các hình thức khen, từ đó phát huy được tính
tích cực trong các công việc mà người lao động trực tiếp đang đảm nhận. Người


không được khen thưởng cũng thấy được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình cần phải
phấn đấu để được ghi nhận trong thời gian tới.
Hai là, khen thưởng cho người lao động trực tiếp phải đúng thẩm quyền
Về thẩm quyền khen và cơ quan quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng
được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể như sau:
Chủ thể thực hiện công tác khen thưởng ở trung ương: là Ban Thi đua –
Khen thưởng Trung ương; Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương. Chủ thể
thực hiện công tác khen thưởng ở cấp tỉnh là Ban Thi đua – Khen thưởng trực thuộc
Sở Nội vụ (hoặc Văn phòng UBND cấp tỉnh), Hội đồng Thi đua – Khen thưởng cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan tham mưu cho cấp ủy Đảng và
chính quyền về công tác thi đua, khen thưởng của địa phương. Chủ thể thực hiện
công tác khen thưởng ở cấp huyện: Phòng Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Về thẩm quyền quyết định khen thưởng: Chủ tịch nước quyết định tặng
thưởng Danh hiệu vinh dự Nhà nước, Huân chương, Huy chương, Giải thưởng Hồ
Chí Minh...; Thủ tướng Chính phủ quyết định tặng thưởng Bằng khen và các danh
hiệu thi đua như Cờ thi đua của Chính phủ, Chiến sĩ thi đua toàn quốc; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp huyện quyết định tặng thưởng Giấy khen và danh hiệu chiến sĩ thi

công tác TĐKT”[33].
Năm 2014, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW về Tiếp tục đổi mới
công tác thi đua, khen thưởng “Xác định thi đua, khen thưởng là một chính sách lớn
của Đảng và Nhà nước, bản chất của phong trào thi đua là công tác dân vận của
Đảng; Tổ chức phong trào thi đua chính là tổ chức phong trào hành động cách
mạng dưới sự lãnh đạo của đảng, nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân
tập trung thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ”[36].
Từ năm 2000 đến nay, hệ thống văn bản pháp luật về TĐKT từng bước được
xây dựng hoàn chỉnh, gồm: Luật Thi đua, Khen thưởng được sửa đổi, bổ sung các
năm 2003, 2005, 2013 và các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành.
Việc tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và phong
trào thi đua yêu nước là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị; các cấp ủy Đảng, người


đứng đầu cơ quan, tổ chức phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, tổ chức thực hiện
công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua yêu nước gắn với việc thực hiện
nhiệm vụ chính trị. Tăng cường quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng là một
nhiệm vụ quan trọng của các cấp có thẩm quyền, các cơ quan hành chính nhà nước
để Luật Thi đua, khen thưởng và các văn bản thi hành Luật Thi đua, khen thưởng
được thực hiện chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả trong cả nước.
Quản lý nhà nước đối với công tác thi đua, khen thưởng là một lĩnh vực rộng
và mang lại lợi ích tinh thần to lớn cho mỗi người khi đạt được thành tích đáng ghi
nhận. Vệc thực thi chính sách TĐKT nói chung và chính sách TĐKT dành cho
người lao động trực tiếp cần thực hiện một cách nghiêm túc, có hiệu quả; khen
thưởng phải gắn với phong trào thi đua, có phong trào thi đua sẽ có khen thưởng,
hoặc khen thưởng phải gắn với các thành quả lao động mà người lao động trực tiếp
đạt được. Các đợt thi đua, phong trào thi đua cần phát động thường xuyên, gắn với
theo đợt, chuyên đề, tiếp tục đổi mới các phong trào thi đua, tránh hình thức, nhàm
chán, tẻ nhạt. Tổ chức thực hiện phong trào thi đua, khen thưởng trực tiếp cho
người lao động cần phát huy rộng rãi, song phải có mục đích và thi đua với ai, ai

trực tiếp được khen, sẽ có sức lan tỏa đến các cá nhân khác, từ đó nâng cao hiệu quả
trong hoạt động, sản xuất, học tập, chiến đấu.
Việc nhân rộng điển hình khen thưởng là nhiệm vụ chung của cơ quan quản
lý nhà nước về khen thưởng, song với đối tượng là người lao động trực tiếp cần có
hình thức nhân rộng phù hợp để người lao động trực tiếp nhận thấy được tầm quan
trọng của công tác này, đồng thời có ý thức phấn đấu, thực hiện các nhiệm vụ để tạo
ra của cải, vật chất, say mê sáng tạo...để có được thành quả khích lệ, từ đó nhận
thêm các hình thức khen xứng đáng, phù hợp.
Bốn là, vai trò của cơ quan truyền thông trong phát hiện các gương điển
hình tiên tiến, người tốt việc tốt; công tác thông tin, tuyên truyền chính sách khen
thưởng, quy định pháp luật về khen thưởng cho người lao động trực tiếp
Thông tin, tuyên truyền đóng vai trò quan trọng trong công tác khen thưởng
nói chung và khen thưởng đối với người lao động trực tiếp nói riêng. Đối với chủ


trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đối với đối tượng khen là lao
động trực tiếp cần được thông tin rộng rãi, chính xác đến tận người dân về nội dung
này. Ngoài ra, công tác thông tin, tuyên truyền có vai trò lớn trong việc nhân rộng
các điển hình tiên tiến. Thông qua công tác tuyên truyền, nhân rộng các điển hình
tiên tiến mà các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước đến với quần chúng nhân dân, thâm nhập vào quần chúng nhân dân,
tạo nên phong trào rộng rãi trong quần chúng nhân dân; góp phần cổ vũ phong trào
thi đua yêu nước của nhân dân.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status