ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI VĂN TUÂN
KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT
TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ QUA THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI VĂN TUÂN
KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT
TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ QUA THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS Trần Phương Thảo – Giảng viên khoa Pháp luật
Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Những thông tin, số liệu và trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và chính xác.
Tác giả luận văn
Bùi Văn Tuân
4
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN
THEO PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ. ......................... 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải
quyết vụ án dân sự ....................................................................................................... 7
1.1.1 Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự: .... 7
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ
án dân sự.................................................................................................................... 14
1.1.3. Ý nghĩa của hoạt động kiểm sát. ..................................................................... 19
1.2. Cơ sở của việc xây dựng quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật của
VKSND trong giải quyết vụ án dân sự. .................................................................... 20
1.2.1. Cơ sở lý luận. .................................................................................................. 20
1.2.2. Cơ sở thực tiễn. ............................................................................................... 21
1.3. Sơ lược quá trình hình thành, phát triển các quy định của pháp luật về kiểm sát
3.2.1. Một số tồn tại, vướng mắc trong hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật
đối với vụ án dân sự: ................................................................................................. 76
3.2.2. Nguyên nhân dẫn đến tồn tại, vướng mắc trên. .............................................. 81
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự, quyền hạn kiểm sát trong tố tụng dân
sự. .............................................................................................................................. 82
3.3.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
trong giải quyết các vụ án dân sự. ............................................................................. 82
3.3.2. Kiến nghị thực hiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
trong giải quyết các vụ án dân sự. ............................................................................. 86
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 97
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. BLTTDS
: Bộ luật Tố tụng dân sự
2. LTCVKSND
: Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
3. TAND
: Tòa án nhân dân
4. TANDTC
Trang
Bảng 3.1. Thống kê số lượng vụ án dân sự VKSND huyện
60
Thủy Nguyên thụ lý năm 2012, 2013, 2014 và 6 tháng đầu
năm 2015.
Bảng 3.2. Thống kê kết quả công tác kiểm sát thụ lý của
60
VKSND huyện Thủy Nguyên trong các năm 2012, 2013,
2014, 06 tháng đầu năm 2015
Bảng 3.3. Thống kê số lượng bản án, quyết định giải
62
quyết vụ án dân sự của Tòa án nhân dân huyện Thủy
Nguyên ban hành trong thời gian năm 2012, 2103, 2014
và 06 tháng đầu năm 2015.
Bảng 3.4. Thống kê số lượng bản án, quyết định VKS đã
63
kiểm sát trong năm 2012, 2013, 2014 và 06 tháng đầu
năm 2015.
Bảng 3.5. Thống kê số lượng vụ án do Viện kiểm sát nhân
dân huyện Thủy Nguyên kháng nghị phúc thẩm trong năm
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 cho thấy, mặc dù về cơ bản, các quy
định của Bộ luật đã đi sâu vào đời sống xã hội nước ta, nhưng các quy định về
1
việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND trong tố tụng dân sự vẫn
còn nhiều hạn chế, bất cập. Mặc dù pháp luật vẫn quy định VKSND có đầy đủ
các quyền kiến nghị, kháng nghị nhưng thiếu cơ chế, phương thức, cơ sở pháp
lý để thực hiện quyền của mình. Sau 5 năm thực hiện BLTTDS năm 2004
thấy rằng, chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự của
VKSND vẫn còn nhiều hạn chế. Việc phát hiện vi phạm để kiến nghị, kháng
nghị còn ít, chất lượng chưa đảm bảo, trong khi đó vi phạm trong việc giải
quyết án dân sự vẫn chiếm tỷ lệ cao, tình trạng khiếu kiện của người dân về
việc giải quyết án dân sự ngày càng có chiều hướng gia tăng và diễn biến
phức tạp. Án dân sự ở cấp sơ thẩm bị cấp phúc thẩm cải sửa, huỷ án còn
nhiều, dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể và công dân
không được đảm bảo. Nguyên nhân nêu trên là do hệ thống pháp luật về dân
sự và tố tụng dân sự hiện hành còn chưa đầy đủ, đồng bộ và hoàn thiện, chất
lượng giải quyết án dân sự của Tòa án còn hạn chế, nhưng một phần quan
trọng cũng là do các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò cũng như chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự vẫn còn nhiều
bất cập. Mặt khác, nền kinh tế thị trường vốn dĩ luôn vận động và không
ngừng phát triển, sự tham gia vào quá trình liên kết, hợp tác khu vực và quốc
tế như: tham gia vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN), diễn đàn
hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại thế
giới (WTO), việc ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ… đã đặt
ra những yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam. Đó là yêu cầu sửa đổi, bổ sung,
bãi bỏ và ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật trong nước, để bảo
đảm phù hợp với các cam kết quốc tế. Đứng trước những thử thách và yêu cầu
mới của thế kỷ XXI, vị trí, vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự vẫn cần
năng, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án dân sự của
VKSND, một số mặt tích cực, hạn chê, từ đó nhận biết lên phát huy mặt nào,
khắc phục ở những điểm nào. Đồng thời qua quá trình nghiên cứu, cá nhân tôi
3
sẽ có điều kiện nâng cao trình độ, năng lực nghiệp vụ và kinh nghiệm công
tác của bản thân.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn: phân tích cơ sở lý luận về vấn đề
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự và thực tiễn
thực hiện tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hải
Phòng. Trên cơ sở đó nêu ra những quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện
hơn về vai trò của VKSND khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải
quyết vụ án dân sự.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nêu ra những lí luận về vai trò của VKSND kiểm sát việc tuân theo
pháp luật ở Việt Nam trong giải quyết vụ án dân sự hiện nay. Vai trò của
VKSND trong giải quyết vụ án dân sự được quy định trong pháp luật.
- Làm rõ thực trạng tổ chức và hoạt động của VKSND trong trong tố
tụng dân sự qua thực tiễn kiểm sát giải quyết vụ án dân sự của VKSND huyện
Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò
của VKS trong kiểm sát vụ án dân trong thời gian tới, bảo đảm cho việc giải
quyết các vụ án dân sự của Tòa án có căn cứ, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, xã hội và công dân.
3. Tính mới và những đóng góp của đề tài:
- Đề tài đưa ra các cơ sở lí luận về vai trò của VKSND khi tham gia
Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (số liệu lấy từ năm 2012 đến nay).
5. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu:
5.1. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu về kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND trong giải
quyết vụ án dân sự được quy định trong bộ luật tố tụng 2004 (Sửa đổi bổ sung
2011), thực tiễn thực hiện của VKSND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải
5
Phòng. Từ đó đưa ra các nhận định, đánh giá và các giải pháp giúp hoàn thiện
hơn các quy định trong pháp luật sao cho phù hợp.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin; các khoa học chuyên ngành
khác đặc biệt là khoa học về Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, chú trọng
đến phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, kết hợp lý luận và
thực tiễn.
5.3. Địa điểm nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi huyện Thủy Nguyên, Thành phố hải
Phòng.
6. Bố cục luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khái, luận văn
được kết cấu thành ba chương bao gồm:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong giải quyết vụ án dân sự.
Chương 2. Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành
về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự của Viện
kiểm sát nhân dân.
Chương 3. Thực tiễn thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải
quyết vụ án dân sự qua nghiên cứu tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy
cá nhân, cơ quan, tổ chức như sau: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự
mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đâu gọi
7
chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền và lợi ích hợp pháp của
mình”.
Để đảm bảo hơn nữa quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp,
BLTTDS còn quy định một số cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện trong một
số lĩnh vực nhất định để bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể. Điều này đã
được cụ thể hóa trong Điều 162 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011. Theo
quy định tại điều này thì cơ quan dân số, gia đình và trẻ em, hội liên hiệp phụ
nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện về vụ án
hôn nhân và gia đình trong trường hợp do luật Hôn nhân và gia đình quy định.
Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động
trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao
động do pháp luật quy định. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ quyền
hạn được nhà nước phân công có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu
Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình
phụ trách.
Như vậy, khi có yêu cầu khởi kiện của chủ thể có quyền khởi kiện, tòa
án với tư cách là một cơ quan nhà nước, được nhà nước phân công nhiệm vụ
giải quyết các yêu cầu trong các vụ việc dân sự sẽ có trách nhiệm xem xét,
giải quyết. Sau khi nhận đơn, nếu nhận thấy đơn đó thuộc thẩm quyền giải
quyết của tòa án mình thì tòa án thụ lý giải quyết và khi đó sẽ phát sinh vụ án
dân sự tại tòa án nhân dân. Việc phát sinh các vụ án dân sự tại tòa án nhân
dân là một hiện tượng tất yếu bởi cho dù quyền, nghĩa vụ của các chủ thể đã
được quy định trong luật nội dung nhưng do mỗi chủ thể có trình độ, có ý
thức pháp luật khác nhau nên khi thực hiện quyền, nghĩa vụ vẫn xảy ra hiện
Với tư cách là một cơ quan trong bộ máy nhà nước, Tòa án được nhà nước
giao thẩm quyền đặc biệt là thẩm quyền xét xử, được sử dụng quyền lực nhà
nước để giải quyết các vụ việc dân sự dân sự. Do có thẩm quyền đặc biệt,
9
được quyền sử dụng quyền lực nhà nước nên khả năng tòa án có thể lạm dụng
việc sử dụng quyền lực nhà nước rất có thể sẽ xảy ra. Mặt khác, do các tranh
chấp dân sự ngày càng đa dạng, phức tạp nên khả năng việc giải quyết vụ án
dân sự có thể sai lầm nên trong luật tố tụng dân sự của bất cứ một quốc gia
nào cũng cần thiết lập một cơ chế kiểm tra, giám sát hợp lý đối với hoạt động
giải quyết các vụ việc dân sự của tòa án nhân dân. BLTTDS của Việt Nam
cũng không là một ngoại lệ. Nhận thức được sự cần thiết của cơ chế kiểm tra,
giám sát, BLTTDS hiện hành cũng đã có nhiều quy định về kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự tại tòa án nhân dân.
Theo giải thích trong Đại từ điển Tiếng Việt: “Kiểm sát là việc kiểm tra
và giám sát, là công tác điều tra tố tụng các vụ án theo pháp luật”[46]. Tại từ
điển Tiếng Việt cũng có cách giải thích tương tự: “Kiểm sát là kiểm tra và
giám sát việc chấp hành pháp luật của nhà nước”[47]. Kiểm sát còn được hiểu
“là kiểm tra, giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của cơ quan tiến
hành tố tụng và giải quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân
nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chính và thống
nhất.”[48] Như vậy, hiểu theo cách chung nhất kiểm sát là một hoạt động
thiết yếu của Nhà nước, là chức năng tất yếu của một cơ quan được nhà nước
phân công kiểm sát hoạt động giải quyết các vụ án dân sự do tòa án tiến hành.
Cơ quan được nhà nước phân công này chính là Viện kiểm sát nhân dân.
Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng cơ bản đó là chức năng thực
hành quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ
quan, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công
VKSND ra đời có vai trò, vị trí quan trọng trong hệ thống bộ máy Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. VKSND là một hệ thống cơ quan có vị trí
độc lập trong bộ máy nhà nước, được tổ chức thành một hệ thống từ trung ương
11
đến địa phương (cấp tỉnh và cấp huyện), có chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát hoạt động tư pháp, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm
chỉnh và thống nhất.
Trước yêu cầu thể chế hóa các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và
cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, góp phần hoàn thiện hệ
thống lý luận, cơ sở pháp lý cho hoạt động của VKSND, tháo gỡ nhiều khó
khăn, vướng mắc của thực tiễn, ngày 24 tháng 11 năm 2014, tại Kỳ họp lần
thứ 8 - Quốc hội khóa XIII, đã thông qua Luật tổ chức VKSND sửa đổi năm
2014 và Nghị quyết thi hành Luật tổ chức VKSND sửa đổi 2014 có hiệu lực
vào ngày 01/06/2015, đây là bước phát triển quan trọng trong quá trình xây
dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ quan tư pháp của Nhà nước Xã hội chủ
nghĩa ở nước ta. Khoản 1 Điều 2 - Luật Tổ chức VKSND đã ghi nhận chức
năng của Viện kiểm sát: "Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền
công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam". Theo quy định của Hiến pháp Việt Nam, VKSND là một hệ thống cơ
quan nhà nước độc lập trong cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan Nhà
nước. Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm
2002), Hiến pháp năm 2013 tuy có sửa đổi một số quy định về tổ chức và hoạt
động của Viện kiểm sát, nhưng chức năng công tố vẫn giao cho VKS đảm
nhiệm. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể VKSND “thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Tại Khoản 1 Điều 107
Hiến pháp năm 2013 đã chỉ rõ : "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền
công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp". Khoản 3 Điều 107 quy định: "Viện
kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người,
dân sự hợp pháp của đương sự hoặc của nhà nước. Hoạt động kiểm sát này
cũng được thực hiện dựa trên việc sử dụng quyền lực nhà nước để nhằm làm
14
cho hoạt động giải quyết vụ án của tòa án được đúng pháp luật. Để giám sát,
VKSND theo sát từng bước của quá trình giải quyết vụ án từ khi bắt đầu là
thủ tục nhận đơn thụ lý vụ án đến khi tuyên bố xong bản án, quyết định nhằm
kịp thời phát hiện ra sai lầm, vi phạm pháp luật.
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự là một
hoạt động tố tụng dân sự và hoạt động này được quy định trong pháp luật tố
tụng dân sự. Việc quy định hoạt động này trong pháp luật tố tụng dân sự
nhằm tạo cơ sở pháp lý hợp pháp cho việc thực hiện các hoạt động kiểm sát
trong thực tiễn tố tụng dân sự. Không chỉ đến khi Việt Nam có BLTTDS mới
quy định về hoạt động kiểm sát này mà ngay từ khi chúng ta xây dựng những
văn bản pháp luật tố tụng dân sự đầu tiên chúng ta đã có những quy định ban
đầu về hoạt động kiểm sát của VKSND trong tố tụng dân sự. Để thực hiện
được hoạt động kiểm sát, pháp luật tố tụng dân sự đã ghi nhận quyền tham gia
phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của VKS, VKSND tham gia
phiên tòa đối với những vụ án dân sự do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương
sự có khiếu nại; tham gia các phiên họp giải quyết các việc dân sự thuộc thẩm
quyền của Tòa án; tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết các vụ việc dân sự
mà VKSND kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án, đồng thời tham gia
các phiên toà giám đốc thẩm và tái thẩm do Toà án kháng nghị theo thẩm
quyền.
Để tạo điều kiện cho VKSND thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ
quyền hạn của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật tồ chức VKSND,
trên cơ sở điều kiện thực tế về biên chế và đội ngũ kiểm sát viên của ngành
Kiểm sát và căn cứ vào tính chất, đối tượng của các vụ việc dân sự, Điều 21
BLTTDS hiện hành còn được sửa đổi theo hướng quy định: VKSND tham gia
16
Trong tố tụng dân sự, VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự thực
hiện chức năng giám sát hoạt động của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ
án dân sự. Sở dĩ là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự vì VKSND là cơ quan
nhà nước không thể thiếu, được bố trí nằm trong bộ máy nhà nước, chủ động
sử dụng quyền lực nhà nước để giải quyết các vụ kiện tụng về dân sự. Mặc dù
không được nhà nước trao quyền đặc biệt là quyền xét xử như tòa án nhưng
VKSND lại được nhà nước giao quyền kiểm sát hoạt động xét xử của tòa án.
Chức năng giám sát này được ghi nhận tại Điều 107 Hiến pháp 2013, Điều 2
và Điều 27 Luật tổ chức VKSND 2014 và được cụ thể hóa tại Điều 21
BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011.
Khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động giải quyết vụ án dân sự của Tòa án, VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn
kiểm sát thông báo, quyết định và các văn bản có liên quan đến việc giải
quyết vụ việc dân sự của Tòa án; Kiểm sát việc chuyển giao các loại văn bản
trên của Tòa án có đúng quy định của BLTTDS hay không…Tất cả những
hoạt động kiểm sát này được VKSND thực hiện bằng quyền lực nhà nước.
Thứ ba, nội dung của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc giải quyết các vụ án dân sự tại tòa án nhân dân là kiểm sát quy
trình các các hoạt động giải quyết vụ án dân sự
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ án dân sự là
thẩm quyền đặc biệt của Viện kiểm sát, được thực hiện bằng các biện pháp và
hình thức nhất định nhằm kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong
quá trình giải quyết vụ án dân sự. Các biện pháp, các hình thức kiểm sát này
tạo nên nội dung của hoạt động kiểm sát. Thực hiện song song với quy trình
tố tụng dân sự tại tòa, hoạt động kiểm sát bao gồm các nội dung cụ thể sau
đây: