VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ HOÀI THANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG
CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH GIA LAI
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ THỊ HẢI NAM
ĐẮK LẮK, năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng nội dung của bản luận văn này chưa đuợc nộp cho
bất kỳ một chương trình cấp bằng cao học nào, cũng như một chương trình đào
tạo cấp bằng nào khác.
Tôi xin cam đoan các kết quả, phân tích và kết luận nghiên cứu trong luận
văn thạc sĩ Chính sách công về “Thực hiện chính sách khen thưởng cho người
lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai” (ngoài các phần được trích dẫn)
đều là kết quả làm việc của cá nhân tôi với sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê
Thị Hải Nam.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Lê Hoài Thanh
KHEN THƯỞNG VÀ KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI
LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP
1.1. Một số khái niệm cơ bản về khen thưởng, chính sách khen
9
thưởng và người lao động
1.2. Mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của công tác khen
17
thưởng và thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao
động trực tiếp
1.3. Các yếu tố tác động đến chất lượng, hiệu quảthực hiện
20
chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp
Tiểu kết chương 1
Chương 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KHEN
24
25
THƯỞNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP
Ở TỈNH GIA LAI
2.1. Khái quát về tỉnh Gia Lai và các chính sách, pháp luật về
25
Đổi mới cách thức tổ chức thực hiện chính sách khen
59
thưởng theo hướng kịp thời, thiết thực, trọng tâm và hiệu
quả
3.3
Hoàn thiện quy định, pháp luật khen thưởng đối với người
65
lao động trực tiếp
3.4
Kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ 69
làm công tác khen thưởng; Tăng cường công tác thanh tra,
kiểm tra chấp hành quy định pháp luật về khen thưởng, nhất
là công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp
Tiểu kết chương 3
73
KẾT LUẬN
74
TÀI LIỆU THAM KHẢO
75
Chỉ thị
4.
HCM
5.
NĐ
Nghị định
6.
ND
Nhân dân
7.
NN
Nhà nước
8.
NLĐTT
9.
Văn phòng Chính phủ
14.
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
15.
TĐKT
Thi đua, khen thưởng
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1
2.2
2.3
Tên bảng
Về kết quả khen thưởng cho cá nhân giai đoạn 2014 – 2018
Về kết quả danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh cho cá nhân
từ năm 2014 đến năm 2018.
Về kết quả Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho cá nhân
Về kết quả danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh cho cá nhân
từ năm 2014 đến năm 2018
Về kết quả Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho cá nhân
từ năm 2014 đến năm 2018
Trang
50
51
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự
quan tâm, chỉ đạo sâu sắc đối với các phong trào thi đua và công tác khen thưởng,
đặc biệt là đã có nhiều chính sách, quy định pháp luật quan trọng điều về TĐKT.
Thi đua và khen thưởng là hai hoạt động luôn gắn kết và hỗ trợ cho nhau trong
nhiều phong trào từ lớn đến nhỏ, từ cả nước đến mỗi cụm dân cư. Khen thưởng là
một nội dung không thể thiếu của phong trào thi đua. Thi đua mà không có khen
thưởng thì rất khó để duy trì và tạo động lực cho người lao động. Trong thực tiễn
khen thưởng đã luôn tạo động lực thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước phát triển,
góp phần dành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc và xây dựng
đất nước Việt Nam. Qua khen thưởng đã xuất hiện nhiều tấm gương anh hùng, dũng
sĩ, chiến sĩ thi đua, tấm gương điển hình tiên tiến “người tốt” “việc tốt”.
Thực hiện lời kêu gọi thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thi đua
là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những người yêu
nước nhất”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước các phong trào thi đua yêu nước
xuất, học tập, công tác hoặc chiến đấu, phục vụ chiến đấu”; quy định cụ thể các
điều kiện, tiêu chuẩn khen thưởng cho người lao động trực tiếp tại các Điều 22, 23,
24 và 38.
Để triển khai thực hiện Luật Thi đua, khen thưởng; Nghị định số
91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thi
đua, khen thưởng, tỉnh Gia Lai đã kịp thời ban hành Quyết định số 33/2018/QĐUBND ngày 28/12/2018 về ban hành quy định thi đua, khen thưởng trên địa bàn
tỉnh Gia Lai nhằm cụ thể hóa quy định luật thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh,
trong đó, cụ thể tiêu chuẩn, điều kiện khen thưởng cho nông dân, người lao động
trực tiếp.
Từ những nội dung nêu trên cho thấy pháp luật hiện hành tuy đã có những
quy định cụ thể về khen thưởng cho người lao động trực tiếp, song trên thực tế việc
thực hiện nội dung này trong thực tiễn còn có những khó khăn và vướng mắc. Các
hướng dẫn về khen thưởng cho đối tượng là người lao động trực tiếp, khái niệm về
người lao động trực tiếp, công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp mới chỉ
dùng lại ở những điểm còn chung chung, chưa được quy định cụ thể, chi tiết. Mặc
dù nhiều năm qua, đối tượng lao động trực tiếp đã được khen thưởng, nhưng số
lượng không nhiều, không đồng đều. Công tác khen thưởng chưa thực sự chú trọng
nhiều đến người lao động trực tiếp và chưa thực sự quyết liệt.
Mặt khác, trong thực hiện trên thực tế vẫn còn tình trạng khen thưởng chưa
thực sự đúng người, còn có cách nghĩ cách làm “hoa thơm mỗi người hưởng một
tý” làm cho giá trị của công tác khen thưởng không còn nguyên bản.
Trên thực tế nếu khen thưởng đúng sẽ góp phần quan trọng trong việc xây
dựng cuộc sống mới, con người mới, nền văn hóa mới, thực sự làm cho cái thiện,
mặt tốt trong mỗi con người ngày càng được nhân lên làm cho cái xấu, cái ác đẩy
lùi trong xã hội. Khen thưởng đúng sẽ tạo động lực cho mỗi người trong lao động,
học tập và hướng thiện. Khen thưởng thiếu thực chất sẽ tác động ngược lại, làm cho
phong trào thi đua và động lực của người lao động giảm sút, tác động tiêu cực đến
mỗi người và toàn xã hội.
người lao động trực tiếp ở nước ta hiện nay”, Đề tài cấp khoa học cấp Bộ, Ban
TĐKT Trung ương.
Tài liệu dạng luận án, luận văn có:
- Đỗ Thúy Phượng (2010), Hoàn thiện pháp luật về TĐKT ở Việt Nam, luận
văn thạc sỹ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Dương Thị Tuyết Nhung (2015), Quản lý nhà nước về TĐKT trong các
trường đại học trên địa bàn Hà Nội, luận văn thạc sỹ luật học, Học viện KHXH.
- Nguyễn Đức Hiếu (2016), Hoàn thiện công tác TĐKT tại Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt nam, Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Học viện KHXH.
- Phùng Ngọc Tấn (2016), Pháp luật về thi đua khen thưởng ở Việt Nam hiện
nay, luận án tiến sĩ luật hiến pháp và luật hành chính, Học viện KHXH.
- Bùi Tuyết Nhung (2017) “Về thực hiện chính sách TĐKT từ thực tiễn của
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam” , luận văn thạc sĩ chính sách công, Học Viện
KHXH.
Tài liệu bài tạp chí có:
- Phùng Ngọc Tấn (2014), Giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực
hiện pháp luật về thi đua khen thưởng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật.
- Nguyễn Đình Châu (2014), Tăng cường làm tốt công tác TĐKT góp phần
thực hiện thắng lợi chiến lược xây dựng con người mới của Đảng trong giai đoạn
hiện nay, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 213 (tháng 5).
Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực
hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chính sách khen thưởng cho người lao động trực tiếp và thực hiện chính sách
khen thưởng cho người lao động trực tiếp trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung nghiên cứu: Thực hiện chính sách khen thưởng cho người
lao động trực tiếp.
- Về không gian: Tỉnh Gia Lai
- Về thời gian: từ năm 2014 đến năm 2018
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, các quan điểm của Đảng và quy định pháp luật Nhà nước về TĐKT.
- Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp phân tích: được sử dụng khi đánh giá các quan điểm, đường
lối của Đảng, các quy định pháp luật. Đề tài cũng sử dụng phương pháp này đối với
việc phân tích các số liệu trong bảng tổng hợp, tính toán tỷ lệ % để thấy được thực
trạng công tác khen thưởng cho người lao động trực tiếp ở tỉnh Gia Lai hiện nay.
+ Phương pháp tổng hợp: Sử dụng để tóm lược, rút ra những kết luận của vấn
đề nghiên cứu. Tổng hợp các kết quả nghiên cứu, số liệu thống kê về đối tượng
khen thưởng là người lao động trực tiếp từ năm 2014 đến năm 2018 trên địa bàn
tỉnh qua các báo cáo về công tác thi đua, khen thưởng hàng năm.
+ Phương pháp so sánh: Sử dụng khi phân tích, đánh giá các Nghị quyết,
chuyên đề của Đảng, các quy định của pháp luật về chính sách khen thưởng cho
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KHEN THƯỞNG VÀ
KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP
1.1. Một số khái niệm cơ bản về khen thưởng, chính sách khen thưởng
và người lao động
1.1.1. Khen thưởng
Khen thưởng là khái niệm không xa lạ, bởi khái niệm này được tiếp cận ở
nhiều văn bản về thi đua, khen thưởng qua từng thời kỳ khác nhau. Khen thưởng
được hiểu chung là việc làm của một cá nhân, tổ chức một cách chính thức đối với
đối tượng có thành tích nào đó.
Trong lịch sử đất nước, việc khen thưởng thường diễn ra rất đa dạng như:
“Khen thưởng người có công trong chiến trận, người có công trong việc đi sứ,
người phò tá có công lao tài đức, người tiến cử người hiền tài, người có lời tâu
đúng, người cấp dưới giữ đúng phép công, không vị nể người quyền quý cấp trên,
người có công làm thuỷ lợi, người có tài văn chương, người cao tuổi”[1].
Hình thức khen thưởng cũng rất đa dạng. Nếu còn sống người được khen
thưởng có thể nhận được một trong các hình thức: Được ban họ vua (Quốc thính),
được ghi công vào sử sách, được vẽ hình, được dựng bia ghi công, được phong
chức, được thưởng vàng bạc, được cấp ruộng đất. Nếu người có công đã mất thì
vua đích thân làm văn tế, giảm ăn, nghỉ coi trầu một số ngày, truy phong, truy tặng
hoặc gửi vàng bạc, lụa để viếng, phong quan chức cho con, cấp ruộng cho con cháu
thờ cúng.
Đối tượng khen thưởng rất rộng, từ người già đến trẻ em, từ nam giới đến nữ
giới, từ người Kinh đến người dân tộc thiểu số đều được khen thưởng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc khen thưởng, Người nêu rõ:
“Thưởng phạt phải nghiêm minh, có công thì thưởng, có lỗi thì phạt; có công mới
có huân, phải có công huân mới được thưởng huân chương, thưởng cái nào đích
hùng Công nghiệp năm 1952 để khen thưởng kịp thời những cá nhân và đơn vị có
thành tích trong cuộc kháng chiến kiến quốc.
Từ thực tiễn lịch sử trên đây, khen thưởng được hiểu là quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền để nhận xét, đánh giá về một tổ chức, cá nhân có
thành tích xuất sắc, có công đối với đất nước trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua khen thưởng năm 2013,
tại Khoản 2, Điều 3 định nghĩa về khái niệm khen thưởng như sau: “Khen thưởng
là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật
chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Khen thưởng là một trong những nội dung và hình thức không thể thiếu
trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhằm ghi nhận, biểu dương, tôn vinh
thành tích, công trạng, quá trình hoạt động đóng góp của tập thể và cá nhân trong
xây dựng, phát triển cơ quan, đơn vị và bảo vệ Tổ quốc.
1.1.2. Người lao động trực tiếp
Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thức về người lao động trực tiếp.
Trong các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước Việt Nam, các khái niệm về
lao động trực tiếp, lao động gián tiếp, người lao động, cán bộ quản lý, người lao
động trực tiếp đã được đề cập và sử dụng ở các mức độ sau đây:
Theo Bộ Luật lao động và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi
hành Luật lao động và một số công trình nghiên cứu [2] thì khái niệm “người lao
động” là dùng để chỉ một đối tượng chung là người làm công ăn lương, người trực
tiếp sử dụng sức lao động để tạo ra sản phẩm, của cải, cụ thể có thể hiểu dưới các
góc độ dưới đây:
Người lao động là người làm công ăn lương, là lao động phổ thông như:
Người công nhân, nông dân, thợ (thợ cả, thợ phụ, thợ lành nghề, thợ chưa lành
nghề), người làm thuê, người giúp việc.
Người lao động là người làm công ăn lương là người lao động trí thức như:
lý có phần khác và mang tính đặc thù hơn. Sản phẩm của họ mang tính trí tuệ và
“đầu ra” của sản phẩm là các văn bản tham mưu cho đội ngũ lãnh đạo nhà nước,
các ý tưởng đổi mới trong cải cách, tổ chức bộ máy nhà nước, các công việc mang
lại hiệu quả lớn cho xã hội như chăm sóc người bệnh, điều chế thuốc, gìn giữ văn
hóa cội nguồn dân tộc....
Đến nay, khái niệm “người lao động trực tiếp” vẫn chưa có một định nghĩa
cụ thể, chính thức bằng văn bản từ cơ quan quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu...
được công nhận hoặc được đông đảo công chúng công nhận về khái niệm này.
Từ những quan điểm quy định pháp luật nêu trên, khái niệm “người lao động
trực tiếp” có thể hiểu đối ngược với khái niệm “người lao động gián tiếp”. Người
lao động gián tiếp là những người được bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo, quản
lý theo quy định, những người không trực tiếp tạo ra sản phẩm mà chỉ là người có
công trong việc đóng góp một phần công sức, hỗ trợ để làm ra sản phẩm đó mà
thôi. Ví dụ, trong một môi trường sản xuất máy móc hoặc chế biến, chế tạo sản
phẩm, người lao động gián tiếp là người có công hỗ trợ trong việc tạo ra sản phẩm
như người quản lý, người hỗ trợ về nhân sự, người thiết kế, người phục vụ....
Từ các mô tả trên có thể rút ra đặc điểm người lao động trực tiếp như sau:
Là người lao động trực tiếp làm việc ở nhiều môi trường, nhiều công việc khác
nhau trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; Không phân biệt tuổi tác, giới
tính; Trực tiếp làm ra sản phẩm, của cải vật chất hoặc trực tiếp tạo ra những giá trị
tốt đẹp cho xã hội từ bàn tay, khối óc, trí tuệ của bản thân.
1.1.3. Chính sách, chính sách công
Chính sách được hiểu là tập hợp các quyết định hay chương trình hành động
do tập thể các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó
thuộc phạm vi thẩm quyền của mình [3]. Chính sách là một công cụ quan trọng của
quản lý. Mọi tổ chức, mọi cấp quản lý đều phải sử dụng các công cụ quản lý như
chính sách, quyết định quản lý, kế hoạch, chiến lược, quy định pháp luật để tác
cho các nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn góp phần làm tăng uy tín của
nhà nước trong quá trình quản lý xã hội. Thực hiện chính sách khen thưởng là tất
yếu, để duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách theo yêu cầu quản lý của nhà nước
và cũng là để đạt được mục tiêu của chính sách.
Mục tiêu của khen thưởng là nhằm động viên mọi cá nhân, tổ chức tham gia
các phong trào thi đua để từ đó phát huy tính tích cực trong công việc, phấn đấu vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; người được
khen thưởng tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được của mình, có thêm
những sáng kiến và đóng góp nhằm tăng cường khả năng chuyên môn và góp phần
phát triển cơ quan, tổ chức nơi mình làm việc; người chưa được khen cũng thấy
được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, cần phải phấn đấu. Vì vậy, thực hiện tốt
chính sách khen thưởng sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị
và nhân dân; làm cho các phong trào thi đua được phát triển sâu rộng, với nhiều
hình thức phong phú có tác dụng thúc đẩy, động viên cán bộ, công chức, người lao
động và các tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tích
cực học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh; từ đó tạo động lực thi đua hoàn thành
thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, nhiệm vụ chính trị được giao.
1.1.6. Khen thưởng cho người lao động trực tiếp
Khái niệm khen thưởng cho người lao động trực tiếp mới được đề cập tại
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi đua – Khen thưởng năm 2013 và các
Nghị định số 65/2014/NĐ-CP ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013;
Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng, tuy nhiên tại các văn
bản này cũng không ghi rõ về khái niệm người lao động trực tiếp.
Qua tìm hiểu và trên cơ sở khái niệm về khen thưởng, khái niệm về lao động
trực tiếp được đề cập trên, có thể khái niệm về khen thưởng cho người lao động
- Làm cho người tốt, việc tốt được ghi nhận, tôn vinh và lan tỏa giá trị tốt
đẹp trong cuộc sống
Công tác khen thưởng và thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao
động trực tiếp có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với cơ quan, tổ chức mà
còn đối với người lao động trực tiếp đó là: Khi công tác khen thưởng được thực
hiện đúng người, đúng việc sẽ giúp cho người tốt, việc tốt được ghi nhận tôn vinh
và lan tỏa giá trị tốt đẹp trong cuộc sống.
- Thúc đẩy phong trào thi đua lao động và sáng tạo lập thành tích trong mỗi
cá nhân người lao động
Người lao động trực tiếp chiếm số lượng đông đảo trong lực lượng lao động
nói chung. Vì vậy, việc quan tâm khen thưởng người lao động trực tiếp sẽ động
viên, khuyến khích được lực lượng này tích cực hăng say lao động, sản xuất, học
tập, sáng tạo… tạo động lực và niềm tin của người lao động trong xã hội, thúc đẩy
phong trào thi đua lao động, sáng tạo, góp phần xây dựng và phát triển cơ quan, đơn
vị, địa phương và sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.
Chính sách khen thưởng được thực hiện đúng lúc, đúng người, đúng việc sẽ
có sức mạnh lan tỏa trong cộng đồng, khiến môi trường làm việc, nơi làm việc, địa
phương hoặc đơn vị sẽ có tấm gương điển hình về người tốt, việc tốt, góp phần
nâng cao năng suất lao động, tạo niềm tin cho người lao động vào phong trào thi
đua yêu nước để xây dựng đất nước, quê hương ngày càng vững mạnh.
- Khen thưởng cho người lao động trực tiếp là nhân tố phát triển con người
toàn diện trong xu thế hội nhập toàn cầu.
Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của mỗi quốc gia, nhân tố con người
vẫn là quan trọng và đặt lên hàng đầu. Sự thành hay bại, phát triển hay trì trệ của
quốc gia nói chung cũng như trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội nói riêng, con
Sở Nội vụ (hoặc Văn phòng UBND cấp tỉnh), Hội đồng Thi đua – Khen thưởng cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan tham mưu cho cấp ủy Đảng và
chính quyền về công tác thi đua, khen thưởng của địa phương. Chủ thể thực hiện
công tác khen thưởng ở cấp huyện: Phòng Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Về thẩm quyền quyết định khen thưởng: Chủ tịch nước quyết định tặng
thưởng Danh hiệu vinh dự Nhà nước, Huân chương, Huy chương, Giải thưởng Hồ
Chí Minh...; Thủ tướng Chính phủ quyết định tặng thưởng Bằng khen và các danh
hiệu thi đua như Cờ thi đua của Chính phủ, Chiến sĩ thi đua toàn quốc; Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp huyện quyết định tặng thưởng Giấy khen và danh hiệu chiến sĩ thi
đua cơ sở, Lao động tiến tiến, Đơn vị tiên tiến...
Ba là, khen thưởng phải bám sát tiêu chuẩn và đối tượng
Đối với bất kỳ trường hợp khen thưởng nào cũng cần có quy định cụ thể của
pháp luật đối với đối tượng được khen, trình tự khen, quy trình khen và phải khen
đúng người, đúng việc.
Đối với đối tượng là người lao động trực tiếp khi được khen cũng cần xem
xét tính phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành. Người được khen phải là cá
nhân, trực tiếp lao động, có thành tích xuất sắc, có cống hiến cho cộng đồng, dân cư
những sản phẩm lao động sáng tạo thực sự có ích. Các cá nhân được khen thưởng
phải thực sự là hạt nhân tiêu biểu, suất sắc hoặc là người có công trạng nhất định
trong các phong trào thi đua được khởi xướng, phát động bởi cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, bởi tập thể, cơ quan, đơn vị nơi người lao động trực tiếp làm việc, sản
xuất.
1.3. Các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách khen thưởng cho
người lao động trực tiếp
Một là, Các văn bản về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nước về khen thưởng người lao động trực tiếp