VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THANH TUẤN
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 9 38 01 07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2019
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Bùi Thị Huyền
TS. Nguyễn Văn Cương
Phản biện 1: GS.TS. Lê Hồng Hạnh
Phản biện 2: GS.TS. Hoàng Thế Liên
Phản biện 3: PGS.TS. Bùi Ngọc Cường
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại:
Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam,
477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.
huống, vướng mắc và bất cập, gây không ít khó khăn cho Thẩm phán khi tiến
hành tố tụng. Trong khi đó, địa vị pháp lý của Thẩm phán chưa được pháp luật
quy định đầy đủ, rõ ràng. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong việc thu
thập tài liệu, chứng cứ được đề cao hơn đương sự; nhiều đương sự chưa ý thức
được việc chứng minh cho yêu cầu của mình; trình tự thủ tục tố tụng giải quyết
vụ án dân sự sơ thẩm chưa hợp lý....Mặt khác, Thẩm phán giải quyết các vụ án
dân sự vẫn còn nhiều sai sót, tình trạng vi phạm TTDS còn nhiều, tỷ lệ bản án
dân sự sơ thẩm bị hủy, sửa do lỗi chủ quan vẫn cao, một số vụ án còn để quá
hạn luật định; tính chủ động, sáng tạo của Thẩm phán còn hạn chế; sự phối hợp
giữa Thẩm phán với HTND, Thư ký chưa thực sự hiệu quả. Cơ chế bảo đảm
hoạt động TTDS của Thẩm phán chưa thực sự được quan tâm, hoàn thiện. Nói
1
cách khác, địa vị pháp lý của Thẩm phán trong TTDS nói chung và trong giải
quyết vụ án dân sự sơ thẩm còn nhiều điểm chưa rõ cả về khía cạnh nhận thức lý
luận và thực tiễn. Những nguyên nhân này trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng xét
xử của Tòa án trong lĩnh vực dân sự, ảnh hưởng không có lợi đến quyền, lợi ích
của Nhà nước và nhân dân. Vì vậy, nghiên cứu để nhận thức cho đúng địa vị pháp
lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm phù hợp với yêu cầu của
tình hình mới, qua đó, đề xuất hoàn thiện các quy định và cơ chế bảo đảm thực hiện
hiệu quả địa vị pháp lý của Thẩm phán cùng các thủ tục giải quyết vụ án dân sự có
liên quan, góp phần thực hiện mục tiêu cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước là
hết sức cần thiết. Do vậy, một công trình nghiên cứu ở cấp độ tiến sĩ về “Địa vị
pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện
nay” là thực sự cần thiết ở cả khía cạnh lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn
thực hiện.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu một cách có hệ thống các khía cạnh
so sánh và thống kê.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Ngoài việc kế thừa một số vấn đề liên quan đến luận án của các công
trình khoa học đã công bố, luận án có những đóng góp mới về các nội dung
sau:
- Về cách tiếp cận: Luận án không chỉ tiếp cận vấn đề địa vị pháp lý của
Thẩm phán ở Việt Nam hiện nay nói chung, mà tập trung nghiên cứu địa vị
pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm. Địa vị pháp lý
của Thẩm phán được nghiên cứu một cách toàn diện ở các khía cạnh Nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ
thẩm.
- Luận án đưa ra khái niệm, những thành tố cơ bản và làm rõ đặc điểm
của địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt
Nam hiện nay.
- Luận án đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực trạng thực hiện
pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ
thẩm ở Việt Nam hiện nay, chỉ rõ những hạn chế, bất cập của pháp luật về
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân
sự sơ thẩm c ng như những hạn chế, thiếu sót trong quá trình áp dụng pháp
luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm.
- Luận án đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng
cao địa vị pháp lý của Thẩm phán, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả giải
quyết vụ án sơ thẩm của Thẩm phán. Những giải pháp đưa ra, một mặt hoàn
thiện địa vị pháp lý của Thẩm phán, mặt khác hoàn thiện thủ tục tố tụng giải
quyết các vụ án dân sự sơ thẩm theo hướng khoa học nhằm giải quyết vụ án
nhanh chóng và đúng pháp luật.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận, luận án đưa ra góc nhìn toàn diện về vấn đề địa vị pháp
lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; xây dựng, hoàn thiện
chuẩn, quy trình để quy hoạch, tuyển chọn bổ nhiệm Thẩm phán đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế và đảm bảo tốt nhất quyền và nghĩa vụ của nhân
dân; giải pháp về sự độc lập của Thẩm phán
1.2. Những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo
Th nhất, các khái niệm được xây dựng trên cơ sở Thẩm phán là một
chủ thể của pháp luật TTDS, với những quyền và nghĩa vụ nhất định, chưa
4
nghiên cứu để xác định trách nhiệm khi thực hiện quyền và nghĩa vụ đó, bao
gồm trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán về hành chính (kỷ luật), hình sự và
trách nhiệm hoàn trả khi giải quyết vụ án không chính xác, gây thiệt hại… Do
đó, khái niệm này sẽ được nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu làm rõ trong
luận án của mình.
Th hai, các công trình nghiên cứu trên cơ bản đã đưa ra các tiêu chí và
các yếu tố thể hiện, chi phối rộng, hẹp khác nhau để xác định địa vị pháp lý của
Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, các công trình
chỉ mới dừng lại ở việc đưa ra các “yếu tố chung” để xác định địa vị của Thẩm
phán hoặc của Thẩm phán trong TTDS. Các nghiên cứu chưa hệ thống một
cách đầy đủ các yếu tố thể hiện, xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong
giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm.
Th ba, về thực trạng, các nghiên cứu mới chỉ bước đầu phân tích các
quy định pháp luật mà thiếu sự đánh giá toàn diện. Đặc biệt các nghiên cứu còn
chưa phân tích sâu về các quy định xác định trách nhiệm pháp lý của Thẩm
phán với tư cách là một trong những nội dung quan trọng trong địa vị pháp lý
của Thẩm phán. Thêm vào đó, hiện nay các quy định pháp luật về quyền hạn,
nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý và vị trí vai trò của Thẩm phán có nhiều thay đổi
theo Hiến pháp năm 2013, uật tổ chức Tòa án nhân dân 2014, B TTDS năm
2015…
vụ án dân sự sơ thẩm. Đồng thời so sánh với địa vị của Thẩm phán trong việc
giải quyết vụ án dân sự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và vụ án hình sự và
của những người tiến hành tố tụng khác.
Th ba, luận án sẽ phân tích cụ thể các quy định của pháp luật về nhiệm
vụ, quyền hạn, trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án
dân sự sơ thẩm. Từ đó, sẽ đánh giá ưu điểm, c ng như nhược điểm của quy
định pháp luật, thực trạng pháp luật trong việc Thẩm phán giải quyết vụ án dân
sự sơ thẩm và so sánh nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm với Thẩm phán của
một số quốc gia khác.
Luận án c ng tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về địa
vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo pháp luật.
Làm rõ các nguyên nhân của những hạn chế, bất cập khi Thẩm phán thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm.
Th
, luận án đưa ra một số giải pháp mới nhằm hoàn thiện hơn các
quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán, đồng thời kiến nghị một quy trình giải
quyết vụ án dân sự phù hợp với từng loại vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình,
lao động, kinh doanh thương mại…
6
CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN
TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM
2.1. Khái niệm và những thành tố cơ bản của địa vị pháp lý Thẩm
phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
2.1.1. Khái niệm thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự
Qua nghiên cứu, có thể hiểu thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự như sau Thủ tục
sơ ẩm vụ án dân sự là việ á â , ơ q a , ổ ch c có tranh chấp ó đơ y
cầ và đ c Tòa án có thẩm quyền thụ lý, giải quyế làm ă
7
khi ban hành bản án, quyết định sơ thẩm và các quyền khác có liên quan đến vụ
án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự
tại Toà án cấp sơ thẩm là việc Thẩm phán phải chịu những chế tài theo quy
định của pháp luật do không thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
2.2. Các yếu tố thể hiện, xác định địa vị pháp lý Thẩm phán trong
giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
Các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp lý luôn tác động đến
hệ thống Tòa án nói chung và địa vị pháp lý của các chủ thể tố tụng nói riêng,
trong đó có Thẩm phán. Khi giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm, các
yếu tố thể hiện, xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán được thể hiện thông qua
các yếu tố sau:
2.2.1. Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong hệ thống Tòa án và trong bộ
máy Nhà nước
Tòa án nhân dân với chức năng xét xử - là cơ quan duy nhất thực hiện
quyền tư pháp, là cơ quan có vị trí độc lập và là bộ phận quan trọng, không thể
thiếu trong bộ máy Nhà nước. Trong các cơ quan tư pháp, Tòa án là cơ quan
xét xử và là cơ quan có vị trí, vai trò quan trọng nhất.
Trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước thì Thẩm phán là công chức,
làm việc trong TAND, trực tiếp tiến hành tố tụng xét xử các loại vụ án. Với tư
cách là người được giao thực hiện chức năng xét xử của Tòa án, Thẩm phán có
vị trí quan trọng và trung tâm không thể thay thế trong việc thực hiện một trong
những quyền lực Nhà nước.
2.2.2. Tính độc lập khi xét xử thể hiện địa vị pháp lý của Thẩm phán
Bất kỳ quốc gia trên thế giới c ng coi nguyên tắc độc lập xét xử của
Thẩm phán là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất, bảo đảm cho một
nền pháp chế, sự ổn định và công lý. Đó là những yếu tố cần thiết để có được
chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải; chuẩn bị
hồ sơ vụ án, trực tiếp xét xử và ban hành bản án, quyết định.
Th hai, xét dưới góc độ giai đoạn tiến hành tố tụng theo trình tự sơ
thẩm, phúc thẩm, thủ tục xét lại bản án có hiệu lực pháp luật (giám đốc thẩm;
tái thẩm), Thẩm phán xét xử vụ án theo thủ tục sơ thẩm dân sự phải thực hiện
nhiều nhiệm vụ, quyền hạn hơn so với Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ ở các
giai đoạn tố tụng khác. Bên cạnh đó là trách nhiệm rất nặng nề khi giải quyết
vụ án không phù hợp, đặc biệt là vi phạm các thủ tục TTDS.
Th ba, xem xét địa vị pháp lý của Thẩm phán trong mối quan hệ với
các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng khi giải quyết vụ án dân sự sơ
thẩm. Thẩm phán là người tiến hành tố tụng cùng với Kiểm sát viên, HTND, Thư
ký tòa án...nhưng là người tiến hành tố tụng quan trọng nhất
2.3. Mối liên hệ giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán với các chủ thể
khác khi giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm
- Mối liên hệ giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán với Chánh án Tòa án
cùng cấp;
- Mối liên hệ giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán với địa vị pháp lý của
9
Hội thẩm nhân dân;
- Mối liên hệ giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán với địa vị pháp lý của
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân;
- Mối liên hệ giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán với việc thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký, Thẩm tra viên Tòa án;
- Mối liên hệ giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán với địa vị pháp lý của
đương sự;
- Mối liên hệ giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán với cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ;
phiên tòa;
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán tại phiên tòa xét xử vụ án dân sự:
Bao gồm các quy định phần thủ tục bắt đầu phiên tòa; quy định về thủ tục tranh
tụng tại phiên tòa; quy định phần thủ tục nghị án và tuyên án;
- Thẩm phán đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật;
- Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp
luật;
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán sau khi kết thúc phiên tòa dân sự
sơ thẩm bao gồm vấn đề sửa chữa, bổ sung bản án; Thẩm phán thực hiện việc
cấp trích lục bản án; giao, gửi bản án; Thẩm phán thực hiện việc hủy bỏ
BPKCTT;
- Tiến hành hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ án dân sự theo quy
định của BLTTDS;
- Địa vị pháp lý của Thẩm phán khi giải quyết theo thủ tục rút gọn.
3.1.2. Thực trạng quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của
Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự tại tòa án cấp sơ thẩm
- Trách nhiệm của Thẩm phán khi có hành vi vi phạm chưa đến mức
phải xử lý kỷ luật: Bên cạnh quy định về trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân
sự (bồi hoàn) và trách nhiệm hình sự thì TAND tối cao có quy định về việc xử
lý người giữ chức danh tư pháp trong TAND có hành vi vi phạm do thiếu trách
nhiệm hoặc vi phạm trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng chưa đến
mức phải xử lý kỷ luật theo Quyết định số 120/QĐ-TANDTC, ngày 19/6/2017
của Chánh án TAND tối cao.
- Trách nhiệm kỷ luật: Hành vi vi phạm của Thẩm phán trong quá trình
giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm nói riêng và hoạt động công vụ nói chung, tùy
theo mức độ mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc phải
chịu cả hai trách nhiệm. Thẩm phán là công chức Nhà nước nên việc xem xét ra
quyết định kỷ luật đối với Thẩm phán c ng thực hiện theo các quy định chung
đối với công chức. Luật Cán bộ, công chức quy định sáu hình thức kỷ luật công
Th ba, kết quả giải quyết các vụ án dân sự của Thẩm phán ngày càng
đảm bảo chất lượng;
3.2.2. Những tồn tại khi thực hiện quy định về địa vị pháp lý của
Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
Bên cạnh những thuận lợi và kết quả đã đạt được, việc thực hiện địa vị
pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm còn nhiều
tồn tại, khó khăn, vướng mắc.
- Chưa thực hiện đầy đủ nguyên tắc độc lập khi xét xử của Thẩm phán,
c ng như chưa xác định đúng vị trí, vai trò của Thẩm phán: Th nhất, Thẩm
phán, HĐXX bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tác động bên ngoài; th hai,
nguyên tắc độc lập khi giải quyết vụ án của Thẩm phán bị ảnh hưởng tiêu cực
bởi chính bản thân Thẩm phán. Nguyên tắc độc lập khi giải quyết vụ án của
12
Thẩm phán bị vi phạm còn có nguyên nhân do chính các Thẩm phán “cho
phép” mà không có sự phản kháng lại hoặc không dám phản kháng.
- Thủ tục tố tụng giải quyết vụ án dân sự chưa hợp lý:
Th nhất, từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán
phải thực hiện rất nhiều các thủ tục thông báo, giao nhận cho các đương sự,
nhiều thủ tục không cần thiết, gây lãng khí tài chính và thời gian;
Th hai, quy định thời hiệu khởi kiện không phù hợp;
Th ba, quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải không phù hợp;
- Thủ tục tố tụng giải quyết vụ án dân sự chưa đáp ứng được yêu cầu của
cuộc cách mạng công nghệ Các lĩnh vực khác trong cuộc sống trong đó có lĩnh
vực thuế, tài chính, ngân hàng, thủ tục hành chính công... đã và đang áp dụng
những thành tựu của cuộc cách mạng công nghệ, công nghệ 4.0 vào hoạt động
của mình. Tuy nhiên, thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp vụ án dân sự tại Tòa
phán trong giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm
4.1.1. Phương hướng hoàn thiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
Trong lĩnh vực TTDS, phương hướng hoàn thiện địa vị pháp lý của
Thẩm phán với nội dung nhiệm vụ, quyền hạn cần được xây dựng cho phù hợp
với bản chất của TTDS. Theo đó, cần hạn chế, bỏ bớt một số nhiệm vụ, quyền
hạn của Thẩm phán trong việc tự thu thập tài liệu, chứng cứ. Đồng thời đề cao
vai trò của đương sự trong việc tìm và cung cấp chứng cứ cho Tòa án để bảo vệ
quyền và lợi ích của mình. Thông qua đó, đương sự tiếp cận, biết được nội
dung tài liệu, chứng cứ là cơ sở quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc
tranh tụng.
Bổ sung một số quyền cho Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ
thẩm như quyền tống đạt theo phương thức bằng điện thoại, thư điện tử,
internet... hoặc thực hiện một số thủ tục tố tụng trực tuyến có sự tham gia của
đại diện VKSND, chính quyền địa phương...nhằm giải quyết vụ án nhanh
chóng, chính xác vụ án phù hợp với đòi hỏi của đất nước về công nghiệp 4.0,
nhưng vẫn đảm bảo quyền tranh tụng, quyền tiếp cận công khai chứng cứ của
đương sự.
Nghiên cứu để xây dựng thủ tục tố tụng có thể xét xử trực tuyến các vụ
án về tranh chấp liên quan đến mua bán hàng hóa, dịch vụ trực tuyến với thủ
tục đơn giản với thời gian tố tụng ngắn.
4.1.2. Phương hướng hoàn thiện trách nhiệm của Thẩm phán
Hiện nay trách nhiệm của Thẩm phán bao gồm: Trách nhiệm của Thẩm
phán có hành vi vi phạm chưa đến mức phải xử lý kỷ luận; trách nhiệm kỷ luật;
trách nhiệm bồi thường thiệt hại; trách nhiệm hình sự. Đánh giá về các quy
định trách nhiệm của Thẩm phán, bên cạnh những ưu điểm là nâng cao trách
nhiệm của Thẩm phán và bảo đảm chức năng xét xử của Tòa án, thì việc quy
định trách nhiệm của Thẩm phán quá chi tiết với nhiều chế tài có thể ảnh hưởng
đến sự nghiệp, dẫn đến sự “thận trọng thái quá” của mỗi Thẩm phán khi giải
quyết vụ án.
Phương hướng hoàn thiện trách nhiệm của Thẩm phán trong giải quyết vụ
- Hoàn thiện thủ tục TTDS liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm
phán khi giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm:
Một là, để giải quyết vướng mắc, bất cập khi Thẩm phán tiến hành phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cập, công khai chứng cứ đối với những vụ án dân
sự phức tạp, liên quan đến nhiều chủ thể, nhiều lĩnh vực, khối lượng tài sản
lớn…số tài liệu, chứng cứ đến hàng nghìn bút lục, thời gian tổ chức phiên họp kéo
dài cả ngày hoặc nhiều ngày. Pháp luật cần quy định cho Thẩm phán chỉ phải thông
báo tên đề mục các tài liệu, nếu đương sự có yêu cầu nội dung cụ thể của tài liệu
nào thì Thẩm phán mới phải công khai tài liệu đó….
15
Hai là, pháp luật tố tụng cần quy định cho Thẩm phán có quyền ra quyết
định công nhận sự thỏa thuận một phần khi tiến hành hòa giải trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử: Quá trình chuẩn bị xét xử một vụ án, Thẩm phán có thể ra
nhiều quyết định công nhận sự thỏa thuận một phần khác nhau. Quyết định đó
có hiệu lực pháp luật ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị.
Ba là, pháp luật cần quy định Thẩm phán có quyền ban hành quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án một phần đối với những yêu cầu khởi kiện, yêu cầu
phản tố, yêu cầu độc lập thuộc trường hợp đình chỉ giải quyết theo Điều 217
BLTTDS. Phần yêu cầu bị đình chỉ giải quyết không liên quan đến những yêu
cầu còn lại. Quyết định đình chỉ giải quyết một phần được xem xét phần án phí
tương ứng.
B n là, hoàn thiệ á q y định về thủ tụ
ô báo o đ ơ sự: Để
đương sự thực hiện đầy đủ, đúng quyền và nghĩa vụ của mình, ngay khi thụ lý
vụ án, cần phải có quy định Thẩm phán thông báo bằng văn bản cho đương sự
biết về quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia tố tụng. Khi Thẩm phán ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử, đồng thời thông báo bằng văn bản quyền và nghĩa vụ
quyền sửa chữa, bổ sung quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự; sửa
chữa, bổ sung quyết định đình chỉ và các quyết định khác, những nội dung này
chưa được pháp luật quy định.
4.2.4. Hoàn thiện quy định về trách nhiệm của Thẩm phán khi tiến
hành tố tụng
Bên cạnh việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, BLTTDS cần
thiết phải quy định cụ thể hơn nữa trách nhiệm của Thẩm phán, của HĐXX. Cụ
thể, trách nhiệm của Thẩm phán tiến hành thụ lý đơn khởi kiện; trách nhiệm của
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án là chủ tọa; trách nhiệm của Thẩm
phán giải quyết vụ án không phải là chủ tọa; trách nhiệm của Thẩm phán dự
khuyết; trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân.
Hiện nay, Thẩm phán có thể phải chịu trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm bồi
hoàn (dân sự) và trách nhiệm hình sự khi giải quyết các loại vụ án khi có vi phạm.
Ngoài ra, theo Quyết định số 120/QĐ-TANDTC đưa ra căn cứ để xử lý trách
nhiệm của Thẩm phán trong trường hợp vi phạm chưa đến mức phải bị kỷ luật bao
gồm nhiều mức xử lý khác nhau như kiểm điểm trước cơ quan, đơn vị; tạm dừng
thực hiện nhiệm vụ được giao; bố trí làm công việc khác; chưa xem xét đề nghị bổ
nhiệm lại Thẩm phán; không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán…. Tuy
nhiên, quyết định trên có thể là một rào cản đối với việc thực hiện công cuộc cải
cách tư pháp trong hệ thống Tòa án, ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập của Thẩm
phán. Do đó, cần thiết phải nghiên cứu, xem xét để sửa đổi, bổ sung quy định của quyết
định số 120/QĐ-TANDTC theo hướng chỉ xử lý bằng hình thức rút kinh nghiệm;
không xét thi đua; buộc học tập bổ sung kiến thức, đạo đức nghề Thẩm phán….Đối với
các vi phạm khác thuộc sự điều chỉnh của Luật cán bộ công chức; luật trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước và Bộ luật hình sự.
4.2.5. Tòa án trực tuyến với thủ tục xét xử, giải quyết trực tuyến
Đổi mới thủ tục hành chính, thủ tục giải quyết các vụ án cho phù hợp với
xu thế của công nghệ, của thế giới là đòi hỏi và yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn
17
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong giải quyết các loại
vụ án, trong đó có các vụ án dân sự sơ thẩm. Định kỳ thực hiện việc kiểm tra
trình độ, chuyên môn và năng lực của Thẩm phán. Đối với những Thẩm phán
có vi phạm cần nghiêm túc việc xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Thẩm
phán giải quyết án dân sự nhiều sai sót, bị hủy án, sửa án nhiều, việc giải quyết
các vụ án dân sự, gây bức xúc trong dư luận hoặc trong thời gian ngắn không
18
hoàn thành nhiệm vụ thì cần thiết phải tạm dừng hoặc không cho làm nhiệm vụ
xét xử.
Th hai, thường xuyên tập huấn có cơ chế bổ sung kiến thức, trình độ
nghiệp vụ cho các Thẩm phán. Hệ thống Tòa án cần thường xuyên thực hiện
công tác đào tạo, đào tạo lại, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ
chính trị cho Thẩm phán, trong đó chú trọng việc tập huấn các văn bản pháp
luật mới, kỹ năng xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền mới, rút kinh nghiệm về
công tác xét xử phúc thẩm cho đội ng Thẩm phán và tập huấn các kiến thức
liên quan tới công tác xét xử các vụ án dân sự và đặc biệt chú ý tới một số loại
án dân sự phức tạp. Để có được phán quyết chính xác, khách quan, công bằng,
đòi hỏi Thẩm phán không chỉ nắm vững pháp luật mà còn phải trang bị cho
mình những hiểu biết nhất định về nhiều chuyên ngành khác Như y tế, tài
chính – ngân hàng, kế toán, môi trường, đất đai, xây dựng…
Th ba, thực hiện và triển khai có hiệu quả đề án việc làm, xác định
Thẩm phán là công chức đặc biệt so với các công chức, viên chức khác trong
cơ quan Nhà nước, từ đó có chính sách tăng lương và chế độ đãi ngộ, bảo vệ để
Thẩm phán yên tâm công tác và độc lập. Đồng thời tiếp tục triển khai cơ chế
tuyển dụng, bổ nhiệm qua thi tuyển cạnh tranh, công khai, minh bạch đối với
chức danh Thẩm phán.
Xây dựng chiến lược phát triển đội ng Thẩm phán trong hệ thống Tòa
gắn với sự độc lập trong xét xử.
Ở nước ta, một số Tòa án vẫn còn tình trạng thỉnh thị án, báo cáo án
trước khi xét xử. Đây là một thực trạng đã và đang diễn ra trong hệ thống Tòa
án nhân dân. Chúng ta không phủ nhận mặt tích cực của việc thỉnh thị án, báo
cáo án của Thẩm phán trực tiếp giải quyết, xét xử vụ án dân sự đối với lãnh đạo
Tòa án của đơn vị và lãnh đạo Tòa án cấp trên trực tiếp, đó là sự thống nhất áp
dụng pháp luật; thống nhất định hướng giải quyết vụ án mang tính ổn định giữa
các vụ án khác nhau, của nhiều Thẩm phán; tranh thủ được trí tuệ của nhiều
người, đặc biệt là những Thẩm phán có nhiều kinh nghiệm. Người đứng đầu cơ
quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm chính về quản lý đối với các mặt công tác,
đặc biệt là chất lượng xét xử, không được lạm dụng việc tổ chức công tác xét
xử, trao đổi ý kiến về chuyên môn nghiệp vụ để hình thành chế độ duyệt án, áp
đặt quan điểm cá nhân trái với nguyên tắc độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp
luật trong việc giải quyết các loại vụ án. Do đó, để Thẩm phán, HĐXX có thể
độc lập xét xử, độc lập trong nhận thức và phán quyết là một đòi hỏi cấp bách
cần phải được tôn trọng thực hiện.
4.3.5. Hoàn thiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các chủ
thể khác tác động đến địa vị pháp lý của Thẩm phán
Th nhất, nhiệm vụ, quyền hạn Thẩm phán dự khuyết: BLTTDS lần đầu
tiên quy định việc phân công Thẩm phán dự khuyết cùng với Thẩm phán giải
20
quyết vụ án tại Điều 197. Tuy nhiên, pháp luật không quy định cụ thể nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán dự khuyết trong hoạt động chuẩn
bị xét xử; không quy định Thẩm phán dự khuyết có quyền hạn hoặc ý kiến, đề
xuất đối với hoạt động thu thập tài liệu chứng cứ của Thẩm phán giải quyết vụ
án. Thực tiễn có trường hợp, khi vụ án đưa ra xét xử, Thẩm phán giải quyết vụ
án không thể tiến hành nhiệm vụ thì Thẩm phán dự khuyết thay, nhưng Thẩm
sau khi đọc hồ sơ vụ án do Tòa án chuyển sang. Theo chúng tôi, bổ sung quy
định này là cần thiết để Thẩm phán xem xét và sửa chữa những thiếu sót (nếu
có) trước khi phiên tòa diễn ra, tránh trường hợp tại phiên tòa, Kiểm sát viên
kiến nghị những sai sót trong quá trình chuẩn bị xét xử, sau đó HĐXX phải
hoãn phiên tòa để làm lại, mất thời gian và chi phí tố tụng. Đồng thời, pháp luật
tố tụng dân sự cần quy định cho Thẩm phán được thực hiện các biện pháp thu
thập chứng cứ sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử (chỉ đối với trường
hợp do Kiểm sát viên kiến nghị) và tại phiên tòa.
Th
, đ i vớ
ời bảo vệ quyền và l i ích của đ ơ sự: Sự tham gia
của người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự có ý nghĩa quan trọng trong
việc lập hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa góp phần quan trọng
thực hiện cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị. Đa số người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự là luật sư - hiểu pháp luật nên việc giải quyết vụ án sẽ kịp thời và
chính xác.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng khi
có yêu cầu của đương sự và được Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự (Điều 75 B TTDS). Tòa án không có nghĩa vụ
phải nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ. Tuy nhiên, trong điều
kiện các vụ án dân sự ngày càng tăng, đối tượng tranh chấp phức tạp, đương sự
chưa chủ động thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, chất lượng
xét xử của Thẩm phán chưa cao... thì cần thiết quy định sự tham gia của người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bắt buộc trong một số loại vụ án như
tranh chấp quyền sử dụng đất, sở hữu nhà, tranh chấp về kinh doanh thương mại,
những vụ án có tỷ lệ hủy, sửa hàng năm cao… Thực tế các vụ án có sự tham gia
của người bảo vệ quyền và lợi ích giúp cho việc thu thập chứng cứ của Thẩm phán
đầy đủ hơn, hạn chế vi phạm tố tụng của Thẩm phán, các đương sự ít gây “khó
1. Luận án đã đưa ra được khái niệm về địa vị pháp lý của Thẩm phán
trong giải quyết vụ án dân sự sơ ẩm là tổng thể á
ĩa vụ, quyền hạn và
trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán trong m i quan hệ với các chủ thể khác khi
tiến hành các thủ tục t tụng, áp dụng các q y định pháp luật nội dung nhằm giải
quyết vụ án dân sự theo thủ tụ sơ ẩm í xá , đú p áp l ậ , đồng thời xác
định hậu quả pháp lý khi Thẩm phán không thực hiệ đú
á q y đị đó, qua
đó, góp phần nhận diện chính xác và đầy đủ về địa vị pháp lý của Thẩm phán
trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm. Đồng thời, luận án c ng phân tích những
căn cứ pháp lý để xác định các thành tố cơ bản của địa vị pháp lý của Thẩm
phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay gồm: Nhiệm
vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; trách
nhiệm của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm. Từ đó, luận án đề
23