HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ YẾN
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
CÔNG LẬP: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI ĐÀI
PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH TỈNH QUẢNG
NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Hà Nội, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ YẾN
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
CÔNG LẬP: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI ĐÀI
PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH TỈNH QUẢNG
NAM
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
: 8340410
ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH TỈNH QUẢNG NAM.................27
2.1. Khát quát về Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Quảng Nam..................27
2.2. Nội dung quản lý tài chính của Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Nam
.........................................................................................................................30
2.3. Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính của Đài Phát
thanh - Truyền hình tỉnh Quảng Nam..............................................................41
2.4. Thực trạng quản lý tài chính của Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh
Quảng Nam thông qua các tiêu chí................................................................. 44
2.5. Đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Đài Phát thanh - Truyền hình
tỉnh Quảng Nam.............................................................................................. 52
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI
ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH TỈNH QUẢNG NAM................56
3.1. Mục tiêu và phương hướng phát triển của Đài Phát thanh - Truyền hình
tỉnh Quảng Nam đến năm 2025.......................................................................56
3.2. Giải pháp tăng cường quản lý tài chính tại Đài Phát thanh - Truyền hình
tỉnh Quảng Nam.............................................................................................. 57
KẾT LUẬN.................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
STT
TỪ VIẾT
TẮT
1
ĐVSNCL
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số hiệu
Sơ đồ
2.1
2.2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế trong thời đại
hội nhập, Chính phủ đã có quyết định phê duyệt chương trình tổng thể cải
cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 trong đó có cải cách cơ chế
quản lý tài chính đối với Đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) là một nội
dung quan trọng. Nó không chỉ tác động đến thu nhập của cán bộ, công chức,
viên chức, nhân viên trong đơn vị mà việc quản lý nguồn tài chính góp phần
quản lý chặt chẽ các nguồn thu từ ngân sách nhà nước, từ viện trợ hay từ sản
xuất kinh doanh của đơn vị, trên cơ sở đó đánh giá được hiệu quả hoạt động
của đơn vị.
Từ khi Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ
quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ
máy, biên chế và tài chính đối với ĐVSNCL và được thay thế bằng Nghị định
16/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 quy định về cơ chế tự chủ của
ĐVSNCL được triển khai đã tạo ra sự đột phá từ tư duy đến hành động trong
việc huy động các nguồn lực xã hội để phát triển hoạt động sự nghiệp, tăng
cường phân cấp và mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các
ĐVSNCL. Nguồn tài chính cho hoạt động của các đơn vị được đảm bảo, các
khoản chi được thực hiện theo đúng kế hoạch, đạt hiệu quả cao, đồng thời tiết
kiệm được chi phí; từng bước nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước
trạng tài chính công ở Việt Nam và sự cần thiết phải cải cách tài chính công.
Tác giả Nguyễn Thị Giang Hương (2015), “Quản lý tài chính tại các
trường đại học công lập tự chủ tài chính trên địa bàn Thành phố Hà Nội
thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo”, luận văn Thạc sĩ kinh tế, đã hệ thống hóa
những vấn đề cơ bản về quản lý tài chính tại các trường đại học công lập,
phân tích những quan điểm về quản lý tài chính tại các trường đại học công
lập. Phân tích cơ chế tự chủ tài chính và quản lý tài chính trong điều kiện tự
chủ tại các trường đại học công lập. Đánh giá thực trạng về quản lý tài chính
trong điều kiện tăng cường tự chủ về tài chính tại bốn trường đại học công lập
trực thuộc Bộ giáo dục và đào tạo trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đề ra các
giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại các trường đã phân tích
2
trong điều kiện thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính.
“Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý tài chính, phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước“ của Trần Minh Tá và Bạch Thị
Minh Huyền (2016). Nội dung chủ yếu của công trình bàn về sự cần thiết phải
tiến hành đổi mới chính sách và cơ chế quản lý tài chính trong quá trình phát
triển kinh tế thị trường ở Việt Nam. Công trình cũng nghiên cứu, đề xuất định
hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới chính sách và cơ chế quản lý
tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam.
“Quản lý tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi
mới giáo dục đại học“, luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hương (2014). Luận
án đề cập đến những vấn đề lý thuyết cơ bản về khái niệm, mô hình, các hình
thức, công cụ quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập nói chung
và các trường đại học công lập nói riêng. Luận án phân tích đánh giá thực
trạng quản lý tài chính của Đại học Quốc gia Hà Nội và đề xuất các định
hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Đại học
Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
sĩ Quản lý kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Huế; tác giả Đặng Thị Phương
Nga (2018), Hoàn thiện công tác quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại Sở
Tài chính tỉnh Quảng Bình, Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế, Trường Đại học
Kinh tế Huế; tác giả Nguyễn Tùng Lâm (2012), Chế độ tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về Tài chính ở cấp Quận qua thực tiễn UBND Quận Hoàn Kiếm,
Thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Tài chính Ngân hàng, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội….
Các bài viết về quản lý tài chính, cơ chế quản lý tài chính ở các
ĐVSNCL có thu đăng trên các tạp chí kinh tế trong nước và quốc tế. Các
công trình nghiên cứu nói trên đều nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau
về tài chính công, cải cách tài chính công; chính sách và cơ chế quản lý tài
chính công trong các ĐVSNCL. Tuy nhiên, do đặc điểm của từng ĐVSNCL
có sự khác nhau cũng như cơ chế, chính sách đối với hoạt động quản lý tài
chính trong các ĐVSNCL cũng có sự thay đổi trong bối cảnh thực hiện hiện
chủ trương tự chủ tài chính, tinh giản biên chế, sắp xếp lại bộ máy. Đài Phát
thanh - Truyền hình tỉnh Quảng Nam (QRT) hoạt động trong lĩnh vực truyền
thanh, truyền hình, đây là lĩnh vực cần phải liên tục đổi mới trong cơ chế quản
4
lý nói chung và quản lý tài chính nói riêng trong bối cảnh Cách mạng công
nghiệp 4.0 ảnh hưởng rất lớn đến lĩnh vực này.
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1.
Mục đích nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập thông tin
Để thu thập và xử lý thông tin phục vụ cho công tác nghiên cứu đề tài
tôi đã sử dụng phương pháp thu thập thông tin sau:
5.1.1. Thu thập thông tin thứ cấp
Phương pháp này chủ yếu được tổng hợp và sử dụng có chọn lọc các
kết quả nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài, thu thập từ các nguồn có
sẵn như báo cáo của UBND tỉnh Quảng Nam, báo cáo của Sở Tài chính tỉnh
5
Quảng Nam, báo cáo của các đơn vị trực thuộc Đài Phát thanh - Truyền hình
tỉnh Quảng Nam qua các phương pháp như: sao chụp tài liệu, tra cứu trên
mạng Internet, đọc và ghi chép thông tin...
5.1.2. Thu thập thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp được thu thập từ điều tra thực tế tại các phòng, ban
thuộc Đài QRT và một số đơn vị có liên quan như Sở Tài chính, Thanh tra
tỉnh, Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Nam… thông qua bảng hỏi.
Đề tài phát ra 45 phiếu khảo sát, thu về 40 phiếu (Không có phiếu
không hợp lệ) với đối tượng khảo sát là cán bộ, công nhân viên tại đài phát
than và truyền hình Quảng Nam.
5.2. Phương pháp phân tích thông tin
Một số phương pháp phân tích đã sử dụng cụ thể như sau:
Phương pháp thống kê: Qua các số liệu thu thập được từ các nguồn kể
trên, tác giả tiến hành lựa chọn và thống kê theo các tiêu chí đánh giá nhằm
phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài.
Phương pháp mô tả: Tình hình tài chính của Đài QRT sẽ được mô tả cụ
thể qua đồ thị và biểu đồ để thấy được xu hướng cũng như biến động theo thời
gian, từ đó rút ra được các kết luận trong quá trình nghiên cứu.
Phương pháp so sánh: Thông qua số liệu đã thống kê về thực trạng
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý tài chính tại các ĐVSNCL
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý tài chính tại Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Quảng Nam.
7
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CÁC ĐƠN VỊ
SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1. Đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập
Nhà nước thiết lập hệ thống ĐVSNCL để đảm nhận nhiệm vụ cung cấp
các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực, trong đó, các đơn vị hoạt động
trong lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao chiếm
số lượng lớn. Trong đó, đặc trưng của ĐVSNCL để phân biệt với cơ quan
hành chính nhà nước, ĐVSN ngoài công lập và các cơ quan, tổ chức khác là
vị trí pháp lý, tính chất hoạt động và đội ngũ viên chức [30, tr.35-36].
ĐVSNCL là đơn vị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
thành lập, để thực hiện một số chức năng nhiệm vụ do Nhà nước giao, trong
đó chủ yếu là cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho xã hội. ĐVSNCL có tư cách
pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Hoạt động của ĐVSNCL có những
điểm khác với cơ quan hành chính nhà nước.Cơ quan hành chính thực hiện
chức năng quản lý Nhà nước của mình, cung ứng các dịch vụ hành chính
công.Đây là trách nhiệm và nghĩa vụ của bộ máy Nhà nước với nhân dân và
chỉ có Nhà nước mới có đủ thẩm quyền thực hiện chức năng đó [14, tr.28].
Nhà nước với tư cách là một tổ chức công quyền phải có nghĩa vụ cung cấp
+ ĐVSNCL thuộc cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh như các bệnh
viện trực thuộc Sở y tế, các trường THPT trực thuộc Sở Giáo dục - Đào tạo, các
+
ĐVSNCL thuộc Sở Khoa học công nghệ, Sở Văn hoá thể dục thể thao…
ĐVSNCL thuộc UBND cấp huyện như Đài Truyền thanh - Truyền
hình huyện, các trường học…
+
- Căn cứ vào từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cụ thể, ĐVSNCL có
thể trong các lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn
hoá, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin
truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định.
- Căn cứ vào mức độ tự chủ tài chính:
Trước đây, Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định có
02 loại ĐVSNCL có thu gồm: Đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động thường
xuyên và đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên [8].
+
Tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2016 của Chính phủ quy
định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy
biên chế và tài chính đối với ĐVSNCL, xác định có 03 loại ĐVSNCL:
+
9
ĐVSNCL tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên; ĐVSNCL tự
bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên; ĐVSNCL do ngân sách
nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động [9].
10
vấn đề kể trên cũng là các vấn đề cần được nhận thức đầy đủ [14].
Trong hoạt động quản lý tài chính ĐVSNCL, chủ thể quản lý là Nhà nước
hoặc các cơ quan nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt
động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước.Chủ thể trực tiếp quản lý
tài chính ĐVSNCL là bộ máy tài chính trong hệ thống cơ quan nhà nước.
Đối tượng của quản lý tài chính ĐVSNCL là các hoạt động tài chính
của các ĐVSNCL. Đó cũng chính là các nội dung chủ yếu của quản lý tài
chính ĐVSNCL [16, tr.21-22].
1.2.2. Nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập
1.2.2.1. Nguồn từ Ngân sách nhà nước
Nguồn Ngân sách nhà nước cho các hoạt động sự nghiệp giữ vai trò
quan trọng trong việc hình thành, mở rộng và nâng cao hiệu quả của các dịch
vụ công đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thiết yếu của người dân. Đầu tư
từ ngân sách nhà nước ở hầu hết các nước đều ưu tiên cho giáo dục, y tế, khoa
học và công nghệ, văn hóa, thể thao... Nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước
cấp cho các ĐVSNCL thường căn cứ vào định mức phân bổ ngân sách cho
các lĩnh vực hoạt động sự nghiệp như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, phát
thanh truyền hình... Các định mức này được xây dựng theo các tiêu chí khác
nhau như dân số, cơ cấu dân số, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ học sinh
nhập học, dân số trong độ tuổi đến trường, số giường bệnh, biên chế [16]…
nước ta, hệ thống các trường học, bệnh viện công lập chiếm tỷ lệ lớn,
việc phát triển các trường bán công, dân lập, các bệnh viện tư chưa nhiều.
Ở
Trong lĩnh vực khoa học công nghệ thì phần lớn là các trung tâm, viện
người hưởng dịch vụ phải trả tiền và người cung ứng dịch vụ. Với mỗi
ĐVSNCL hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau thì sẽ có các nguồn thu sự
nghiệp được quy định cụ thể. Các ĐVSNCL có thu được tổ chức khai thác các
nguồn thu hợp pháp bao gồm: phí, lệ phí, thu từ kết quả hoạt động sản xuất,
cung ứng dịch vụ. Số thu về phí từ các hoạt động sự nghiệp thường được sử
dụng để bù đắp chi phí, chi cho các hoạt động thường xuyên, chi cho việc mở
rộng và nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ do đơn vị cung cấp [17,
tr.25-26].
Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp phụ thuộc vào giá dịch vụ được cung
cấp, số lượng người tham gia dịch vụ và khả năng chi trả của người dân. Nếu
giá dịch vụ thấp sẽ không đủ tái tạo lại chi phí cần thiết cho các đơn vị cung
cấp dịch vụ, ngược lại, nếu giá dịch vụ cao sẽ hạn chế số lượng người tham
gia vào các dịch vụ do đơn vị cung cấp. Do vậy, cần phải tính toán mức thu
12
phù hợp để đảm bảo hài hòa mục tiêu bù đắp chi phí và phục vụ đông đảo các
nhu cầu thiết yếu của quần chúng [17].
Do hoạt động sự nghiệp có nhiều loại hình ở các lĩnh vực khác nhau
nên các loại giá, phí dịch vụ sự nghiệp công cũng rất đa dạng, phong phú, rải
rác ở nhiều lĩnh vực. Để có thể quản lý thu và sử dụng các giá, phí dịch vụ sự
nghiệp công này một cách hợp lý, chặt chẽ và hiệu quả, quản lý thu phí phải
đáp ứng được những yêu cầu nhất định.
1.2.2.3. Nguồn khác
Các ĐVSNCL còn có thể huy động được nguồn lực để nâng cao số
lượng, chất lượng và hiệu quả của các hoạt động của sự nghiệp giáo dục, đào
tạo, y tế, văn hóa, thể thao... thông qua liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nước như liên kết đào tạo, dạy nghề, liên kết tổ chức các
hoạt động văn hóa, thể thao... Hơn nữa, việc hợp tác với nước ngoài để nâng
+ Chi thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
+
Vốn đầu tư phát triển; Chi thực hiện mua sắm trang thiết bị phục vụ
hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
+ Chi thực hiện các dự án từ nguồn viện trợ ngoài nước.
+ Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật (nếu có).
+
1.2.4. Vai trò của quản lý tài chính đối với hoạt động của đơn vị sự
nghiệp công lập
Thứ nhất, đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động của ĐVSNCL.
Trong quá trình hoạt động của ĐVSNCL thường nảy sinh các nhu cầu vốn
ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động thường xuyên của đơn vị cũng như cho
hoạt động đầu tư phát triển. Vai trò của quản lý tài chính trước hết thể hiện ở
chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu về vốn cho hoạt động trong từng thời kỳ
và tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp và hình thức sử dụng nguồn vốn
hợp lý cho các hoạt động của ĐVSNCL [18].
Thứ hai, Nhà nước có thể giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động
của ĐVSNCL. Quản lý tài chính là một trong những hoạt động quản lý quan
trọng của bất kỳ một tổ chức nào trong điều kiện kinh tế thị trường.Bởi vì, tài
chính biểu hiện tổng hợp và bao quát hoạt động của đơn vị.
Thứ ba, ngăn ngừa tham nhũng trong xã hội.
Sử dụng nguồn tài chính ở các ĐVSNCL liên quan trực tiếp đến hiệu
quả kinh tế - xã hội và chi tiêu đóng góp của nhân dân.
1.2.5. Nguyên tắc cơ bản quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp
công lập
Hoạt dộng quản lý tài chính công được thực hiện theo những nguyên
tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, nguyên tắc hiệu quả.
thời xác lập các biện pháp chủ yếu về kinh tế - tài chính để đảm bảo thực hiện
tốt các chỉ tiêu đã đề ra.
Ý nghĩa của việc ậlp dự toán
Trong quản lý tài chính của đơn vị, lập dự toán là khâu khởi đầu và
quan trọng, nó có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả của khâu
chấp hành, kế toán và quyết toán ngân sách nhà nước, cụ thể là:
Thứ nhất, thông qua việc lập dự toán để đánh giá khả năng và nhu cầu về
tài chính của các cơ quan, đơn vị, từ đó phát huy tính hiệu quả đồng thời hạn chế
15
những trở ngại trong quá trình sử dụng tài chính của các cơ quan, đơn vị.
Thứ hai, theo nguyên tắc quản lý tài chính, chi phải dựa trên thu mà thu
và chi trong các cơ quan Nhà nước không phải là đồng nhất với nhau về mặt
thời gian, có những lúc có nhu cầu chi nhưng chưa có thu và ngược lại. Do
đó, cần có kế hoạch thu và chi để các nhà quản lý có thể chủ động điều hành
cơ quan, đơn vị.
Thứ ba, dự toán là cơ sở để cơ quan, đơn vị thực hiện. Lập dự toán là hoạt
động thiết lập kim chỉ nam cho quá trình thực hiện dự toán. Do đó lập dự toán có
vai trò quan trọng trong hoạt động tổ chức của một đơn vị, nó là cơ sở dẫn dắt
quá trình thực hiện dự toán của đơn vị sau này.Việc lập dự toán cũng là tiêu chí
để đánh giá hiệu quả việc thực hiện dự toán trong các cơ quan Nhà nước.
Yêu cầu của việc ậlp dự toán
Mục tiêu cơ bản của việc lập dự toán trong một cơ quan, đơn vị là
nhằm phân tích, đánh giá các khoản thu, chi tài chính trên cơ sở khoa học và
thực tiễn, đưa ra các chỉ tiêu thu, chi tài chính sát với thực tế sao cho có hiệu
quả nhất.
Phải phản ánh đầy đủ chính xác các khoản thu, chi dự kiến theo đúng
hoàn tất công việc của bước này.
Bước 2: Lập dự toán
- Lập dự toán thu
Dự toán thu có tầm quan trọng đặc biệt trong việc lập dự toán chi và
triển khai nhiệm vụ chi đảm bảo chủ động thu, chi trong đơn vị. Theo cách
phân loại các cơ quan Nhà nước, có thể chia việc lập dự toán thu đối với các
cơ quan như sau:
Đối với các đơn vị không có nguồn thu sự nghiệp, trên cơ sở phân bổ
và giao dự toán ngân sách năm đối với các đơn vị theo quy định của Thủ
tướng Chính phủ, các đơn vị này tùy theo ngành và lĩnh vực hoạt động của
đơn vị mình để xây dựng dự toán thu theo đúng quy định của nhà nước.
+
Đối với các đơn vị có thêm nguồn thu sự nghiệp thì ngoài việc lập dự
toán thu trên cơ sở phân bổ và giao dự toán ngân sách năm theo quy định của
Thủ tướng Chính phủ, các đơn vị cần phải lập dự toán đối với các nguồn thu
ngoài ngân sách.
- Lập dự toán chi
+
Tuy nhiên, đối với mỗi đơn vị, việc lập dự toán chi đòi hỏi phải cụ thể
theo nguyên tắc: Các khoản chi phải có nguồn đảm bảo; Các khoản chi qua
các năm phải tương đối ổn định; Các khoản chi thường xuyên phải gắn với
các hoạt động của đơn vị; Các mức chi phải tuân thủ theo đúng chế độ, chính
sách quy định hiện hành của Nhà nước; Các khoản chi được lập phải đạt hiệu
quả cao với nguồn lực thấp nhất.
Bước 3: Hoàn chỉnh dự toán và trình cấp trên Thông báo số kiểm tra
17
- Tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên
Thời gian thực hiện chấp hành dự toán chi thường xuyên ở nước ta
18