BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
*** NGÔ THỊ MINH PHƯƠNG PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG
BẢO QUẢN VÀ SỬ DỤNG VACXIN
TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ
VIỆT TRÌ NĂM 2012 LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I HÀ NỘI 2014
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
đã giúp đỡ, ủng hộ tôi trong thời gian qua.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
TS. Vũ Thị Trâm – người thầy kính mến đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt thời
gian học tập và thực hiện đề tài. Cảm ơn cô vì ngoài những kiến thức chuyên
môn tôi còn được dạy phương pháp làm việc hiệu quả, khoa học, trung thực.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới TS. Nguyễn Thị Thanh Hương cùng toàn
thể các thầy cô trong bộ môn Quản lý và Kinh tế dược đã tận tình giúp đỡ tôi
hoàn thành đề tài này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban giám đốc trung tâm y tế
thành phố Việt Trì nơi tôi công tác đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học
tập nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn và hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người bạn bè trong lớp CKI
khóa 14 và các bạn bè thân thiết đã cùng chia sẻ những khó khăn trong cuộc
sống và dành cho tôi những tình cảm, sự động viên khích lệ trong suốt thời
gian qua
Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2014
Ngô Thị Minh Phương
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Lịch tiêm chủng vacxin cho trẻ em trong chương trình
tiêm chủng mở rộng
8
1.2
Các phản ứng thường gặp sau khi tiêm vắc xin
13
1.3
Những phản ứng hiếm gặp của vắc xin
32
3.13
Trang thiết bị bảo quản vacxin tại 23 trạm y tế xã
phường
33
3.14
Vị trí để vacxin trong tủ bảo quản tại trung tâm
34
3.15
Trang thiết bị cơ bản phục vụ tiêm chủng tại trung tâm
37
3.16
Kết quả thực hiện một số quy chế chuyên môn tại các
trạm y tế xã/phường
38
3.17
Kết quả thực hiện một số quy chế chuyên môn tại các
trạm y tế xã/phường
38
3.18
Tình hình cung ứng và sử dụng vacxin tại năm 2012
39
3.19
Tình hình tiêm chủng cho trẻ em dưới 1 tuổi năm 2012.
40
3.20
Thống kê tình hình tiêm chủng cho trẻ em trên 1 tuổi
năm 2012.
41
3.21
3.2
Sơ đồ nhập, xuất vacxin của trung tâm
27
3.3
Tủ lạnh bảo quản vacxin.
34
3.4
Hòm lạnh bảo quản vacxin
35
3.5
Phích lạnh bảo quản vacxin
36
3.6
Miếng xốp bảo quản vacxin
36
3.7
Bình tích lạnh bảo quản vacxin
37
3.8
Tỷ lệ % số trẻ em thực tế tiêm phòng đủ 7 loại
vacxin
40
3.9
Tỷ lệ các mũi tiêm viêm não Nhật Bản B ở trẻ trên 1
tuổi
41
3.10
Tỷ lệ tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai năm
2012.
42
Viêm gan siêu vi B
HCV
Hepatitis C virus
Viêm gan siêu vi C
HPV
Human papillomavirus
HIB
Haemophilus influenzae type B
HIV
Human immunodeficiency virus
OPV
Oral Polio Vaccine
Vacxin phòng bại liệt
TCMR
Tiêm chủng mở rộng
TYT
Trạm y tế
UNICEF
United Nations Children's Fund
Quỹ nhi đồng quốc tế
WHO
World Health Organization
Tổ chức y tế thế giới
MỤC LỤC
2.3. Phương pháp trình bày và xử lý số liệu 26
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1. Phân tích Cơ cấu nhân lực – trang thiết bị bảo quản vacxin tại
trung tâm y tế Việt Trì năm 2012. 27
3.1.1. Nhân lực 27
3.1.2. Bảo quản vacxin tai trung tâm y tế thành phố Việt Trì. 29
3.1.3. Tiêm chủng mở rộng tại trung tâm y tế Việt Trì năm 2012 39
3.2. Kết quả khảo sát tình hình cung ứng và sử dụng vacxin tại trung
tâm Y tế thành phố Việt Trì năm 2012. 41
3.2.1. Kết quả khảo sát tình hình sử dụng vacxin theo chương trình
tiêm chủng mở rộng. 42
Chương 4. BÀN LUẬN 48
4.1. Nhân lực, cơ sở vật chất bảo quản vacxin của trung tâm 48
4.1.1. Về nhân lực 48
4.1.2. Cơ sở vật chất bảo quản vacxin trong dây chuyền lạnh. 49
4.1.3. Nguyên nhân 51
4.2. Tỷ lệ tiêm chủng vacxin 53
4.2.1. Tỷ lệ tiêm chủng vacxin tại trung tâm năm 2012 53
4.2.2. Thành tựu công tác TCMR 54
4.2.3. Hạn chế của TCMR 56
KẾT LUẬN 57
1. Thực trạng nhân lực, trang thiết bị bảo quản vacxin tại trung tâm
Y tế thành phố Việt Trì năm 2012 …57
2. Tình hình cung ứng và sử dụng vacxin thuộc tại trung tâm Y tế
thành phố Việt Trì năm 2012 58
KIẾN NGHỊ 59 1
được tiêm vacxin viêm gan B. Năm 2004 tỷ lệ tiêm 3 mũi viêm gan B đạt 94,2%.
Từ đó vacxin viêm gan B được coi là vacxin thứ 7 trong chương trình tiêm chủng
mà trẻ em Việt Nam dưới 1 tuổi phải được tiêm chủng đầy đủ.
Để tìm hiểu về thực trạng nhân lực, trang thiết bị bảo quản vacxin và
tình hình cung ứng và sử dụng vacxin tại Trung tâm Y tế thành phố Việt Trì,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát tình hình cung ứng và sử
dụng vacxin tại trung tâm y tế thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ năm 2012”
với mục tiêu nghiên cứu như sau:
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả cơ cấu nhân lực, trang thiết bị bảo quản vacxin tại trung tâm Y tế
thành phố Việt Trì năm 2012
2. Phân tích thực trạng sử dụng vacxin tại trung tâm Y tế thành phố Việt Trì
năm 2012
3
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Tình hình tiêm chủng vacxin trên thế giới
đã giảm từ 80.000 trường hợp năm 1975 xuống còn 10.000 trường hợp hiện
nay, vacxin phòng HIB đã làm giảm 90% tỷ lệ mắc bệnh viêm màng não do
Hib ở châu Âu trong 10 năm. Năm 1990, hơn 100 triệu trẻ em dưới 1 tuổi
trong các nước phát triển, 80% tổng số trẻ em toàn cầu đã được tiêm chủng
thành công phòng chống bệnh sời, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt và lao
nhờ Chương trình TCMR [22].
Bên cạnh đó, chương trình tiêm chủng mở rộng vẫn còn phải đối mặt
với nhiều khó khăn: bệnh bại liệt vẫn còn lưu hành nặng ở một số nước châu
Phi, châu Á với hàng ngàn ca mắc năm 1999, dặc biệt ở Ấn Độ, Bangladesh,
Pakistan… [20]. Trong tình hình thế giới hiện nay, sự giao lưu giữa các nước
trên thế giới sẽ là diều kiện thuận lợi cho dịch xâm nhập trở lại các nước đã
thanh toán. Uốn ván vẫn còn là một bệnh lưu hành phổ biến ở các nước đang
phát triển. Sởi vẫn là bệnh có số mắc và tử vong cao ở trẻ em, hàng năm có
trên 40 triệu trường hợp mắc bệnh và trên 1triệu trường hợp tử vong do sởi,
chiếm 10% tổng số trẻ em tử vong dưới 5 tuổi [12],[20].
Viêm gan virus B là bệnh có tỷ lệ mắc và mang virus cao, đặc biệt
châu Á và Đông Nam Á, tỷ lệ mang dấu ấn virus Viêm gan B trong dân cư
là 15-20%, và đây là bệnh mà WHO khuyến cáo sử dụng vacxin rộng rãi vào
đầu thế kỷ thứ XXI…[16], [17]. Ngoài ra hiện chưa có vacxin phòng như:
HIV/AIDS, SARS, cúm gà, các bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm:
sốt rét, sốt xuất huyết Dengue, bò điên, phong cùi, ung thư, tim mạch Trước
mắt nhân loại đang tập trung tìm hiểu nguyên nhân gây dịch, chủ động phòng
và dập dịch bằng nhiều biện pháp tổng hợp, song không thể bỏ qua giải pháp
toàn diện, triệt để nhất là sử dụng vacxin.
5
1.1.2. Vấn đề về an toàn tiêm chủng vacxin trên thế giới
Trên thế giới đã chứng kiến những sự cố tiêm chủng không an toàn dẫn
tới việc ngừng tiêm chủng: Năm 1995 ở Mỹ 79 trẻ bị bại liệt trong số 400.000
nhiên chất lượng tiêm chủng còn là vấn đề phải cố gắng[15].
Trong giai đoạn từ năm 1991-2000: Chương trình TCMR đã không
còn để xã trắng về tiêm chủng, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 6 bệnh truyền nhiễm
cho trẻ em liên tục đạt trên 90%. Năm 1997, triển khai 4 vacxin mới viêm
gan B, tả, thương hàn và viêm não Nhật Bản B. Tháng 12 năm 2000 Chương
trình TCMR hoàn thành mục tiêu thanh toán bệnh bại liệt. Năm 1999 và năm
2000 tổ chức chiến dịch thí điểm tiêm nhắc mũi 2 vacxin sởi với tỷ lệ cao
99,7% trẻ em dưới 10 tuổi[19].
Từ năm 2001- 2005: Duy trì được những thành quả đã đạt và tỷ lệ tiêm
chủng đầy đủ 6 loại vacxin cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt trên 90%, tiêm đủ liều
vacxin uốn ván cho phụ nữ có thai đạt trên 80% và nữ tuổi sinh đẻ đạt trên
90% ở các huyện có nguy cơ cao. Từ năm 2001 triển khai các chiến dịch
tiêm vacxin sởi mũi 2 cho trẻ từ 9 tháng tới dưới 10 tuổi trên toàn quốc và
chiến dịch tiêm bổ sung vacxin sởi cho học sinh phổ thông cơ sở, phổ thông
trung học, 80% đối tượng vùng nguy cơ cao được tiêm vacxin viêm gan B,
viêm não Nhật Bản, thương hàn, và uống vacxin tả. Năm 2002, vacxin viêm
gan B được triển khai trên 61 tỉnh, thành phố, kết quả 987.615 trẻ em dưới 1
tuổi trên cả nước[13].
Sau hơn 20 năm hoạt động, Chương trình TCMR đã thu được những
thành quả to lớn và được Quốc tế thừa nhận là điểm sáng về công tác TCMR
trong các nước đang phát triển với các kết quả: Thanh toán bệnh bại liệt
năm 2000, loại trừ được uốn ván sơ sinh được đánh giá và công nhận tháng
12 năm 2005, số mắc bệnh sởi từ 125.176 ca/năm 1984 chỉ còn 227ca / năm
2004, tỷ lệ mắc ho gà giảm 183 lần, tỷ lệ mắc bệnh bạch hầu ở trẻ em giảm
từ 3,9/100.000 dân ( năm 1985) xuống còn 0,05/100.000 dân (năm 2004)[11]
7
Thành quả đạt được sau 20 năm triển khai TCMR là rất lớn song vẫn còn
nhiều tồn tại và thách thức:
+ Bệnh bại liệt chưa được thanh toán trên toàn cầu, nhiều nước đã thanh toán
Mũi tiêm/uống
Sơ sinh
(càng sớm càng
tốt)
- BCG (phòng lao)
- Viêm gan B
- 1 mũi
- Vắc-xin viêm gan B mũi 1 (trong 24
giờ sau khi sinh)
2 tháng tuổi
- Bại liệt
- Bạch hầu, Ho gà,
Uốn ván
- Viêm gan B
- Bại liệt lần 1
- Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván.
-Viêm gan B mũi 2
3 tháng tuổi
- Bại liệt
- Bạch hầu, Ho gà,
Uốn ván
-Viêm gan B
- Bại liệt lần 2
- Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván
4 tháng tuổi
- Bại liệt
- Bạch hầu, Ho gà,
Uốn ván
- Viêm gan B
- Bại liệt lần 3
(GAVI), các tổ chức Quốc tế khác và sự nỗ lực sản xuất trong nước. Chương
trình TCMR đã đưa BKT tự khóa và nộp an toàn vào sử dụng trong tiêm
chủng [14] . Đánh giá hệ thống dây truyền lạnh của Việt Nam năm 2003 đã
cho thấy mặc dù đã được trang bị và hoạt động ở các tuyến nhưng thực tế là
hệ thống này đã cũ (trên 10 năm sử dụng); một số nơi không có đủ hoặc dụng
cụ dây truyền lạnh bị vỡ, hỏng [10].Quản lý vacxin là một yếu tố quan trọng
đảm bảo chất lượng của công tác tiêm chủng bao gồm vacxin đủ về số lượng
và đảm bảo chất lượng.Việc tập huấn về phản ứng xảy ra sau tiêm chủng đã
được tiến hành cho cán bộ y tế tỉnh, huyện. Trong 2 năm gần đây 2007- 2008
vấn đề phản ứng sau tiêm chủng trở thành vấn đề thời sự, cộng đồng đã có
sự quan tâm nhiều hơn sau những sự cố nặng xảy ra sau tiêm chủng vacxin.
Việc tiến hành giám sát các phản ứng sau tiêm chủng cũng đồng thời đòi hỏi
cán bộ y tế có biện pháp xử trí đúng, kịp thời với từng trường hợp phản ứng
cụ thể[13].
Từ năm 2002 Chương trình TCMR và trung tâm kiểm định quốc gia
vacxin và sinh phẩm đã phối hợp xây dựng và triển khai thí điểm công tác
giám sát các sự cố sau tiêm chủng. Chương trình đã triển khai trong toàn
quốc hệ thống này từ năm 2006 [26]. Tháng 2 năm 2002 đến tháng 7 năm
2006 Chính phủ Việt Nam với sự trợ giúp của WHO đã đề ra kế hoạch đánh
giá được tiến hành trên qui mô toàn quốc , 8/61 tỉnh thành đại diện cho 4 khu
vực Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên được lựa chọn vào nghiên cứu[9].
Trong định hướng phát triển của công tác TCMR giai đoạn từ 2006
đến 2010 và 2015, việc tăng cường công tác an toàn tiêm chủng bao gồm vô
khuẩn mũi tiêm, xử lý an toàn tiêm chủng bao gồm vô khuẩn mũi tiêm, xử
lý an toàn bơm kim tiêm đã sử dụng và giám sát sự cố sau tiêm chủng vẫn là
10
một trong những mục tiêu cần được quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả của
việc tiêm chủng [17]
Sau sự cố một số trẻ có phản ứng mạnh và 1 trường hợp tử vong sau
1.3.2. Khái niệm, phân loại và bảo quản vacxin
1.3.2.1. Khái niệm
Vacxin là những chế phẩm được sản xuất từ những vi khuẩn, virus, kí
sinh trùng hoặc độc tố của chúng đã được làm yếu, làm giảm độc lực hoặc
làm bất hoạt nhưng vẫn đủ khả năng kích thích cơ thể người sinh ra kháng
thể đặc hiệu chống lại chúng [4],[5],[6].
1.3.2.2. Phân loại
Có nhiều cách phân loại vacxin. Nếu căn cứ vào bản chất sinh học, có
thể chia vacxin thành 3 loại truyền thống:
+ Vacxin giải độc đố: Là loại vacxin được sản xuất từ ngoại độc tố của vi
khuẩn, đã làm mất tính độc nhưng vẫn giữ được tính kháng nguyên.
+ Vacxin chết (bất hoạt): Là vacxin được sản xuất từ vi sinh vật đã bị giết
chết, có thể là protein hoặc polysaccharite.
+ Vacxin sống giảm độc lực: Loại vacxin này được sản xuất từ vi sinh vật
gây bệnh đã được làm giảm độc lực, hoặc làm yếu không còn khả năng gây
bệnh bằng cách nuôi cấy nhiều lần trong phòng thí nghiệm
Ngoài ra, hiện nay còn có các loại vacxin khác hiệu quả cao như vacxin
tái tổ hợp, vacxin DNA.
1.3.2.3. Bảo quản vacxin.
Vacxin là một sinh phẩm đặc biệt, cần được bảo quản nghiêm ngặt
trong hệ thống dây truyền lạnh. Nhiệt độ đảm bảo để giữ vacxin an toàn là
từ +2
o
C đến +8
o
C. Nhiệt độ nóng và lạnh ngoài khoảng an toàn trên đều có
thể làm hỏng vacxin [5],[7],[8]. Vacxin cần phải được bảo quản liên tục trong
dây truyền lạnh từ khi xuất xưởng cho tới điểm tiêm chủng và trong suốt
12
trị[8].
13
Bảng 1.2. Các phản ứng thường gặp sau khi tiêm vacxin
Vacxin
Phản ứng tại chỗ
(đau, sưng, đỏ)
Sốt >38
o
C
Dễ bị kích thích,
cảm giác khó chịu,
BCG
90-95%
-
-
Viêm gan B
Người lớn: 15%
Trẻ em: 5%
1-6%
-
Sởi/ Sởi- Quai
bị-Rubella/
Sởi- Rubella
10%
5-15%
5% phát ban
Bại liệt uống
(OPV)
Phản ứng
Thời gian
xuất hiện
Số phản
ứng/ 1
triệu liều
sử dụng
BCG
Viêm hạch có mủ
Viêm xương BCG
Nhiễm khuẩn BCG lan tỏa
2-6 tháng
1-12 tháng
1-12 tháng
100-1000
0,01-300
0,19-1,56
Viêm gan B
Sốc phản vệ
0-1 giờ
1-2
14
Sởi*
Những cơn co giật có sốt
Giảm tiểu cầu
Phản ứng quá mẫn (dị ứng
nặng)
Sốc phản vệ
Bệnh não
Sốc phản vệ
Hội chứng não
0-24 giờ
0-2 ngày
0-24 giờ
0-1 giờ
0-2 ngày
(0,1 - 0,6%)
1.000-
60.000
80-570
30-990
20
0-1
(Nguồn: Tài liệu của WHO Tây Thái bình Dương, 1999)[14].
*Phản ứng (trừ sốc phản vệ) không xảy ra ở trẻ em đã được miễn dịch, những
trẻ em trên 6 tuổi hầu như không bị những cơn sốt kịch phát.
** Nguy cơ bại liệt do vacxin cao hơn đối với liều đầu tiên (1/750.000 so
với 1/5,1 triệu trường hợp hợp với những liều tiếp theo) và với những người
lớn bị suy giảm miễn dịch.
*** Sốt cao co giật tùy thuộc vào tuổi, nguy cơ xảy ra ít hơn ở những trẻ em
dưới 6 tháng tuổi.
Nguyên nhân của phản ứng có hại do vacxin không phải dễ dàng phát
hiện được trong mọi trường hợp, bởi vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khó kiểm
soát, ngoài vacxin được đưa vào cơ thể còn có yếu tố quan trọng đó là trạng thái
cơ thể lúc được tiêm chủng. Mỗi loại loại vacxin đều có chống chỉ định hoặc
tạm hoãn chỉ định dùng đối với tình trạng sức khỏe không bình thường của cơ
thể và những điều đó được ghi rõ trong bản hướng dẫn sử dụng vacxin của các
nhà sản xuất.
+ Có phản ứng mạnh như sốt cao co giật, sốc hoặc các triệu chúng về thần
kinh khác trong vòng 3 ngày đầu sau mũi tiêm lần trước của vacxin đó.