VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN PHƯỚC CÔNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN PHƯỚC CÔNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành
Mã số
: Chính sách công
: 8 34 04 02
Tôi xin cam đoan đề tài “Thực hiện chính sách giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh THCS trên địa bàn Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS.Trần
Thị Thu Hiền. Tất cả thông tin, dữ liệu và kết quả nghiên cứu được tác giả thu
thập và trình bày trong đề tài là hoàn toàn trung thực, có nguồn trích dẫn rõ
ràng.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này!
Tác giả Luận văn
Trần Phước Công
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ
SỞ ................................................................................................................... 13
1.1. Tổng quan nghiên cứu về thực thi chính sách ......................................... 13
1.2. Một số vấn đề lý luận về giáo dục hướng nghiệp .................................... 18
1.3. Cơ sở pháp lý để thực hiện Chính sách giáo dục hướng nghiệp Trung
học cơ sở.......................................................................................................... 30
1.4. Các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách giáo dục hướng
nghiệp Trung học cơ sở ................................................................................... 33
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO
DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM ............................................... 38
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu .............................................................. 38
2.2. Thực trạng về việc thực hiện chính sách giáo dục hướng nghiệp ............ 44
2.3. Kết quả phân luồng học sinh tại các trường Trung học cơ sở ở Thị xã
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ............................................................................. 51
GD
Giáo dục
GDHN
Giáo dục hướng nghiệp
GDĐT
Giáo dục đào tạo
GDTX
Giáo dục thường xuyên
HS
Học sinh
KT-XH
Kinh tế - xã hội
LĐTB&XH
Lao động thương binh và xã hội
MN-MG
Sơ đồ 2.1. Các hướng đi sau tốt nghiệp THCS ............................................... 53
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Học sinh bỏ học theo từng năm học ở trường THPT ................. 43
Biểu đồ 2.2. Kết quả phân luồng sau tốt nghiệp THCS hằng năm. ................ 57
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và là một trong những nguồn
lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế- xã hội. Đó là một trong những
nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của một tổ chức/
Quốc gia. Trình độ phát triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ yếu sự
phát triển của các Quốc gia. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới, trong đó có
Việt Nam đều rất coi trọng phát triển nguồn nhân lực.
Hiện nay, Việt Nam đã và đang từng bước hội nhập quốc tế sâu rộng
và cạnh tranh trên thị trường, đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa thâm nhập vào
các quốc gia, các khu vực trên thế giới. Vì vậy, theo quyết định 126/CP ngày
19 tháng 03 năm 1981 của Hội đồng Chính phủ về công tác hướng nghiệp
trong trường phổ thông và sử dụng hợp lý học sinh phổ thông các cấp tốt
nghiệp ra trường đã không còn phù hợp với sự phát triển trong giai đoạn hiện
nay và giai đoạn sắp tới.
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là một trong những vấn
đề quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước rất quan tâm. Nghị quyết 29 –
NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh phân luồng sau trung học
cơ sở, định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông”, “bảo đảm cho học sinh
có trình độ trung học cơ sở có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu
phân luồng mạnh sau trung học cơ sở, trung học phổ thông phải tiếp cận nghề
nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn sau phổ thông có chất lượng” [5, tr.2].
nhiên, tiêu chuẩn lựa chọn nhân công lao động của các doanh nghiệp đều đòi
hỏi tối thiểu phải có bằng THPT hoặc sơ cấp nghề phù hợp với yêu cầu và đặc
biệt phải nằm trong độ tuổi lao động. Trên địa bàn thị xã hiện nay có 18
2
trường THCS với số lượng học sinh gần 14.500 học sinh [34, tr.12]. Đa số
người dân (phụ huynh) chủ yếu là lao động nông nghiệp, chưa có ý thức và
cũng chưa được tuyên truyền một cách đầy đủ về tầm quan trọng của việc
định hướng nghề nghiệp cho con em mình một hướng đi đúng đắn phù hợp
với nhu cầu của thị trường lao động; bên cạnh đó, các CBQL cũng chưa được
tập huấn chuyên sâu trong công tác hướng nghiệp và phân luồng cho học sinh
THCS để xây dựng kế hoạch cụ thể nhằm định hướng giúp học sinh lựa chọn
ngành nghề cho tương lai. Mặt khác, tỉ lệ hộ nghèo, cận nghèo ở địa bàn vẫn
còn, điều kiện kinh tế khó khăn nên việc học tập của thanh thiếu niên chưa
được đảm bảo, một số phải bỏ học giữa chừng.
Nếu công tác giáo dục hướng nghiệp được triển khai một cách đồng bộ,
kịp thời và thực hiện tốt phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS, chuyển
các học sinh trong những đối tượng trên sang đào tạo nghề rút ngắn thời gian
học, giải quyết khó khăn về kinh tế cho gia đình, tránh lãng phí trong giáo
dục, giúp thanh niên có được việc làm phù hợp với năng lực và sở thích, tự tin
trong cuộc sống, đảm bảo nguồn lực cho sự phát triển kinh tế địa phương.
Việc chuẩn bị nghề nghiệp cho thế hệ trẻ một cách có hiệu quả, giúp
cho học sinh, những người lao động trẻ có cơ hội hoà nhập nhanh với cuộc
sống lao động sản xuất, đang là một trong những yêu cầu cấp bách cần được
các cấp ủy Đảng, Chính quyền, các tổ chức toàn xã hội quan tâm.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách
giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn Thị xã
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” để làm Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên
đến sự phát triển đa dạng của các ngành nghề trong xã hội do sự phát
triển của công nghiệp. Khi ấy, người ta nhận thấy tính đa dạng và phức tạp
của hệ thống nghề nghiệp, qua đó khẳng định tính cấp thiết của việc cần
4
hướng dẫn và giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh đi vào cuộc sống nghề
nghiệp. [49, tr.5]
Ở Nhật Bản, chính sách giáo dục đã trải qua nhiều công cuộc cải cách
kề từ năm 1952-1982, với mục đích đáp ứng các yêu cầu về phát triển kinh tế
của đất nước. Hiện nay, Chính phủ Nhật Bản có chính sách phát triển trường
trung học kỹ thuật bậc cao và thành lập loại hình trường cao đẳng công nghệ
đào tạo 5 năm với đối tượng là học sinh tốt nghiệp trung học cở sở. Trong một
số chương trình, học sinh có thể tham gia vào các khóa học nghề thông qua sự
liên kết của nhà trường với các nhà tuyển dụng ở địa phương. Sau tốt nghiệp
THCS có khoảng 70% học sinh tiếp tục học lên trung học phổ thông để vào
các trường đại học, số còn lại có thể tham gia vào các trường cao đẳng hoặc
theo hướng đào tạo nghề. [51, tr.6]
Ở Trung Quốc, chính sách giáo dục hướng nghiệp đã hình thành thể
chế phân luồng theo ba tầng là: phân luồng sau tốt nghiệp tiểu học, phân
luồng sau tốt nghiệp sơ trung (trung học cơ sở), phân luồng sau tốt nghiệp cao
trung (trung học phổ thông), trong đó phân luồng sau tốt nghiệp sơ trung là
chủ yếu. Mục tiêu phân luồng sau giáo dục bắt buộc ở Trung Quốc là hai
luồng giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp đạt tỷ lệ 1:1 và phát triển
theo hướng quy mô giáo dục nghề nghiệp trung cấp lớn hơn giáo dục phổ
thông; giáo dục nghề nghiệp và giáo dục phổ thông liên thông với nhau và
phát triển hài hòa [51, tr.2].
Ở Cộng hòa liên bang Đức, việc phân luồng rất sớm theo năng lực học
sinh ngay sau trung học cơ sở. Nhà nước có nhiều chính sách khuyến khích và
là bước tiền đề cho học sinh vào cấp III. Giáo dục nghề nghiệp gắn liền với
hướng nghiệp nhằm cung cấp cho học sinh những kĩ năng nghề nghiệp, tất cả
các trường phải dạy nghề theo quy định của Bộ, học sinh đạt chuẩn sẽ được
cấp chứng chỉ nghề. Jacques Delors, chủ tịch Uỷ ban quốc tế độc lập về giáo
dục cho thế kỉ XXI của UNESCO khi phân tích “Những trụ cột của giáo dục”
6
đã viết: “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại",
đó là 4 trụ cột mà Uỷ ban đã trình bày và minh họa những nền tảng của giáo
dục. Theo tác giả vấn đề giáo dục hướng nghiệp và học nghề của học sinh phổ
thông là một căn bản không thể thiếu được trong giáo dục. Tác giả đã nhấn
mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham
gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học tập tri thức. [49, tr.7]
2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, trong Văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ
IX đã ghi rõ: “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung
học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp
với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”. Tới Đại
hội X và XI, Đảng ta đã xác định đổi mới toàn diện giáo dục- đào tạo, yêu cầu
dạy học phân ban và tự chọn ở cấp THPT trên cơ sở làm tốt công tác hướng
nghiệp và phân luồng từ THCS. Đây cũng là cơ sở mở đường cho công tác
nghiên cứu và hoạt động hướng nghiệp, đào tạo nghề phổ thông hiện nay.
Liên tiếp từ 1981– 2005, Ban Giáo dục hướng nghiệp, Bộ Giáo dục đã nghiên
cứu biên soạn tài liệu Sinh hoạt hướng nghiệp cho học sinh cuối cấp THCS và
các lớp khối PTTH, như “Một số cơ sở của công tác hướng nghiệp cho học
sinh phổ thông”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000; “Hoạt động giáo dục lao động,
hướng nghiệp năm học 2000 - 2001 và phương hướng năm học 2001– 2002”,
Hà Nội, 2001; Tài liệu sinh hoạt hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, Hà
mới của giáo dục trung học hiện nay, giáo dục trung học đang ngày càng
không còn là nền giáo dục cho một số ít người như vào đầu thế kỷ XX, giáo
dục trung học ngày nay không phải chỉ để cho người học lên, mà còn chuẩn bị
cho thanh niên đi vào thế giới lao động nghề nghiệp, đặc biệt cho những ai chỉ
có thể học hết bậc trung học. [20, tr.68].
Công trình nghiên cứu Những bài giảng về quản lý trường học của
GS.TSKH. Nguyễn Văn Hộ đề cập đến vấn đề: Thiết lập và phát triển hệ
8
thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam. Trong đó tác giả xây dựng luận
chứng cho hệ thống hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông trong điều kiện phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà
trường, các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất hướng nghiệp- dạy nghề, các
lực lượng khác tham gia vào công tác giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề phổ
thông cho học sinh phổ thông. [24, tr.61]
Công trình “Giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam” của PGS.TS. Đặng
Danh Ánh gồm tập hợp các bài giảng, bài viết về hướng nghiệp đã công bố ở
trong nước hoặc số ít chưa công bố, đồng thời, bàn luận một số vấn đề mới:
sự nảy sinh các ngành nghề trong ba nền kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp,
kinh tế tri thức); phân loại và mô tả các đặc điểm hoạt động nghề nghiệp; cơ
sở pháp lý hình thành hệ thống hướng nghiệp và các loại hình hướng nghiệp ở
Việt Nam; hướng nghiệp với vấn đề phân luồng và liên thông trong hệ thống
giáo dục quốc dân; …. [3, tr.74]
Đề tài Khoa học cấp Nhà nước mã số KX-05-09 "Giáo dục phổ thông
và hướng nghiệp- nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp
hoá- hiện đại hoá" đã tiến hành khảo sát học sinh, giáo viên, cha mẹ học sinh,
cán bộ quản lý trên phạm vi 8 tỉnh, thành phố. Theo số liệu đánh giá trên mẫu
điều tra giáo viên thì có tới 70% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông bước
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị để góp phần nâng cao tính
hiệu quả trong việc thực hiện chính sách giáo dục hướng nghiệp trên địa bàn
Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu việc thực hiện chính sách giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh THCS và phân luồng học sinh sau tốt nghiệp
THCS.
10
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về mặt không gian: Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Phạm vi về mặt thời gian: Chính sách giáo dục hướng nghiệp và định
hướng phân luồng học sinh sau tốt nghiệp Trung học cơ sở giai đoạn 20132018 và định hướng đến năm 2025.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích tài liệu sẵn có bao gồm
các bài báo khoa học, sách, luận văn, luận án, các văn bản, các bài viết, các
trang web có liên quan đến vấn đề giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học
sinh sau tốt nghiệp THCS. Thông tin thu được không chỉ là một bức tranh
tổng thể về định hướng giáo dục hướng nghiệp của học sinh THCS mà còn
giúp người nghiên cứu tìm ra những khía cạnh mới cần khai thác sâu hơn
trong đề tài;
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Dùng phiếu hỏi nhằm thu thập
thông tin và từ kết quả khảo sát thu được giúp người nghiên cứu thu thập
thông tin định lượng để bổ sung và làm sáng tỏ cho phần nghiên cứu mang
tính chất định tính;
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Trao đổi, nói chuyện với các
đồng nghiệp, nhất là cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ phụ trách công tác giáo
12
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Tổng quan nghiên cứu về thực thi chính sách
1.1.1. Khái niệm chính sách công
Trên thế giới, việc nghiên cứu về Chính sách công được khởi động từ
sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tiêu biểu là các nghiên cứu của các học
giả Mỹ. Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách công
bởi nó đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Bởi vì, mỗi người có cách tiếp cận,
cách hiểu về chính sách công không giống nhau. Theo Wiliam Jenkin, “Chính
sách công tà tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi
một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị cùng hướng đến lựa chọn
mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó”; Thomas R. Dye lại
cho rằng: “Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc
không làm” [22, tr.8]. Còn theo Krafty Furloy: Chính sách công là quá trình
hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công
cộng. Charles O. Jones định nghĩa: “Chính sách công là tập hợp các yếu tố
gồm: Dự định, Mục tiêu, Đề xuất, Các quyết định hay các lựa chọn, Hiệu
lực”. B Guy Peters định nghĩa: “Chính sách công là toàn bộ quá trình trực tiếp
hay gián tiếp qua các đại lý, tác động đến cuộc sống của mọi người”. [29,
tr.123]. Còn theo Doctor Eric: “Chính sách công là sản phẩm của một tiến
trình tương tác giữa các cá nhân theo các nhóm làm việc nhỏ trong khuôn khổ
do các tổ chức đặt ra - các tổ chức này hoạt động trong một hệ thống thể chế
chính trị, luật pháp và chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa - xã hội”. [22,
tr.8-9]
Đối với Việt Nam, do đặc điểm của hệ thống chính trị và hệ tư tưởng
cho nên vấn đề nghiên cứu về chính sách công mới chỉ được đề cập trong
14
sách công chính là Nhà nước, có quyền dùng sức mạnh của bộ máy quyền lực
để cưỡng chế thi hành. Tuy nhiên, không phải chính sách công nào hay khi
nào cũng dùng sức mạnh quyền lực để cưỡng chế. Cơ sở xã hội của chính
sách công lại chính là sự nhất trí và đồng thuận của nhân dân. Tính hợp pháp
là điểm khác biệt giữa chính sách công với các chính sách của các tổ chức
trong khu vực tư nhân hay của các đảng phái và đoàn thể xã hội, là những chủ
thể không nắm giữ quyền lực công cộng dù trực tiếp hay gián tiếp, ít hay
nhiều có những ảnh hưởng nhất định đến quyền lực đó.
Mặc dù có sự khác biệt đáng kể nhưng các định nghĩa trên kể cả của thế
giới và Việt Nam đều có một xu hướng chung là muốn thâu tóm khái niệm
chính sách công trong tính hệ thống, tổng thể của nó. Các định nghĩa đều
khẳng định: Chính sách công là một vấn đề mang bản chất xã hội- Nhà nước,
nó không tồn tại một cách độc lập mà luôn phụ thuộc nhiều chính sách liên
quan, ràng buộc bởi các mối quan hệ nhân quả chồng chéo vượt ra ngoài mọi
sự phân tích từng chủ thể cá nhân. Đối tượng tác động của nó chính là nhân
dân.
Từ những quan niệm trên chúng ta có thể hiểu Chính sách công một
cách khái quát là tổng thể chương trình hành động của Đảng và Nhà nước,
nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và
đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định.
Về phân loại chính sách công: có nhiều cách phân loại khác nhau tùy
theo góc độ tiếp cận của chủ thể. Phân theo lĩnh vực gồm có: chính sách kinh
tế, chính sách chính trị, chính sách xã hội, chính sách quốc phòng an ninh,
chính sách văn hóa, ... Theo mức độ tổng quát có chính sách chung và chính
sách riêng. Phân loại theo quy mô vấn đề: chính sách chiến lược và chính
của chính sách. Để khắc phục điều này thì qua thực thi chính sách sẽ rút ra bài
học kinh nghiệm và chỉnh sửa để hoàn thiện chính sách.
16