VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI CÔNG KHANH
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, Năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI CÔNG KHANH
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành: CHÍNH SÁCH CÔNG
Mã số: 8340402
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HOÀNG THỊ TỐ QUYÊN
HÀ NỘI, Năm 2019
hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu
sót nhất định mà bản thân chưa thấy được. Tôi rất mong nhận được sự góp ý
của thầy, cô để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Công Khanh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
VĂN HÓA Ở CƠ SỞ VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ................. 11
1.1. Một số vấn đề lý luận về chính sách phát triển văn hóa ở cơ sở .......................... 11
1.2. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu ........................................................................ 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG, BAN HÀNH, TRIỂN KHAI,THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN ........ 26
2.1. Thực trạng xây dựng, ban hành chính sách phát triển văn hóa cơ sở trên địa bàn
..................................................................................................................................... 26
2.2. Thực trạng triển khai, thực hiện chính sách phát triển văn hóa cơ sở ở quận Hải
Châu............................................................................................................................. 40
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG, BAN HÀNH, TRIỂN KHAI VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN ............................................. 59
3.1. Đánh giá về quá trình xây dựng, ban hành, triển khai và thực hiện chính sách
phát triển văn hóa cơ sở trên địa bàn ........................................................................... 59
3.2. Giải pháp .............................................................................................................. 68
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
: Nghị quyết
NSTP
: Ngân sách Thành phố
NSĐP
: Ngân sách địa phương
NXB
: Nhà xuất bản
PGS.TS
: Phó Giáo sư. Tiến sĩ
QĐ
: Quyết định
TTg
: Thủ tướng
TDĐKXDĐSVH
: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
Số hiệu
Tên bảng
bảng
Trang
Tổng hợp kết quả thực hiện phong trào
2.1.
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn
44
2010-2017
2.2.
Ghi nhận các mô hình trong Đề án “XDNSVH-VMĐT”
từ năm 2012-2018
46
Tổng hợp Nguồn vốn dự kiến đầu tư cho các Thiết chế văn
2.3.
hóa trên địa bàn quận Hải Châu từ các nguồn ngân sách giai
đoạn 2019-2022
51
Năm 1967, Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục của Liên hiệp quốc (viết tắt
là UNESCO) đã tổ chức một hội nghị bàn tròn chuyên gia để bàn luận về chủ đề
chính sách văn hóa. Sau rất nhiều tranh luận, các nhà khoa học, các nhà quản lý văn
hóa của nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra một quan niệm về chính sách văn hóa
như sau: “Chính sách văn hóa là một tổng thể các thực tiễn xã hội, có ý thức và có
suy nghĩ, những can thiệp và không can thiệp nhằm mục đích thoả mãn một số nhu
cầu văn hóa bằng cách sử dụng tối ưu tất cả các nguồn vật chất và nhân lực mà
một xã hội nào đó sắp đặt vào thời điểm được cân nhắc kỹ” [65, 23]. Đến năm
1998, tại hội nghị ở Stockhom, trong chương trình hành động của mình, UNESCO
một lần nữa lại khẳng định muốn phát triển bền vững nền văn hóa các quốc gia phải
hoàn thiện chính sách văn hóa của mình. Cũng với tinh thần đó, một vài công trình
được xuất bản ở châu Âu và Mỹ (United States of America) đã đề cập tới chính
sách văn hóa với tư cách là một điều kiện khung của quản lý văn hóa và là một
phương diện của chính sách xã hội, như cuốn Quản lý văn hóa của Thomas Heinz
[59].
2
Nhằm phục vụ cho việc soạn thảo các dự án luật và những chế độ, chính sách
thuộc lĩnh vực văn hóa thông tin, Bộ Văn hoá - Thông tin Việt Nam cũng đã lựa
chọn dịch và giới thiệu chính sách văn hóa của một số quốc gia châu Á, châu Âu,
châu Phi và Bắc Mỹ trong cuốn Tổng thuật chính sách văn hóa của một số nước
trên thế giới [28]. Tuy chính sách văn hóa của mỗi nước có sự khác nhau do chịu sự
qui định của các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa của mỗi
nước nhưng về cơ bản, có thể thấy chính sách văn hóa của các quốc gia được giới
thiệu trong các tài liệu trên nhằm hướng tới các mục tiêu sau: (1) Sưu tầm, giữ gìn
và phát huy vốn văn hóa nghệ thuật các dân tộc hoặc đa dân tộc; (2) Xây dựng nền
văn hóa vừa dân tộc, vừa hiện đại, làm nổi bật được bản sắc dân tộc; (3) Sáng tạo
được nhiều giá trị và thành tựu văn hóa, nghệ thuật có chất lượng tư tưởng và nghệ
trên thế giới và những vấn đề cốt yếu trong CSVH Việt Nam qua các giai đoạn lịch
sử, đặc biệt là thời kỳ đổi mới. Đây là nguồn tài liệu quan trọng để tác giả luận văn
xây dựng phần cơ sở lý luận của đề tài. [59]
Tổng kết 15 năm thực hiện NQ TW V Khóa VIII, tác giả Nguyễn Tri Nguyên
đã có bài viết: Đổi mới và hoàn thiện chính sách văn hoá. [41] Ở công trình này, tác giả
khẳng định vai trò của chính sách văn hóa. Ông viết: “Chính sách văn hóa hiện thực
hóa được những tư tưởng cơ bản trong các nghị quyết của Đảng ta về văn hóa, thực
chất là ý chí, quan điểm và định hướng, tạo điều kiện cơ bản để quản lý văn hóa của đất
nước với tư cách là phương tiện hiệu quả để thiết lập cuộc sống tốt đẹp đồng thời với
việc phát triển một nền sản xuất và thị trường văn hóa lành mạnh”. [41]
Năm 2000, tác giả Lê Như Hoa công bố cuốn sách Quản lý văn hóa đô thị trong
điều kiện CNH - HĐH đất nước, trong đó đã bàn về những vấn đề quản lý văn hóa đô
thị ở nước ta trong bối cảnh chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường,
quá trình đô thị hóa phát triển mạnh mẽ. Rõ ràng điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới
chính sách phát triển văn hóa và quản lý văn hóa tại các khu đô thị. [24]
Ngoài ra, trên các tạp chí khoa học như Tạp chí Cộng Sản, Tạp chí Văn hoá
nghệ thuật, Tạp chí Xây dựng & đô thị, Tạp chí Tia sáng,… thường xuyên có đăng
tải các bài viết tìm hiểu về chính sách văn hóa ở Việt Nam, đặc biệt là ở các đô thị
cũng như những vấn đề tồn tại trong đời sống văn hoá ở nước ta. Có thể kể đến một
số bài viết tiêu biểu như bài viết “Về khái niệm hành chính công và chính sách văn
hóa” của Nguyễn Quang Long [32]; “Đô thị hoá và xây dựng văn hoá đô thị Việt
Nam hiện đại” của tác giả Trần Minh Tơn [53]; “Đô thị hoá và sự biến đổi nhu cầu
văn hoá của cư dân đô thị nước ta” của Lê Trung Kiên[29],… Vấn đề cơ bản của
văn hoá được các tác giả đề cập tới là chính sách phát triển văn hoá trong các lĩnh
vực như: Phong trào toàn dân đoàn kết; Xây dựng Nếp sống văn minh đô thị, thiết
chế văn hoá và các hoạt động văn hoá - nghệ thuật, hoạt động vui chơi giải trí, bảo
vệ môi trường cảnh quan trong đời sống, v.v...
Vấn đề chính sách văn hóa cũng được nhiều nhà khoa học, nhiều nhà quản lý
quan tâm. Một số cuộc Hội thảo khoa học xung quanh chủ đề này đã được tổ chức.
Năm 2003, Uỷ ban Văn hóa, thanh thiếu niên nhi đồng của Quốc hội đã tổ chức Hội
còn là một thao tác tất yếu của nghiên cứu khoa học để rút ra những bài học kinh
nghiệm vì các chiến lược phát triển hiện đại. Tinh thần ấy được thể hiện trong công
trình “Chính sách văn hóa của các triều đại phong kiến Việt Nam” của Hoàng Vinh.
Tài liệu này nằm trong khuôn khổ của Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà
nước KX 06. [64]
Nguyễn Tri Nguyên trong một số công trình nghiên cứu của mình cũng đã
bàn đến khái niệm chính sách văn hóa và các công cụ của chính sách văn hóa. Năm
2004, vấn đề chính sách văn hóa được đặt ra trong cuốn Quản lý văn hóa trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng nhìn chung, tác giả này mới
5
chỉ dừng lại ở việc lược thuật, giới thiệu quan niệm về chính sách văn hóa và cách
thức triển khai chính sách văn hóa trong thực tiễn của một số nước phương Tây, đặc
biệt là Đức và Mỹ. [42]
2.3. Các nghiên cứu về chính sách phát triển văn hóa trên địa bàn quận Hải
Châu
Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào viết về đời sống văn
hóa cơ sở ở quận Hải Châu một cách riêng biệt, toàn diện và có hệ thống. Hiện nay, chỉ
có một số bài viết đăng trên các Tạp chí, các Tập san, Chuyên trang có nghiên cứu,
đề cập đến vấn đề phát triển văn hóa trên địa bàn quận Hải Châu trong tổng thể phát
triển văn hóa ở thành phố Đà Nẵng nói chung, như: Lê Hữu Ái trong công trình “Đô
thị hoá và các hiệu ứng văn hoá cho sự phát triển kinh tế ở thành phố Đà Nẵng hiện
nay” đã chỉ ra những nét khác biệt trong lối sống của cư dân Đà Nẵng so với các
vùng miền khác, chịu tác động của quá trình ĐTH, nhưng lối tư duy tiểu nông (tính
tuỳ tiện, tính vô tổ chức...) của người dân Đà Nẵng, cũng như của những người nhập
cư trong nước khó có thể nhanh chóng thay đổi để phù hợp với lối sống đô thị văn
minh, hiện đại; đồng thời đề xuất biện pháp khắc phục những tồn tại trên.[2, tr.5356].
Năm 2012, Viện Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng đã tiến hành khảo sát lấy
mới (2016-2020); Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Kế hoạch số 4180/KH-UBND
của UBND Thành phố về thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW. Báo cáo đã thể hiện rõ
những nỗ lực của Ngành Văn hóa và Thông tin quận Hải Châu nhằm hoàn thành các
mục tiêu của Quận ủy đề ra, đó là: Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, thể
thao hướng về cơ sở; Phát huy tính tự quản trong cộng đồng dân cư; Hoàn thiện hệ
thống thiết chế văn hóa thể thao quận và cơ sở; Phát huy năng lực hoạt động của bộ
máy ngành VHTT quận và phòng; Nâng cao hiệu quả, chất lượng các hoạt động văn
hóa, thể thao đáp ứng nhu cầu của nhân dân, trên cơ sở đó đề ra kế hoạch hoạt động
của ngành,…
Nhìn chung, trên thế giới, nghiên cứu chính sách văn hóa đã được tiến hành
nửa thế kỷ nay, tuy nhiên tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi vùng, mỗi quốc
gia, mỗi thể chế chính trị khác nhau mà chính sách văn hóa có những thay đổi phù
hợp. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu chính sách phát triển văn hóa, đặc biệt là chính
sách phát triển văn hóa ở cơ sở đã bắt đầu được quan tâm; được triển khai thực hiện,
với những thành quả bước đầu. Những công trình nghiên cứu này là cơ sở, là tài liệu
khoa học quan trọng cho tác giả luận văn xây dựng phần mở đầu và triển khai nội
dung luận văn. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay chưa có công trình nào
nghiên cứu về chính sách phát triển văn hóa, đặc biệt là chính sách phát triển văn
hóa cơ sở trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Đây vẫn đang là một
khoảng trống cần được lấp đầy, một sự thiếu hụt cần được bổ sung và là cơ sở cho
phép tôi triển khai thực hiện, hoàn thành đề tài luận văn cao học về quản lý văn hóa
của mình.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là Chính sách phát triển văn hóa cơ sở trên
7
địa bàn bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.2.2. Phạm vi thời gian
Luận văn đi sâu nghiên cứu việc xây dựng, ban hành và triển khai, thực hiện
8
chính sách phát triển văn hóa cơ sở trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
trong khoảng thời gian từ năm 2000 cho đến thời điểm hiện nay (2019).
5.2.3. Phạm vi vấn đề
Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu quá trình xây dựng, ban hành; triển khai,
thực hiện chính sách phát triển văn hóa ở cơ sở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Văn hóa là một khái niệm rất rộng (xem phần trình bày khái niệm văn hóa ở
Chương 1), nhưng do hạn chế về thời gian và dung lượng, nên luận văn chỉ đi vào
nghiên cứu cụ thể việc xây dựng, ban hành; triển khai, thực hiện các chính sách
sau: (1) Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; (2) Đề án
“Xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh đô thị”; (3) Phát triển các thiết chế văn hóa,
thể thao ở cơ sở; (4) Bảo tồn, gìn giữ và phát huy các di tích lịch sử - văn hóa và
Khôi phục các hoạt động văn hóa mang bản sắc dân tộc và địa phương.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luận văn sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Thông qua các tài liệu, các công
trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi tập hợp, sắp xếp, phân tích, tổng
quan để đánh giá và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn chính sách phát triển
văn hóa trên địa bàn quận Hải Châu.
- Phương pháp khảo sát thực tiễn: Phương pháp nghiên cứu này giúp học
viên tìm hiểu thực trạng xây dựng, ban hành; triển khai, thực hiện các chính sách
văn hóa cơ sở, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của công
tác này qua khảo sát thực tiễn (Chúng tôi lấy ý kiến của một số người dân và cán bộ
quản lý văn hóa trên địa bàn bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp để làm rõ hơn về
theo mỗi ngành khoa học, mỗi trường phái nghiên cứu có nhãn quan và chiêm
nghiệm khác nhau thì có định nghĩa khác nhau về văn hóa. Trong bài Khái luận về
văn hóa, Trần Ngọc Thêm viết: “Ngay từ thuở lọt lòng, chúng ta đã đắm mình trong
chất men văn hóa. Cái tinh thần như tư tưởng, ngôn ngữ… là văn hóa; cái vật chất
như ăn, ở, mặc… cũng là văn hóa… Từ “văn hóa” biết bao nhiêu là nghĩa, nó được
dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau” [58,tr.4]. Như vậy, văn
hóa là một khái niệm rộng và có nội hàm phong phú nên trên thế giới cũng như
trong nước, hiện tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Tuy nhiên, trên
thực tế những ai nghiên cứu văn hóa đều dựa vào một định nghĩa đã có hoặc đưa ra
định nghĩa về khái niệm này làm công cụ nhận thức nhằm đảm bảo tính nhất quán
và là cơ sở để nghiên cứu. Chính vì vậy, định nghĩa về văn hóa không ngừng gia
tăng.
Con người có khả năng sáng tạo văn hóa và với tư cách là thành viên của một
xã hội; con người cũng chính là chủ thể tiếp thu văn hóa, bảo tồn cũng như truyền
đạt văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc cùng có chung một nền văn hóa
giúp xác định nhóm người hay xã hội mà các cá thể là thành viên.
Việc xác định và sử dụng khái niệm văn hoá thay đổi theo thời gian. Năm
1952, A.L. Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách Culture, a critical review of
concept and definitions (Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và
định nghĩa), cuốn sách này sau đó được tái bản lại năm 2018. Trong đó tác giả đã
đưa ra khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước
khác nhau. Điều này cho thấy, khái niệm “Văn hóa” rất phức tạp. [30]
Năm 1871, E.B. Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa
rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức,
luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm
11
lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [50, tr.13]. Theo định nghĩa này thì văn
phù hợp với điều kiện tự nhiên mà họ cư trú. Ðồng thời, cũng chính vì mỗi dân tộc
có nền văn hóa riêng nên muốn tìm hiểu bản sắc của một dân tộc nào đó thì không
thể không khảo sát bộ mặt văn hóa của dân tộc đó.
12
Tóm lại, có thể hiểu định nghĩa Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và
tinh thần được hình thành, lưu truyền và phát triển qua quá trình sáng tạo của con
người trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội. Văn hóa là sự thống
nhất hữu cơ giữa giá trị văn hóa vật chất và giá trị văn hóa tinh thần. Cùng với sự ra
đời và hình thành các dân tộc, văn hóa phát triển dưới các hình thức dân tộc. Nội
dung của văn hóa cũng rất phong phú, nhưng chung quy có thể xác định trong bốn
mặt: các thành tựu thuộc văn hóa vật chất, các thành tựu của văn hóa nhận thức
(nhân sinh quan, thế giới quan, triết học, mỹ học, văn học, nghệ thuật…), các thành
tựu của văn hóa ứng xử (bao gồm các thang giá trị trong cách ứng xử với thiên
nhiên và ứng xử với con người, với gia đình, với xã hội…), các thành tựu của văn
hóa tổ chức đời sống (bao gồm các thang giá trị trong cách tổ chức đời sống gia
dình, cộng đồng, xã hội…). Nội dung đó dã xác định nội hàm và ngoại diên của
khái niệm văn hóa.
b/ Khái niệm “văn hoá cơ sở”
Cụm từ “cơ sở” hàm chứa nhiều nghĩa, nhưng nó được dùng ít nhất trên ba
phương diện ngữ nghĩa sau:
- Cơ sở được quan niệm như những gì căn bản, làm nền, làm gốc, làm căn cứ
chính cho một lĩnh vực hoạt động, hay một tri thức nào đó. Ví dụ: Cơ sở lý luận, cơ
sở văn hóa, cơ sở vật chất…
- Cơ sở được quan niệm như một địa điểm, địa chỉ, tụ điểm trung tâm… diễn
ra một loại hình hoạt động nào đó về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội như: Cơ sở
hoạt động cách mạng, cơ sở dạy nghề, cơ sở đào tạo, cơ sở văn hóa, cơ sở y tế, v.v...
- Cơ sở được quan niệm như một địa bàn, một đơn vị hành chính, một tổ
sinh hoạt văn hoá thường nhật của quần chúng nhân dân.Tuy vậy, do hạn chế về
thời gian và dung lượng khoa học, luận văn chỉ đề cập quá trình xây dựng, ban hành
4 chính sách cụ thể trên ở cấp thành phố Đà Nẵng, cấp quận (Hải Châu) và quá trình
triển khai, thực hiện các chính sách đó ở cấp quận (Hải Châu) và cấp phường (các
phường thuộc địa bàn quận Hải Châu).
1.1.1.2. Chính sách phát triển văn hóa ở cơ sở
a/ Chính sách văn hoá
Chính sách văn hóa là một bộ phận của chính sách công, đã được thế giới
quan tâm trong những thập kỷ gần đây với định nghĩa của các chuyên gia văn hoá tại
Monaco năm 1967 và của UNESCO cuối thế kỷ XX. Ở Việt Nam cũng đã có nhiều
công trình nghiên cứu về chính sách văn hóa, tuy nhiên trên đại thể, các nhà nghiên
cứu đều thống nhất cho rằng: “Chính sách văn hoá là một hệ thống các nguyên tắc,
các thực hành của nhà nước trong lĩnh vực văn hoá nhằm phát triển và quản lý thực
tiễn đời sống văn hoá theo những quan điểm phát triển và cách thức quản lý riêng,
đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân trên cơ sở vận
dụng các điều kiện vật chất và tinh thần sẵn có của xã hội” [28,70]
b/ Chính sách phát triển văn hóa
Phát triển văn hóa là một khái niệm chưa được thống nhất trong các nhà
nghiên cứu ở nước ta. Nhà nghiên cứu Hồ Bá Thâm cho rằng: “Phát triển văn hoá là
14
quá trình hoạt động sáng tạo các giá trị tinh thần và vật chất, phát huy các giá trị
truyền thống, tiếp thu, tiếp biến giá trị văn hoá trong giao lưu, đưa văn hoá vào cuộc
sống thành nền tảng tinh thần, động lực và nguồn nội sinh, mục tiêu của phát triển
kinh tế và chính trị, xã hội, tạo nên chất lượng mới của cuộc sống” [56, tr.37]. Trong
khi đó, Dương Phú Hiệp lại cho rằng: “Về đại thể, phát triển văn hoá là một quá
trình có tính tất yếu và khách quan trong sự vận động của các lĩnh vực văn hoá. Quá
trình này dẫn tới sự biến đổi giá trị và hệ giá trị. Tính tất yếu và khách quan của quá
ra. Từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (1930) đến Đề cương văn hóa của
Đảng (1943) và các Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng, bên cạnh việc chủ trương
xây dựng nền văn hóa mới, Đảng ta lúc nào cũng rất coi trọng phát triển văn hóa cơ
sở ở khắp mọi miền đất nước.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V đã chỉ rõ cần phải có những chính sách và
biện pháp nhằm tạo điều kiện cho mọi người tham gia vào hoạt động văn hóa, văn
nghệ; đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu thưởng thức và hoạt động văn hóa, văn
nghệ của nhân dân từ thành thị đến nông thôn, từ nơi đông người đến những vùng
xa xôi hẻo lánh và tiếp tục nhấn mạnh đến việc phát triển VHCS cần phải: “Đặc biệt
chú trọng xây dựng ĐSVH ở cơ sở, đảm bảo mỗi nhà máy, nông trường, lâm
trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, cơ quan, trường học, bệnh
viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường, ấp, đều có đời sống văn hóa” [10, tr.
102]. Đại hội cũng chỉ rõ nhiệm vụ phải phát triển VHCS ở từng vùng. Đó là phải tổ
chức tốt hơn nữa ĐSVH ở thành phố, thị xã, làm cho các thành thị xứng đáng giữ
vai trò tiêu biểu của nền văn hóa mới; Phải hết sức chăm lo xây dựng văn hóa ở
nông thôn, phải chú ý đến vùng căn cứ cũ, vùng có đồng bào các dân tộc. Ở các
quận lỵ và các xã, các cấp chính quyền cần quan tâm xây dựng các công trình văn
hóa như nhà văn hóa, rạp chiếu bóng, thư viện, sân vận động… tạo thành một mạng
lưới có chức năng xây dựng, phát triển và tuyên truyền văn hóa mới ở nông thôn.
Từ năm 1986, trên tinh thần đổi mới toàn diện và sâu sắc đất nước, Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), Đảng đã có những nhận thức mới về vai trò,
vị trí của văn hóa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội đã khẳng định: “kinh tế và văn hóa là hai mặt tác động qua lại lẫn nhau nhằm
xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con
người” [9, tr.10]. Có thể thấy, cơ chế thị trường và quá trình mở cửa trong những
năm đổi mới đã làm sống động và khởi sắc môi trường văn hóa. Tuy nhiên những
mặt trái của nó đã làm vẩn đục môi trường văn hóa và làm biến dạng nhân cách con
người. Vì thế việc xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh không chỉ có ý nghĩa lâu
dài đối với việc chủ động phòng chống “văn hóa đen” và tệ nạn xã hội mà còn tạo
cao hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH”, “xây dựng nếp
sống văn minh, gia đình văn hóa”… Làm sao cho văn hóa thấm sâu vào từng khu
dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện giá trị mới của con người Việt Nam”
[15, tr.208]. Bên cạnh đó, để góp phần xây dựng tốt ĐSVHCS, Đảng ta chủ trương
đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động văn hóa. Mục đích chủ yếu nhằm “khuyến khích
nhân dân và các tổ chức tham gia thiết thực, có hiệu quả các hoạt động văn hóa”
[15,tr.209].
Trên cơ sở tổng kết từ thực tiễn, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (4/2006)
đã nhấn mạnh vào việc “đẩy mạnh việc xây dựng đời sống văn hóa đại chúng và
môi trường văn hóa lành mạnh”, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và của con
người trong điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế.
Như vậy, quyết tâm xây dựng ĐSVH lành mạnh ở khắp mọi nơi trên đất nước
luôn xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng. Trong đó, Đảng chú trọng đến
17
việc phát triển VHCS nhằm tạo lập yếu tố bền vững trong phát triển kinh tế- xã hội nói
riêng và phát triển con người Việt Nam nói chung.
1.1.2.2. Chính sách của Nhà nước
Nhà nước của chúng ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, vận hành vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Không giống
một số kiểu nhà nước khác hoạch định chính sách văn hóa với những chuẩn mực từ
trên xuống, đối trọng với các chuẩn mực từ dưới lên của nhân dân lao dộng, chính
sách văn hoá của Nhà nước ta luôn vì mục tiêu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của
tuyệt đại đa số nhân dân. Chính sách phát triển văn hóa của Nhà nước Việt Nam
luôn vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Nhà nước Việt Nam luôn chú ý đến sự phát triển đa đạng văn hóa, do nền
văn hóa của chúng ta là một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, vì thế chính sách
văn hóa của nhà nước ta không chỉ đảm bảo cho văn hóa của các tộc người được gìn