Khảo sát công tác bảo quản và dự trữ vaccine tại trung tâm y tế huyện vũ thư tỉnh thái bình năm 2014 - Pdf 31

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

VŨ MINH HẢI

KHẢO SÁT CÔNG TÁC BẢO QUẢN
VÀ DỰ TRỮ VACCINE TẠI
TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN VŨ THƯ
TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2014

LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

HÀ NỘI 2015


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VŨ MINH HẢI

KHẢO SÁT CÔNG TÁC BẢO QUẢN
VÀ DỰ TRỮ VACCINE TẠI
TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN VŨ THƯ
TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2014
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TCQLD
MÃ SỐ: 60720412
Người hướng dẫn: GSTS.Nguyễn Thanh Bình

HÀ NỘI - 2015



Lịch tiêm chủng vaccine cho trẻ em trong chương trình
9
TCMR

2.1

Chỉ tiêu và cơ sở đánh giá các hoạt động dự trữ

25

3.1

Cơ cấu nhân lực của Trung tâm

27

3.2

Tỷ lệ cán bộ được tập huấn về tiêm chủng và vaccine

28

3.3

Nguồn nhân lực tham gia bảo quản vaccine

28

3.4



39

3.11

Tủ bảo quản số 2 số lượng vaccine trả về năm2014

40

3.12

Công tác dự trù - xuất vaccine năm 2014

42

3.13

Tình hình nhập- xuất- dự trữ vaccine năm 2014

43

3.14

Số lần nhập kho tuân theo nguyên tắc FEFO năm 2014

44

3.15

Số phiếu xuất tuân thủ theo nguyên tắc FEFO

1.1

Minh họa nguyên tắc FIFO

14

1.2

Minh họa nguyên tắc FEFO

14

3.1

Sơ đồ tổ chức nhân lực của Trung tâm

26

3.2

Sơ đồ bố trí kho

30

3.3

Tủ lạnh bảo quản vaccine.

33


Tiếng anh
Acquired immunodeficiency
syndrome

BKT

Tiếng việt
Hội chứng suy giảm giảm
miễn dịch mắc phải
Bơm kim tiêm

DNA

Deoxyribonucleic acid

HBV

Hepatitis B virus

Viêm gan siêu vi B

HCV

Hepatitis C virus

Viêm gan siêu vi C

HPV

Human papillomavirus



MỤC LỤC 
ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN......................................................................................................... 3

1.1. Tình hình tiêm chủng vaccin trên thế giới ......................................................... 3
1.1.1. Lịch sử phát triển của tiêm chủng vaccine trên thế giới.................................. 3
1.1.2.Vấn đề về an toàn tiêm chủng vaccine trên thế giới......................................... 5
1.2. Tình hình tiêm chủng tại Việt Nam .................................................................... 6
1.2.1. Tình hình tiêm chủng tại Việt Nam trong những năm gần đây....................... 6
1.2.2 Các vaccine triển khai trong chương trình tiêm chủng mở rộng:..................... 8
1.3. Vaccin, bảo quản và dự trữ vaccin ................................................................... 12
1.3.1. Khái niệm ...................................................................................................... 12
1.3.2. Phân loại ........................................................................................................ 12
1.3.3. Bảo quản và dự trữ vaccine ........................................................................... 12
1.4. Đôi nét về trung tâm y tế huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình ............................... 18
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......................................... 21

2.1. Đối tương, địa điểm và thời gian nghiên cứu................................................... 21
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................... 21
2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ................................................................. 21
2.2. Phương pháp nghiên cứu................................................................................... 21
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ....................................................................................... 21
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu ........................................................................ 21
2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu...................................................................................... 23
2.3.1. Các chỉ tiêu nghiên cứu về công tác bảo quản vaccine tại kho. .................... 23
2.3.2. Các chỉ tiêu về công tác dự trữ vaccine tại kho Trung tâm. .......................... 23
2.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu ........................................................... 24
2.4.1. Các chỉ số nghiên cứu.................................................................................... 24

gây ra. Tiêm chủng phòng bệnh bằng các vaccine là một thành tựu trong y
học ở thế kỷ XX có ý nghĩa to lớn trong Y học dự phòng. Chương trình
tiêm chủng mở rộng đã góp phần làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc và chết của
trẻ em dưới 1 tuổi và 5 tuổi về các bệnh truyền nhiễm. Ước tính hàng năm
tiêm chủng đã cứu sống khoảng 1 triệu trẻ em ở các nước đang phát triển,
và cứu sống khoảng 3 triệu người trên toàn thế giới, khống chế và loại trừ
được nhiều căn bệnh truyền nhiễm [2].
Từ năm 1974, Tổ chức Y tế thế giới đã vận động các nước thành
viên thực hiện Chương trình tiêm chủng mở rộng, bởi hàng năm có khoảng
5 triệu trẻ em chết và 5 triệu trẻ em khác tàn tật vì mắc các căn bệnh truyền
nhiễm [3]. Chương trình tiêm chủng mở rộng được triển khai ở Việt Nam
từ năm 1981 được sự hỗ trợ của tổ chức Y tế Thế giới và quỹ nhi đồng Liên
hợp quốc với vaxin phòng 6 bệnh truyền nhiễm: Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván,
Sởi, Lao, Bại liệt cho trẻ em dưới 1 tuổi. Năm 1985 TCMR được đẩy mạnh
và triển khai trên phạm vi cả nước. Mục tiêu của Chương trình tiêm chủng
mở rộng đã hoàn thành với tỷ lệ trên 90% cho toàn trẻ em dưới 1 tuổi trong
cả nước được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vaccine. Năm 2003 có 100% số
 

1


huyện trên cả nước được tiêm vaccine viêm gan B. Năm 2004 tỷ lệ tiêm 3
mũi viêm gan B đạt 94,2%. Từ đó, vaccine viêm gan B được coi là vaccine
thứ 7 trong chương trình tiêm chủng mà trẻ em Việt Nam dưới 1 tuổi phải
được tiêm chủng đầy đủ.
Để tìm hiểu về thực trạng nhân lực, trang thiết bị bảo quản vaccine
và tình hình cung ứng và sử dụng vaccine tại Trung tâm Y tế huyện Vũ
Thư năm 2014, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Khảo sát công tác
bảo quản và dự trữ vaccine tại Trung tâm y tế huyện Vũ Thư năm 2014”

(WHO) đã đề xướng và vận động các nước thành viên thực hiện một
chương trình có ích trong khuôn khổ các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban
đầu nhằm thực hiện mục tiêu “Sức khỏe cho tất cả mọi người vào năm
2000” [24]. Đó là Chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR), viết tắt theo
tiếng anh là EPI (Expanded Programe on Immunization) [22]. Mục đích
của Chương trình là mở rộng, phát triển công tác tiêm chủng cho toàn thể
trẻ em trên thế giới đặc biệt trẻ em ở các nước đang phát triển.
Nhờ có tiêm chủng mà bệnh đậu mùa đã từng giết chết 2 triệu người
mỗi năm được thanh toán vào năm 1979. Đã từng là dịch bệnh trên các
châu lục, bại liệt giờ đây chỉ còn giới hạn ở châu Phi và Nam Á. Các nước
châu Mỹ đã tuyên bố thanh toán được căn bệnh bại liệt vào năm 1994, sau

 

3


đó là khu vực Tây Thái Bình Dương (2000) và Châu Âu (2002) [23]. 2/3 số
nước đã loại trừ được uốn ván sơ sinh [24]. Số trường hợp tử vong do sởi
được báo cáo giảm từ 6 triệu xuống còn 1 triệu/ năm, số mắc ho gà đã giảm
từ 3 triệu trường hợp/ năm xuống chỉ còn 250.000 trường hợp, số mắc bạch
hầu đã giảm từ 80.000 trường hợp năm 1975 xuống còn 10.000 trường hợp
hiện nay, vaccine phòng HIB đã làm giảm 90% tỷ lệ mắc bệnh viêm màng
não do Hib ở châu Âu trong 10 năm. Năm 1990, hơn 100 triệu trẻ em dưới
1 tuổi trong các nước phát triển, 80% tổng số trẻ em toàn cầu đã được tiêm
chủng thành công phòng chống bệnh sởi, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt
và lao nhờ Chương trình TCMR [22].
Bên cạnh đó, chương trình tiêm chủng mở rộng vẫn còn phải đối mặt
với nhiều khó khăn: bệnh bại liệt vẫn còn lưu hành nặng ở một số nước
châu Phi, châu Á với hàng ngàn ca mắc năm 1999, đặc biệt ở Ấn Độ,

chủng giảm (trước kia cao tới 80%) thì tỷ lệ ấy còn giảm xuống 30%. Từ số
ca mắc hàng năm theo báo cáo là 2000 - 8000 lên đến 100.000 trường hợp.
Bên cạnh đó, theo WHO hàng năm trên toàn thế giới ước tính có
khoảng 800 triệu mũi tiêm được thực hiện trong tiêm chủng. Theo điều tra
của WHO tại 4/6 khu vực thấy rằng có tới 30% số mũi tiêm chủng là không
an toàn [20], [25]
Qui trình tiêm không an toàn còn là nguyên nhân gây ra hàng triệu ca
nhiễm HBV, HCV, HIV/AIDS mỗi năm. Ở các nước đang phát triển, mỗi
năm có khoảng 1/4 trong tổng số 21 triệu ca nhiễm mới HBV do tiêm
không an toàn.
Cơ thể cảm nhiễm và cơ chế miễn dịch
Cơ thể cảm nhiễm: là những cơ thể dễ dàng cảm thụ với mầm bệnh
khi chúng xâm nhập vào cơ thể. Vì cơ thể chưa có miễn dịch tương ứng
(hoặc hết miễn dịch).
Cơ thể miễn dịch: là những cơ thể không cảm thụ với mầm bệnh mặc
dù có sự xâm của mầm bệnh vào cơ thể bởi vì cơ thể đã có miễn dịch tương
ứng. Được phân loại như sau:

 

5


-

Miễn dịch tự nhiên: mang tính nòi giống.

-

Miễn dịch thu được tự nhiên chủ động: có sau mắc bệnh.

còn để xã trắng về tiêm chủng, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 6 bệnh truyền
nhiễm cho trẻ em liên tục đạt trên 90%. Năm 1997, triển khai 4 vaccine
mới viêm gan B, tả, thương hàn và viêm não Nhật Bản B. Tháng 12 năm
2000 Chương trình TCMR hoàn thành mục tiêu thanh toán bệnh bại liệt.

 

6


Năm 1999 và năm 2000 tổ chức chiến dịch thí điểm tiêm nhắc mũi 2
vaccine sởi với tỷ lệ cao 99,7% trẻ em dưới 10 tuổi [19].
Từ năm 2001- 2005: Duy trì được những thành quả đã đạt và tỷ lệ
tiêm chủng đầy đủ 6 loại vaccine cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt trên 90%, tiêm
đủ liều vaccine uốn ván cho phụ nữ có thai đạt trên 80% và nữ tuổi sinh đẻ
đạt trên 90% ở các huyện có nguy cơ cao. Từ năm 2001 triển khai các
chiến dịch tiêm vaccine sởi mũi 2 cho trẻ từ 9 tháng tới dưới 10 tuổi trên
toàn quốc và chiến dịch tiêm bổ sung vaccine sởi cho học sinh phổ thông
cơ sở, phổ thông trung học, 80% đối tượng vùng nguy cơ cao được tiêm
vaccine viêm gan B, viêm não Nhật Bản, thương hàn, và uống vaccine tả.
Năm 2002, vaccine viêm gan B được triển khai trên 61 tỉnh, thành phố, kết
quả 987.615 trẻ em dưới 1 tuổi trên cả nước [13].
Sau hơn 20 năm hoạt động, Chương trình TCMR đã thu được những
thành quả to lớn và được Quốc tế thừa nhận là điểm sáng về công tác
TCMR trong các nước đang phát triển với các kết quả: Thanh toán bệnh bại
liệt năm 2000, loại trừ được uốn ván sơ sinh được đánh giá và công nhận
tháng 12 năm 2005, số mắc bệnh sởi từ 125.176 ca/năm 1984 chỉ còn
227ca năm 2004, tỷ lệ mắc ho gà giảm 183 lần, tỷ lệ mắc bệnh bạch hầu ở
trẻ em giảm từ 3,9/100.000 dân ( năm 1985) xuống còn 0,05/100.000 dân
(năm 2004) [11].

mở rộng tại Việt Nam ngay từ khi bắt đầu triển khai thì các khâu trong dây
chuyền sản xuất vaccine đã được kiểm tra nghiêm ngặt.

 

8


Bảng 1.1. Lịch tiêm chủng vaccine cho trẻ em trong chương trình TCMR
Tháng tuổi

Vaccine cần tiêm

Sơ sinh (càng sớm càng - BCG (phòng lao)
tốt)
- Viêm gan B
2 tháng tuổi

3 tháng tuổi

4 tháng tuổi

- Bại liệt
- Bạch hầu, Ho gà,

Uốn ván
- Viêm gan B
- Bại liệt
- Bạch hầu, Ho gà,
Uốn ván


Viêm não Nhật bản

sau mũi 1)
- Vaccine viêm não mũi 3 (một năm
sau mũi 2)

Từ 2-5 tuổi

Vaccine tả

2 lần uống ( lần 2 sau lần 1 hai tuần)

Từ 3-5 tuổi

Vaccine Thương hàn

Tiêm 1 mũi duy nhất

Từ năm 1986 - 1990 BKT sử dụng trong tiêm chủng là BKT nhựa
hoặc thủy tinh sử dụng nhiều lần, dụng cụ khử trùng BKT là nồi hấp. Một
số cơ sở ngại sử dụng nồi hấp hoặc sử dụng sai kỹ thuật khử trùng BKT
[5]. Giai đoạn 1991 - 2000 Chương trình TCMR đã đưa BKT sử dụng 1 lần
vào sử dụng và dùng 1 hộp an toàn để thu gom BKT đã sử dụng.Song nguy
cơ không đảm bảo vô khuẩn mũi tiêm vẫn còn. Từ năm 2002, chương trình
TCMR được sự hỗ trợ của liên minh toàn cầu về vaccine và tiêm chủng
(GAVI), các tổ chức Quốc tế khác và sự nỗ lực sản xuất trong nước.

 



 

10


Sau sự cố một số trẻ có phản ứng mạnh và 01 trường hợp tử vong sau
khi tiêm chủng vaccine tại Thành phố Hồ Chí Minh tháng 5 năm 2006, số
trẻ em đi tiêm chủng giảm rõ rệt, có nơi giảm 30-40%, nguy cơ cho việc
bùng phát dịch nếu tỷ lệ tiêm chủng thấp kéo dài [2]. Tại trạm y tế xã
Tương Giang Thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh đã xảy ra tiêm nhầm vaccine
DPT (Bạch hầu -ho gà - uốn ván) cho 31 phụ nữ có thai do sai sót của cán
bộ tiêm chủng. Vụ 3 trẻ em tử vong do tiêm nhầm thuốc gây mê ở Quảng
Trị mới đây là sự cố với những người làm công tác dự phòng cho Chương
trình tiêm chủng mở rộng.
Tại Thái Bình tuyến tỉnh có Trung tâm y tế dự phòng tỉnh trực tiếp chỉ
đạo 8 Trung tâm y tế huyện, thành phố thực hiện tốt Chương trình TCMR.
Trước đây khi chưa triển khai TCMR, hàng năm tỷ lệ mắc các bệnh truyền
nhiễm như sởi, ho gà, bạch hầu, bại liệt, uốn ván sơ sinh đều ở mức trên
1/100.000 dân. Các báo cáo thống kê đã cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ
cho trẻ em dưới 1 tuổi đã được nâng lên hàng năm. Năm 1990 tỷ lệ các mũi
tiêm chủng luôn đạt trên 90%, từ đó tới nay hoạt động TCMR tiếp tục được
duy trì, mở rộng và nâng cao [27].
Theo WHO phương pháp giám sát, đánh giá định kỳ thực hành tiêm
chủng vào công tác giám sát phản ứng sau tiêm chủng rất quan trọng để
nhằm phát hiện ngăn nguy cơ xảy ra những hậu quả đáng tiếc do tiêm
chủng không an toàn gây ra cho người được tiêm, nhân viên y tế và cộng
đồng.

 

thể làm hỏng vaccine [5], [7], [8]. Vaccine cần phải được bảo quản liên tục
trong dây truyền lạnh từ khi xuất xưởng cho tới điểm tiêm chủng và trong

 

12


suốt buổi tiêm chủng.Vaccine bị phơi nhiễm ở nhiệt độ cao sẽ bị mất hiệu
lực hoặc có thể gây ra các phản ứng không mong muốn [1], [9].
Các vaccine giải độc tố như vaccine uốn ván, bạch hầu còn bị hỏng
bởi nhiệt độ đông băng, vì vậy ở tất cả các tuyến y tế hiện nay cần được
bảo quản và vận chuyển vaccine trong điều kiện từ +20C đến +80C và
không được để đông băng.
Tất cả các vaccine sau khi pha đều trở nên nhạy cảm với nhiệt độ cao
và ánh sáng và chỉ sử dụng sau khi pha 6 giờ. Vì vậy vaccine được đựng
trong lọ sẫm màu. Ngoài nhiệt độ và ánh sáng, các chất tẩy uế, sát trùng
đều có thể phá hủy vaccine.
Hệ thống dây truyền lạnh bảo quản vaccine trong chương trình TCMR
đã được trang bị từ trung ương đến xã, phường. Mặc dù tình trạng dây
truyền lạnh cũ và thiếu ở một số địa phương nhưng nhìn chung các địa
phương đều cố gắng khắc phục để bảo quản vaccine theo đúng qui định của
chương trình tiêm chủng mở rộng.
Theo dõi nhiệt độ dây chuyền lạnh bảo quản vaccine: vaccine phải
được theo dõi nhiệt độ 2 lần/ ngày và 7 ngày trong tuần. Trong buổi tiêm
chủng vaccine cũng phải được theo dõi bảo quản.
1.3.3.2. Dự trữ vaccine
Dự trữ vaccine không chỉ là việc cất giữ hàng hoá ở trong kho mà
còn là cả một quá trình xuất nhập kho hợp lí, quá trình kiểm tra, kiểm kê,
dự trữ và các biện pháp kĩ thuật bảo quản hàng hoá từ khâu nguyên liệu đến







A: Nhập kho trước nhất,



 

 











B: Nhập kho trước C

Hình 1.1. Minh họa nguyên tắc FIFO
+ FEFO (First Expires First Out): Vaccine hết hạn dùng trước thì xuất
trước.
Nhập:






B: Hết hạn trước nhất, A: Hết hạn trước C
Hình 1.2 Minh họa nguyên tắc FEFO
- Vaccine chờ loại bỏ cần phải có dấu hiệu nhận dạng và được kiểm
soát biệt trữ cách ly hợp lý nhằm ngăn ngừa việc sử dụng chúng vào lưu
thông, sử dụng.

 

14


- Phải có một hệ thống sổ sách, các qui trình thao tác chuẩn đảm bảo cho
công tác kiểm soát, theo dõi việc xuất, nhập và chất lượng vaccine.
* Nhãn và bao bì
- Các vaccine phải được bảo quản trong các bao bì thích hợp không
gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng vaccine, đồng thời có khả năng bảo vệ
vaccine khỏi các ảnh hưởng của môi trường.
- Tất cả các bao bì của vaccine phải có nhãn rõ ràng, dễ đọc, đủ các
nội dung, hình thức đáp ứng các qui định của pháp luật về nhãn hiệu của
vaccine không được sử dụng các từ viết tắt, tên hoặc mã số không được
phép [3], [10].
* Tiếp nhận vaccine:
- Có khu vực tiếp nhận riêng, đủ điều kiện bảo quản để bảo vệ
vaccine tránh khỏi các ảnh hưởng xấu của nhiệt độ ánh sáng trong suốt thời
gian chờ nhận và kiểm tra.

- Phải có và lưu các bản ghi chép thể hiện tất cả các lần nhập kho, xuất
kho của vaccine, bao bì đóng gói phù hợp với lô sản xuất.
- Việc cấp phát cần phải tuân theo các nguyên tắc quay vòng kho:
(nhập trước xuất trước - FIFO) đặc biệt là thuốc có hạn dùng. Chú ý một số
loại vaccine nhập sau có hạn dùng ngắn hơn vaccine cùng loại được nhập
trước đó thì thuốc có hạn dùng ngắn hơn phải được xuất cấp phát trước.
- Các vaccine còn tồn cần phải được bảo quản đúng quy trình gửi lại
kho Trung tâm để bảo quản.
- Các vaccine có dấu hiệu nghi ngờ phải thông báo ngay với bộ phận
kiểm tra chất lượng.

 

16


* Gửi hàng (vận chuyển bằng cách gửi hàng):
- Việc cấp phát và xếp hàng lên phương tiện vận chuyển chỉ được thực
hiện sau khi có lệnh xuất hàng bằng văn bản. Các nguyên tắc, qui định về qui
trình vận chuyển bằng cách gửi hàng phải được thiết lập tùy theo bản chất của
sản phẩm và sau khi đã cân nhắc tất cả các biện pháp phòng ngừa.
- Yêu cầu bảo quản vaccine ở điều kiện từ +2 0C đến + 80C , trong thời
gian vận chuyển, phải đảm bảo các điều kiện đó.
- Tài liệu vận chuyển gửi hàng phải ghi rõ: Thời gian vận chuyển; tên
khách hàng, địa chỉ; tên, địa chỉ người gửi; tên, địa chỉ người vận chuyển;
tên vaccine, dạng vaccine, hàm lượng, số lượng, số lô, điều kiện vận
chuyển, bảo quản.
- Tất cả các tài liệu liên quan đến việc vận chuyển, gửi hàng phải được
lưu tại bên gửi và bên nhận hàng và bảo quản ở nơi an toàn [3], [13].
* Hồ sơ tài liệu:

tế huyện trước đây. Đến tháng 07/2009 được đổi tên thành Trung tâm Y tế
Vũ Thư theo Quyết định 997/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thái Bình quản
lý cơ sở vật chất và nhân lực trạm y tế 30 xã, thị trấn trên địa bàn huyện.
Trung tâm y tế huyện Vũ Thư là đơn vị sự nghiệp trực thuộc sở y tế
chịu sự quản lý toàn diện của SYT Thái Bình, sự quản lý nhà nước của
UBND huyện Vũ Thư, về sự chỉ đạo về chuyên môn, kỹ thuật của Trung
tâm Y tế dự phòng các tỉnh và các Trung tâm chuyên ngành tuyến tỉnh.
Hiện tại về mô hình tổ chức của Trung tâm Y tế huyện Vũ Thư gồm 2
phòng chức năng, 5 khoa chuyên môn kỹ thuật và 30 trạm y tế xã, thị trấn.
Nhân lực Trung tâm Y tế huyện Vũ Thư gồm 43 CBCNV làm nhiệm
vụ chuyên môn là phòng chống dịch và CSSK ban đầu cho nhân dân và
179 cán bộ trạm y tế các xã làm công tác CSSK ban đầu, khám chữa bệnh

 

18


Trích đoạn Cơ cấu nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo quản vaccin Trang thiết bị bảo quản vaccine
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status