QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM - Pdf 57

IỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ VŨ

QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ
HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ VŨ

QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ
HUYỆN NAM GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số

: 8 34 04 10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NINH THỊ THU THỦY

HÀ NỘI, năm 2019


CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI
TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN NAM GIANG. ......................................................68
3.1. Quan điểm, định hướng quản lý tài sản công tại Trung tâm y tế huyện Nam
Giang .........................................................................................................................68
3.2. Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài sản công tại Trung tâm y tế
huyện Nam Giang .....................................................................................................70
3.3. Một số kiến nghị.................................................................................................76
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC VIẾT TẮT
STT

Viết tắt

Nghĩa đầy đủ

1

BHYT

Bảo hiểm y tế

2

BV

Bệnh viện


8

NSNN

Ngân sách nhà nước

9

NVYT

Nhân viên y tế

10

TSCĐ

Tài sản cố định

11

TSC

Tài sản công

12

TTB

Trang thiết bị



DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1

Tên bảng
Phân loại cán bộ, viên chức của Trung tâm y tế huyện

Trang
42

Nam Giang (2016 – 2018)
2.2

Chất lượng tài sản cố định là Nhà cửa, vật kiến trúc của

45

Trung tâm y tế huyện Nam Giang năm 2017
2.3

Tài sản là phương tiện vận tải của Trung tâm y tế huyện

47

Nam Giang từ 2016 -2018
2.4



41

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ

Tên biểu đồ

Trang

2.1

Tài sản công Trung tâm y tế huyện Nam Giang

44

2.2

Cơ cấu TSCĐ không phải là đất theo giá trị kiểm kê
năm 2017

45

2.5

Tổng nguồn vốn mua sắm tài sản phân theo nguồn vốn

56




yêu cầu trong tình hình mới về khai thác nguồn lực, thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí, thất thoát, tham nhũng; khả năng thu hút các nguồn lực của xã hội cùng Nhà
nước đầu tư phát triển, khai thác tài sản còn hạn chế, đặc biệt là tài sản nhà nước tại
đơn vị sự nghiệp công lập, tài sản kết cấu hạ tầng.
Do tài sản nhà nước có phạm vi rất rộng, các cơ quan quản lý chưa nắm được
tổng thể về tài sản nhà nước, công tác hạch toán chưa đầy đủ, thống nhất, chưa gắn
quản lý về giá trị với quản lý về hiện vật, công tác quản lý bị buông lỏng trong thời
gian dài, hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, chưa theo kịp với yêu cầu quản lý; ý thức
trách nhiệm của một số cấp, ngành, cơ quan, đơn vị trong quản lý, sử dụng tài sản
chưa cao; công nghệ quản lý còn hạn chế; tổ chức bộ máy và nhân lực quản lý còn
thiếu, chưa đồng bộ; chế tài xử lý vi phạm còn thiếu và thực hiện chưa nghiêm.
Việc quản lý và sử dụng tài sản nhà nước chưa được nhiều cá nhân, tổ chức
thực hiện tốt trên thực tiễn. Phân biệt rạch ròi các khái niệm nhằm quản lý và sử
dụng tốt hơn là việc làm hết sức cần thiết. Luật quản lý, sử dụng tài sản công được
Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 21 tháng 6 năm 2017 với 10 chương, 134 Điều
và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 ra đời nhằm thay thế Luật Quản lý, sử
dụng tài sản nhà nước năm 2008. Trong Luật Quản lý, sử dụng tài sản công thì có
sử dụng thuật ngữ “Tài sản công”.
Tuy không trực tiếp tham gia vào sản xuất nhưng tài sản công giữ một vai trò
rất quan trọng là tiền đề, nền móng vững chắc cho sự phát triển nền kinh tế. Trong
thời qua, việc quản lý tài sản công luôn là vấn đề nóng bỏng được Quốc hội và
Chính phủ đặc biệt quan tâm. Bởi lẽ, tại một số cơ quan hành chính Nhà nước tài
sản công được quản lý và sử dụng chưa hiệu quả, vượt tiêu chuẩn định mức. Sử
dụng lãng phí, sai mục đích không đúng quy định làm thất thoát tài sản công đã và
đang đặt ra yêu cầu phải quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả lượng tài sản này.
Tài sản công trong các cơ sở y tế đóng vai trò cực kỳ quan trọng vì nó ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh của cơ sở y tế đó. Đối với
các tài sản là máy móc, trang thiết bị y tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc chẩn đoán,

các cơ sở y tế nói riêng đang là vấn đề được chính phủ và Nhà nước quan tâm. Việc
quản lý có hiệu quả tài sản công trong các cơ sở y tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng
góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh nên đã được nhiều tác giả quan tâm
3


nghiên cứu, điển hình như:
Nguyễn Văn Điều (2015), Tăng cường quản lý tài sản công tại Bệnh viện Đa
khoa tỉnh Bắc Giang, luận văn thạc sỹ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Luận văn
đã phân tích và luận giải những cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài sản công.
Phân tích, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình quản lý tài sản
công tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang. Đề xuất một số giải pháp thiết thực
nhằm nâng cao chất lượng quản lý tài sản công tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc
Giang trong thời gian đến. Đối tượng khảo sát trực tiếp của đề tài là công tác quản
lý tài sản công tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang. Ngoài ra luận văn còn khảo
sát bằng phiếu khảo sát cán bộ viên chức trong bệnh viện từ Ban lãnh đạo đến các
trưởng phó các khoa, phòng, các cán bộ công nhân viên liên quan đến quản lý Tài sản
công, người bệnh và người nhà người bệnh được sử dụng Tài sản công của Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Bắc Giang.
Trần Xuân Thắng (2016), Hoàn thiện công tác quản lý trang thiết bị y tế tại
Bệnh viện Đa khoa tỉnh ĐắkLắk, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Trường Đại
học Quốc tế Hồng Bàng, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở phân tích đánh giá
thực trạng quản lý trang thiết bị y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh ĐắkLắk, luận văn
cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý trang
thiết bị y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh ĐắkLắk trong thời gian đến.
Hoàng Thu Thủy (2018), Quản lý tài sản công tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt
Đức, luận văn thạc sỹ, Trường Học viện khoa học xã hội. Luận văn đã phân tích,
đánh giá những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tài sản công trong các bệnh viện.
Luận văn đã chỉ ra các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá quản lý tài sản công của bệnh viện,
các nhân tố bên ngoài và bên trong, chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới quản lý

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện, tăng cường quản lý tài sản công
tại Trung tâm Y tế huyện Nam Giang trong thời gian tới
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Lý luận và thực tiễn về tài sản công và
quản lý tài sản công tại Trung tâm Y tế huyện Nam Giang.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung:
5


Nghiên cứu các vấn đề về quản lý tài sản công tại Trung tâm Y tế huyện
Nam Giang; Đánh giá thực trạng tình hình quản lý tài sản công; Những ưu điểm,
nhược điểm, thuận lợi và khó khăn đối với công tác quản lý tài sản công; Các yếu tố
ảnh hưởng đến công tác quản lý tài sản công; Đề xuất giải pháp tăng cường quản
lý tài sản công tại Trung tâm Y tế huyện Nam Giang.
- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu Tài sản cố định và công cụ dụng
cụ tại Trung tâm Y tế huyện Nam Giang.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu từ năm 2016-2018, định hướng đến năm 2022.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin
Về thu thập thông tin thứ cấp: Luận văn sử dụng các thông tin thứ cấp từ các
báo cáo tài chính của các năm, Nội quy, quy chế của đơn vị, quy chế quản lý và sử
dụng tài sản, quy chế chi tiêu nội bộ và các báo cáo khác của Trung tâm Y tế huyện
Nam Giang. Các thông tin trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc trích
dẫn và được đưa vào trong danh mục tài liệu tham khảo.
Luận văn còn thu thập thông tin thứ cấp thông qua mạng internet, thu thập
thông tin từ thư viện của trường, các trường Đại học khối kinh tế,các sách, báo
chuyên ngành quản lý kinh tế, các trang thông tin điện tử của các cơ quan Nhà
nước, các báo cáo của các cơ quan Nhà nước, các luận án, luận văn,… có nội dung
liên quan đến đề tài.

Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo sẽ có 3
nội dung chính thông qua 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài sản công;
Chương 2: Thực trạng quản lý tài sản công tại Trung tâm Y tế huyện Nam
Giang;
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý tài sản công tại Trung tâm Y tế
huyện Nam Giang.

7


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ L Ý LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
TÀI SẢN CÔNG
1.1. Khái quát về tài sản công và quản lý tài sản công
1.1.1. Khái niệm tài sản công
Luật quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước năm 2008 theo đó thuật ngữ tài sản
Nhà nước được sử dụng, khái niệm này được định nghĩa như sau “Tài sản nhà nước
là Tài sản hình thành từ ngân sách nhà nước hoặc do pháp luật quy định thuộc sở
hữu, quản lý của Nhà nước, bao gồm: trụ sở làm việc, quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất; máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc; tài sản từ
nguồn viện trợ, tài trợ, đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước
cho Nhà nước và các tài sản khác do pháp luật quy định”, tuy nhiên tài sản Nhà
nước trong thực tiễn có phạm vi rất rộng, đồng thời khái niệm này chưa tách bạch
được nhiệm vụ quản lý về tài sản nhà nước và cung cấp dịch vụ công trong quản lý,
sử dụng tài sản nhà nước, vì vậy Luật quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 đã
thay khái niệm “Tài sản nhà nước”bằng khái niệm “Tài sản công”. Theo quy định
tại khoản 1 Điều 3 Luật quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 về giải thích từ
ngữ “Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung

vực: kinh tế, quốc phòng, an ninh…. TSC của các cơ quan này lớn nhất là nhà cửa
trụ sở làm việc, các phương tiện giao thông vận tải phục vụ đi lại công tác, các
TTB, máy móc phục vụ chuyên môn. Số lượng TSC cần phải có tuỳ thuộc vào quy
mô của đơn vị thể hiện ở: cơ cấu tổ chức bộ máy và biên chế cán bộ, công chức,
viên chức của mỗi cơ quan, đơn vị.
Thứ ba: Vốn đầu tư xây dựng và mua sắm TSC không thu hồi được trong
quá trình sử dụng TSC. Thực tế các nước trên thế giới cho thấy khoảng 80% chi
NSNN là chi chuyển giao và có rất ít khoản chi là chi thanh toán, được hoàn trả
trực tiếp. Khác với doanh nghiệp kinh doanh, TSC trong cơ quan chủ yếu là
những tài sản trong lĩnh vực tiêu dùng của cải vật chất, không thuộc lĩnh vực sản
xuất kinh doanh; trong quá trình sử dụng không tạo ra sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
9


để đưa ra thị trường; do đó, không chuyển giá trị bị hao mòn vào giá thành của sản
phẩm hoặc chi phí lưu thông. Vì thế, trong quá trình sử dụng, tuy tài sản bị hao mòn
nhưng không trích khấu hao được (đối với tài sản cố định), vì giá trị của nó không
được chuyển dần sang giá trị của sản phẩm vật chất, dịch vụ để hình thành bộ phận
giá trị mới cần phải thu hồi. Do không thực hiện trích khấu hao TSCĐ, nên nguồn
vốn đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản không thu hồi được trong quá trình sử dụng
và không có nghĩa vụ tài chính với NSNN trong việc sử dụng. Mức độ hao mòn của
TSC trong quá trình sử dụng nhanh hay chậm không ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích
của cơ quan nhà nước được thụ hưởng, Nhà nước không sử dụng các chính sách
khuyến khích trích khấu hao TSCĐ để thúc đẩy các cơ quan bảo vệ TSC như đối
với các tổ chức kinh tế sử dụng tài sản vào sản xuất kinh doanh. Nhà nước chỉ có
thể buộc các cơ quan này nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng TSC tiết kiệm và
hiệu quả bằng các biện pháp hành chính như quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng
TSC, cùng với biện pháp quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu về duy trì, bảo dưỡng,
sửa chữa TSC để buộc các cơ quan đơn vị sử dụng tài sản hiệu quả hơn (Nguyễn
Thị Bất và Nguyễn Văn Xa, 2009).

hủy và các hình thức xử lý khác đối với TSC.
Kiểm kê, báo cáo TSC.
Xây dựng, vận hành hệ thống thông tin TSC và Cơ sở dữ liệu quốc gia TSC.
Hợp tác quốc tế về TSC.
Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức,
đơn vị, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng TSC.
Thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc chấp hành pháp luật về quản lý,
sử dụng TSC và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng TSC.
Giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trong quản lý, sử dụng TSC.
11


Quản lý hoạt động dịch vụ về TSC.
Nội dung khác theo quy định của pháp luật có liên quan
1.1.4. Vai trò của quản lý tài sản công:
Quản lý để đảm bảo TSC được khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đang là
vấn đề được chú trọng quan tâm của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội. Vì vậy,
quản lý nhà nước về TSC nói chung và quản lý TSC tại các đơn vị sự nghiệp nói
riêng đã từng bước đi vào nề nếp, kỷ cương, công khai và có hiệu quả, nhất là sau
khi Luật quản lý, sử dụng tài sản công được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày
21/6/2017 với 10 chương, 134 Điều và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 ra
đời nhằm thay thế Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008.
TSC là một bộ phận quan trọng trong tổng nguồn của cải của mỗi quốc gia.
“Quản lý và khai thác TSC tốt sẽ góp phần chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng,
phát huy nguồn lực nhằm tái tạo tài sản và phát triển kinh tế - xã hội, giảm thiểu rủi
ro tài khóa, đặc biệt trong bối cảnh tình hình tài khóa gặp nhiều khó khăn, quá trình
chuyển đổi mục đích và quyền sử dụng tài sản đang diễn ra nhanh chóng”
Đảm bảo tiết kiệm và khai thác hiệu quả nguồn TSC của Nhà nước.
Đảm bảo tài sản công được sử dụng đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức
chế độ mà Nhà nước quy định.

Tổng vốn đầu tư cho TSC năm trước

TSC năm trước

x 100

Mức độ tăng trưởng dương cho thấy tài sản công của đơn vị ngày càng được
chú trọng đầu tư mở rộng và phát triển.
Đối với tài sản công của các bệnh viện công lập đều là những tài sản tiên
tiến, hàm lượng công nghệ cao nên cần lượng vốn đầu tư rất lớn. Chính vì vậy, quy
mô vốn đầu tư cho tài sản công của các bệnh viện ở mức cao.
Cơ cấu vốn đầu tư cho tài sản công của mỗi đơn vị trong từng thời kỳ. Tại
các đơn vị sự nghiệp thì vốn đầu tư cho tài sản công được hình thành chủ yếu từ hai
nguồn: nguồn NSNN cấp trực tiếp và nguồn kinh phí của đơn vị, ngoài ra còn có có
thể hình thành từ nguồn liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư công tư.
Cơ cấu vốn đầu tư cho tài sản công của mỗi đơn vị trong từng thời kỳ là chỉ
tiêu tương đối phản ánh thành phần và tỷ trọng của mỗi nguồn vốn huy động đầu tư
cho tài sản công của đơn vị trong một giai đoạn cụ thể.
Cơ cấu nguồn vốn
Nguồn vốn huy động thứ i
=

đầu tư thứ i

x 100

Tổng vốn đầu tư cho tài sản công

Nguồn vốn đầu tư chủ yếu tà NSNN cho thấy các đơn vị chưa mở rộng khả
năng xã hội hóa nguồn đầu tư cho tài sản công, khả năng mở rộng quy mô tài sản

được quan tâm đầu tư đổi mới nên năng lực hoạt động cũng vì thế sụt giảm theo.
Số lượng tài sản công bị hư hỏng, không thể khắc phục: là chỉ tiêu tuyệt đối
phản ánh số lượng tài sản công không còn sử dụng được do hư hỏng, hết thời gian
sử dụng. Các tài sản này cần nhanh chóng sửa chữa, khắc phục, nếu không thể khắc
phục được cần nhanh chóng thanh lý, nhượng bán để có nguồn tài chính đổi mới tài
sản công.
Công suất khai thác, sử dụng tài sản công: là chỉ tiêu tương đối phản ánh
mức độ khai thác, đưa tài sản công vào sử dụng. Nếu công suất đạt mức càng gần
100% tho thấy các tài sản công được khai thác tối đa cho hoạt động của các tổ chức
hành chính sự nghiệp. Tài sản công không bị lãng phí, hiệu quả hoạt động được
nâng cao.
Nếu công suất khai thác ở mức thấp, chứng tỏ tài sản công ít được đưa vào
vận hành, sử dụng gây ra hiện tượng lãng phí.
Nếu công suất khai thác quá cao, trên 100% thì cho thấy tài sản công đang
hoạt động trên công suất, dẫn tới việc tài sản nhanh chóng bị hư hỏng, quy mô tài
sản công không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của đơn vị.
Mức độ hiệu quả kinh tế, xã hội khi vận hành, sử dụng tài sản công như
nguồn thu, khả năng cung ứng dịch vụ công,… phụ thuộc vào từng loại tài sản.
Đối với tài sản công của các bệnh viện, mức độ hiệu quả kinh tế, xã hội
thường được đo lường bởi số thu viện phí hay số lượt người khám chữa bệnh,…
* Nhóm tiêu chí định tính
Nhóm chỉ tiêu định tính có thể sử dụng để đánh giá quản lý tài sản công như:
Mức độ chấp hành quy định pháp lý của Nhà nước và quy định quản lý của đơn vị.
14


Việc đầu tư, mua sắm, vận hành, sử dụng, thanh lý tài sản công của các đơn vị sự
nghiệp công lập phải tuân thủ những quy định chặt chẽ của pháp luật. Khi đánh giá
quản lý tài sản công của bệnh viện, có thể đánh giá mức độ chấp hành quy
định pháp lý của Nhà nước trong các đơn vị hành chính sự nghiệp xem có thực hiện

Bộ tài chính V/v: Hướng dẫn mua sắm tài sản công từ nguồn NSNN năm 2018..
Ðể khai thác, quản lý, sử dụng TSC hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí, góp
phần tăng thu, giảm chi cho NSNN, ngoài việc thực hiện nghiêm Luật Quản lý, sử
dụng TSC còn phải tuân thủ các văn bản pháp luật liên quan như Luật Ðất đai, Luật
Ðấu thầu, Luật Thực hành, tiết kiệm, chống lãng phí…
1.2.2. Quản lý đầu tư, mua sắm tài sản công
Đối với TSC việc quyết định chủ trương đầu tư mua sắm tài sản phải căn cứ
vào tiêu chuẩn định mức, sử dụng tài sản, chế độ quản lý tài sản, phù hợp vớikhả
năng và nhu cầu thực tế cần đầu tư, xây dựng, mua sắm tài sản của từng đơn vị.
Trong dự toán ngân sách hàng năm cần xác định nhu cầu vốn cho đầu tư mua sắm
tài sản . Sau khi có phê duyệt chủ trương đầu tư, mua sắm tài sản, việc thực hiện
đầu tư, mua sắm tài sản phải được thực hiện theo quy định Pháp luật về đầu tư và
xây dựng, quy định về mua sắm TSC.
Đầu tư mua sắm TSC có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu sử
dụng TSC ở các Bệnh viện. Cần quan tâm hơn nữa đến việc tăng cường đầu tư mua
sắm TSC bằng cách tạo nhiều điều kiện về kinh phí, huy động mọi nguồn vốn.
Quản lý khâu lập kế hoạch mua sắm là nội dung đầu tiên của quản lý đầu tư TSC,
theo đó phải xác định được các căn cứ lập kế hoạch mua sắm TSC, các thủ tục và
phương pháp lập kế hoạch mua sắm và lên kế hoạch mua sắm TSC hàng năm cho
Trung tâm. Kế hoạch đầu tư, mua sắm tài sản công phải lập theo thứ tự ưu tiên
những tài sản nào có nhu cầu sử dụng nhất xác thực với tiình hình thực tế tại đơn vị.
Quản lý mua sắm theo nguồn vốn hình thành: Quản lý đầu tư TSC đòi hỏi
cần nắm rõ nguồn vốn hình thành nên tài sản đó. Các nguồn vốn đầu tư cho việc
mua sắm TSC rất đa dạng: từ liên doanh liên kết, từ nguồn vốn NSNN cấp, nguồn
quỹ phát triển các hoạt động sự nghiệp của Trung tâm và đề án xã hội hoá y tế, cổ
phần công tư...
Quản lý nguồn nhập tài sản công y tế: Xác định chính xác nguồn nhập TSC y
tế sẽ giúp quá trình quản lý chặt chẽ hơn nguồn gốc, xuất xứ, số lượng và chất
16


trên hóa
đơn

mại hoặc
giảm giá
(nếu có)

Các khoản

chuyển, bốc dỡ,

chiết khấu
thương

phí vận

Chi

Các khoản

+

chi phí sửa
chữa,
tạo,

cải
nâng

cấp, chi phí lắp

lại

 Nguyên giá của tài sản cố định hình thành từ đầu tư xây dựng là giá trị quyết
17


toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về đầu tư xây
dựng hiện hành.
- Trường hợp tài sản đã đưa vào sử dụng (do đã hoàn thành việc đầu tư xây
dựng) nhưng chưa có quyết toán được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
thì cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện ghi sổ và hạch toán kế toán tài sản cố định kể
từ ngày có Biên bản nghiệm thu đưa vào sử dụng. Nguyên giá ghi sổ hạch toán là
nguyên giá tạm tính. Nguyên giá tạm tính trong trường hợp này được lựa chọn theo
thứ tự ưu tiên sau:
+ Giá trị đề nghị quyết toán;
+ Giá trị xác định theo Biên bản nghiệm thu;
+ Giá trị dự toán Dự án đã được phê duyệt.
Khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán, đơn vị thực hiện điều chỉnh
lại nguyên giá tạm tính trên sổ kế toán theo giá trị quyết toán được duyệt.
1.2.3. Quản lý sử dụng tài sản công
Mọi TSC đều phải được Nhà nước giao quyền quản lý, quyền sử dụng cho tổ
chức, đơn vị theo quy định của Luật tài sản công và pháp luật có liên quan.
TSC do Nhà nước đầu tư phải được quản lý chặt chẽ ở tất cả các khâu: khai
thác, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, được thống kê, kế toán đầy đủ về hiện vật và giá
trị. Đối với các tài sản có nguy cơ chịu rủi ro cao do thiên tai, hỏa hoạn và nguyên
nhân bất khả kháng khác hằng năm phải mua bảo hiểm tài sản và phương tiện.
TSC là tài nguyên phải thường xuyên được kiểm kê, thống kê về hiện vật,
ghi nhận thông tin phù hợp với tính chất, đặc điểm của tài sản; được quản lý, bảo
vệ, khai thác đúng quy trình, kế hoạch bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả và đúng pháp
luật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status