VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------
VŨ THANH TUẤN
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2019
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------
VŨ THANH TUẤN
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 9 38 01 07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Vũ Thanh Tuấn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1....................................................................................................... 7
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT .............. 7
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............................................................. 7
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước ....................................... 7
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu .... 14
1.3. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu ........................................... 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................ 28
CHƯƠNG 2..................................................................................................... 29
LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN ................................ 29
TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM .................................. 29
2.1. Khái niệm và những thành tố cơ bản của địa vị pháp lý Thẩm phán trong
giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ...................................................................... 29
2.1.1. Khái niệm và đặc điểm thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự .......................... 29
2.2. Các yếu tố thể hiện địa vị pháp lý Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân
sự sơ thẩm........................................................................................................ 43
2.3. Mối liên hệ giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán với các chủ thể khác khi
giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm .................................................. 51
2.4. Sơ lược hình thành, phát triển địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải
quyết vụ án dân sự sơ thẩm ............................................................................. 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2................................................................................ 68
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN
TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ SƠ THẨM .................................. 69
: Biện pháp khẩn cấp tạm thời
HTND
: Hội thẩm nhân dân
HĐXX
: Hội đồng xét xử
LSĐBS
: Luật sửa đổi bổ sung
TANDTC
: Tòa án án nhân dân tối cao
TAND
: Tòa án nhân dân
TTDS
: Tố tụng dân sự
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tiễn cho thấy vẫn còn không ít khó
khăn, bất cập trong quá trình thực hiện chức năng xét xử của Tòa án. Điều đó xuất
phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, làm cho hoạt động xét xử của Tòa án chưa
thực sự hiệu quả, chưa bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người dân,
doanh nghiệp và chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế. Đảng Cộng sản Việt
Nam thấy được nhu cầu cải cách, hoàn thiện các cơ quan tư pháp và đã đặt ra nhiệm
vụ “cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp” từ Đại hội VIII, IX của
1
Đảng. Cụ thể hóa nhiệm vụ trên, cải cách tư pháp, trong đó trọng tâm là cải cách tổ
chức và hoạt động của hệ thống Tòa án đã được nhiều văn kiện của Đảng ghi nhận.
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị
(khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Kết luận số 79-KL/TW
ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về “Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa
án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra” thể hiện rõ tinh thần ấy. Thể chế hóa chủ
trương này, nhiều đạo luật và các văn bản hướng dẫn đã được ban hành, tạo hành
lang pháp lý quan trọng cho TAND thực hiện chức năng xét xử.
Hoạt động của hệ thống Tòa án được thể hiện chủ yếu thông qua hoạt động
xét xử của Thẩm phán. Khi giải quyết vụ án, Thẩm phán tham gia vào tất cả các giai
đoạn tố tụng, kể cả khi xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (giám đốc
thẩm, tái thẩm), trong đó xét xử theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự (gọi tắt là vụ án
dân sự sơ thẩm) theo BLTTDS có vai trò và ý nghĩa quan trọng. Khi giải quyết các
vụ án dân sự theo thủ tục thông thường, ngoài Thẩm phán, còn có sự tham gia của
các HTND, nhưng vai trò của Thẩm phán vẫn có ý nghĩa quyết định hàng đầu đối
với chất lượng giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm. Thẩm phán phải trực tiếp lập hồ sơ
vụ án; áp dụng các biện pháp thu thập, tài liệu chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra
vọng của người dân, doanh nghiệp là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn và cách đặt vấn đề như vậy, tác giả lựa chọn đề tài
“Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt
Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ, chuyên ngành Luật kinh tế, mã số
9.38.01.07.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu một cách có hệ thống các khía cạnh lý
luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ
thẩm theo nghĩa rộng (gồm các vụ án kinh doanh, thương mại; hôn nhân gia đình;
lao động và dân sự ; đề xuất hoàn thiện địa vị pháp lý của Thẩm phán phù hợp với
yêu cầu mới của thực tiễn cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát
triển kinh tế thị trường và hội nhập.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nêu trên, luận án có những nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận cơ bản về địa vị pháp lý của Thẩm phán
trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm: Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán
trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; vị trí, vai trò, cơ sở quy định địa vị pháp lý
của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; mối liên hệ giữa Thẩm phán
3
với các chủ thể khác trong TTDS;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của
Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; tìm hiểu, so sánh với địa vị pháp
lý của Thẩm phán ở một số quốc gia khác khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm;
- Làm sáng tỏ thực trạng quy định pháp luật, thực hiện pháp luật và các biện
pháp bảo đảm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm;
- Đề xuất, luận chứng yêu cầu, giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm
phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm; hoàn thiện quy định pháp luật về trình
Luận án cũng tìm hiểu các quan niệm, quy định pháp luật của một số nước
về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp tổng
hợp, phương pháp phân tích, phương pháp phân tích lịch sử, phương pháp so sánh
và thống kê.
5. Những điểm mới của luận án
- Về cách tiếp cận: Luận án không chỉ tiếp cận vấn đề địa vị pháp lý của
Thẩm phán ở Việt Nam hiện nay nói chung, mà tập trung nghiên cứu địa vị pháp lý
của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm. Địa vị pháp lý của Thẩm
phán được nghiên cứu một cách toàn diện ở các khía cạnh: Nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo quy định của
Hiến pháp, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước...; các văn bản dưới luật; các án lệ của Hội đồng Thẩm
phán TAND tối cao; các bản án, quyết định dân sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật...
- Luận án đưa ra khái niệm, những thành tố cơ bản và làm rõ đặc điểm của
địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở Việt Nam
hiện nay.
- Luận án đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực trạng thực hiện
pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm ở
Việt Nam hiện nay, chỉ rõ những hạn chế, bất cập của pháp luật về nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm của Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm cũng như
những hạn chế, thiếu sót trong quá trình áp dụng pháp luật về địa vị pháp lý của
Thẩm phán khi giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu chung về Thẩm phán
1.1.1.1. Ở trong nước
- Luận án tiến sĩ luật của tác giả Lê Hải Ninh với đề tài “Các yếu tố bảo đảm
độc lập xét xử ở Việt Nam hiện nay” thực hiện năm 2016 tại Học viện khoa học xã
hội. Trong luận án, tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về độc lập xét xử; đã
đưa ra được nội hàm và tiêu chuẩn chung của từng yếu tố bảo đảm độc lập xét xử. Từ
đó luận án đã đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện các yếu tố bảo đảm độc lập xét
xử. Trên cơ sở lý luận, các tiêu chuẩn đưa ra và thực trạng độc lập xét xử, tác giả đã
đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm độc lập xét xử ở Việt Nam [33].
- Luận văn “Sự độc lập của Thẩm phán - Yếu tố bảo đảm liêm chính trong
hoạt động tư pháp ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu, chuyên ngành Lý luận
và lịch sử Nhà nước và pháp luật tại Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội năm
2015. Luận văn đã khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về liêm chính tư pháp và ý
nghĩa của việc đảm bảo liêm chính tư pháp, trong đó tác giả đã xác định vị trí, vai trò
của Thẩm phán trong hoạt động của Tòa án “Dù nhìn nhận hoạt động tư pháp ở góc
độ nào thì hoạt động xét xử của Tòa án vẫn là quan trọng nhất trong đó chủ thể thực
hiện hoạt động xét xử là Thẩm phán. Thẩm phán nhân danh quyền lực Nhà nước,
nhân danh công lý để đưa ra phán quyết nhằm bảo vệ trật tự, kỷ cương, công bằng và
an toàn xã hội”. Luận văn đã phân tích mối liên hệ giữa độc lập của Thẩm phán và
liêm chính tư pháp, đặc biệt trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay;
thực trạng độc lập của Thẩm phán đáp ứng yêu cầu bảo đảm liêm chính tư pháp trong
hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay; quan điểm và giải pháp đảm bảo sự độc lập
của Thẩm phán vì liêm chính tư pháp trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam…
- Đề tài khoa học cấp bộ (2014 về “Cơ sở pháp lý đảm bảo sự độc lập xét
Lào và Campuchia về sự độc lập và trách nhiệm của Thẩm phán. Tham luận của ông
Jean-Marie COULON (Chánh án danh dự Tòa Phúc thẩm Paris về tăng cường trách
nhiệm của Thẩm phán và đảm bảo sự độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử
đã chỉ ra một sự cân bằng bề ngoài giữa trách nhiệm của Thẩm phán và quyền tự do
xét xử. Ông Jean-Marie COULON cũng xác định sự cần thiết thiết lập một sự cân
bằng giữa trách nhiệm và sự tự do của Thẩm phán. Tham luận của ông Alain
LACABARATS (Thẩm phán – Tòa tư pháp tối cao về “Quan niệm của các nước
Châu Âu về độc lập của Thẩm phán” đã chia sẻ kinh nghiệm xây dựng quy chế để
đảm bảo sự độc lập cho Thẩm phán. Ngoài ra, các tham luận tại tọa đàm còn đưa ra
8
các nội dung về việc áp dụng nguyên tắc độc lập và vô tư của Thẩm phán trong thực
tiễn; một số hạn chế trong việc áp dụng nguyên tắc độc lập và vô tư của Thẩm phán;
trách nhiệm của Thẩm phán và trách nhiệm của Nhà nước...
- Luận văn“Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của Thẩm phán”
của tác giả Đặng Thanh Nga, chuyên ngành Tâm lý học tại Trường Đại học khoa
học xã hội và nhân văn năm 2003. Trong nội dung luận văn, tác giả đã làm rõ các
vấn đề lý luận về phẩm chất nhân cách của Thẩm phán, đưa ra được các khái niệm
về vị trí, quyền hạn và nghĩa vụ của Thẩm phán. Tác giả đã đưa ra các nhóm phẩm
chất để đánh giá nhân cách của Thẩm phán, trong đó có nhóm phẩm chất chính trị tư tưởng, đạo đức, chuyên môn, ý chí, năng lực tổ chức hoạt động xét xử; nhóm
phẩm chất liên quan đến việc thiết lập quan hệ với những người tiến hành tố tụng và
những người tham gia tố tụng [31].
- Luận văn“Hoàn thiện chế độ bổ nhiệm Thẩm phán ở Việt Nam” của tác giả
Đỗ Gia Thư, chuyên ngành Pháp luật nhà nước – hành chính tại Viện nghiên cứu Nhà
nước và Pháp luật năm 1999. Luận văn đã khái quát được vị trí, vai trò của Thẩm
phán trong hoạt động của Tòa án, “Thẩm phán là người được Nhà nước giao quyền
xét xử, nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bản án. Thẩm
phán là người chịu trách nhiệm trước Đảng, trước Nhà nước, trước nhân dân về
của Thẩm phán; nhiệm kỳ và phương thức tuyển dụng Thẩm phán; các biện pháp kỷ
luật Thẩm phán; vấn đề “duyệt án”; thu nhập của Thẩm phán; vai trò lãnh đạo của
Đảng và tính độc lập của Tòa án...
- Cuốn sách “Freedom of expression and the criticism of Judges”(2000) (Tạm
dịch: Tự do ngôn luận và những chỉ trích của các Thẩm phán) của tác giả MICHAEL
K.ADDO, Giảng viên trường Đại học Exeter – Vương quốc Anh. Đây là nghiên cứu
so sánh các tiêu chuẩn pháp lý châu Âu. Nội dung cuốn sách đề cập sự hoạt động tư
pháp một số nước châu Âu, bao gồm: Sự độc lập của tư pháp có thể chống lại sự chỉ
trích không; sự chỉ trích đối với Tòa án Anh và xứ Wale – hệ thống luật Common
Law; hoạt động Thẩm phán tại các nước Đức, Úc, Bỉ, Pháp, Đan Mạch; ảnh hưởng
của văn hóa và lịch sử đến hoạt động tư pháp ở Hà Lan, Ý và Hy Lạp; hệ thống pháp
lý trong thời kỳ quá độ; ảnh hưởng của Công ước châu Âu về quyền con người [30].
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về địa vị pháp lý của Thẩm phán
trong giải quyết vụ án dân sự
1.1.2.1. Ở trong nước
- Luận văn “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự ở Việt Nam ” của tác giả Nguyễn Bích Thảo chuyên ngành Luật dân sự
và tố tụng dân sự tại khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội năm 2008. Phần thứ nhất
của Luận văn, tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm
10
phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, trong đó tác giả đã đưa ra khái
niệm về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong khoa học TTDS là“tổng thể các quyền
và nghĩa vụ tố tụng của Thẩm phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự do
pháp luật quy định, thể hiện vị trí của Thẩm phán trong mối quan hệ với các chủ thể
khác của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự”; các yếu tố quy định và chi phối việc
xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự;
mối quan hệ giữa Thẩm phán với các chủ thể khác khi giải quyết vụ án dân sự sơ
tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm. Trong phần kiến nghị, tác giả luận
văn đã đưa ra một số kiến nghị về hoàn thiện pháp luật TTDS; kiến nghị về hướng
dẫn áp dụng pháp luật về thủ tục xét xử các vụ án dân sự về người tiến hành tố tụng,
nội quy phiên tòa, quy chuẩn phòng xử án, vị trí ngồi của người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng... Đối với kiến nghị nâng cao năng lực Thẩm phán, Luận văn
xác định “trình độ của Thẩm phán có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động xét xử nói
chung, hoạt động cải cách tư pháp nói riêng. Trình độ Thẩm phán được hiểu theo
nghĩa rộng, bao gồm cả trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ chính trị, tinh
thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiêp” [62]. Vấn đề nâng cao vị thế của
Thẩm phán, tác giả đã đưa ra một loạt các giải pháp bao gồm việc tuyển chọn Thẩm
phán, việc bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ và giám sát hoạt động của Thẩm phán. Bên
cạnh “chuẩn hóa” đội ngũ Thẩm phán, luận văn cũng kiến nghị “chuẩn hóa” đội
ngũ HTND, Luật sư, Thư ký tòa án....
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại học Luật Hà Nội về “Hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự theo định hướng cải cách tư
pháp“ (năm 2010 do TS. Trần Anh Tuấn làm chủ nhiệm. Đề tài đã phân tích thực
trạng pháp luật TTDS Việt Nam về thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, từ đó đưa ra
các giải pháp hoàn thiện pháp luật theo yêu cầu cải cách tư pháp, bao gồm:
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật TTDS trong mối liên hệ với truyền thống lập
pháp, đặc điểm văn hóa, tâm lý dân tộc với thành tựu khoa học tố tụng trên thế giới;
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu về bảo đảm quyền tiếp
cận công lý;
Thứ ba, đáp ứng yêu cầu về đảm bảo quyền tranh tụng;
Thứ tư, pháp luật TTDS phải thể hiện được tính mềm dẻo, linh hoạt và hiệu
quả theo định hướng cải cách tư pháp...
Trên cơ sở tham khảo các mô hình tố tụng một số quốc gia trên thế giới, đề
tài đã đưa ra một số kiến nghị về thực hiện quyền, nghĩa vụ của Thẩm phán khi giải
quyết vụ án dân sự sơ thẩm như cần xây dựng thủ tục rút gọn; xây dựng quy định để
chuyển hóa từ việc dân sự sang vụ án dân sự; quy định tranh tụng là một nguyên tắc
của TTDS; sự cần thiết phải khôi phục cơ chế xét xử một Thẩm phán khi tiến hành
phán tại Tòa Phúc thẩm Rouen đã làm rõ hai hình thức tố tụng tranh tụng và tố
tụng xét hỏi, những ưu nhược điểm của hai loại hình tố tụng; sự kết hợp tố tụng
tranh tụng với tố tụng xét hỏi. Ông Christian RAYSSEGUIER (Viện trưởng Viện
Công tố tại Tòa Phúc thẩm Rouse đã phân tích nội dung quy định về quản lý Thẩm
phán tại Pháp, các cơ quan quản lý Thẩm phán; nguyên tắc tuyển chọn, đào tạo
Thẩm phán; sự khác nhau giữa Thẩm phán xét xử và công tố; việc bổ nhiệm Thẩm
phán, thuyên chuyển công tác; kỷ luật Thẩm phán...[37]
13
1.1.2.2. Ở nước ngoài
- Cuốn sách “Luật 101 mọi điều bạn cần biết về pháp luật Hoa Kỳ”của GS
JAY M.FEINMAN (bản dịch, 2012) do Nhà xuất bản Hồng Đức phát hành đã nêu
và đánh giá nhiều nội dung liên quan đến pháp luật của Hoa Kỳ, trong đó có phân
tích về thủ tục TTDS và tranh tụng dân sự; thẩm quyền của Tòa án; việc chứng
minh của các đương sự. Đặc biệt tác giả đã nêu rõ được vai trò của Hội thẩm đoàn
trong việc đưa ra phán quyết các vụ việc dân sự; những trường hợp vụ kiện được
xét xử bởi Thẩm phán mà không cần Hội thẩm đoàn; Thẩm phán kiểm soát Hội
thẩm đoàn bằng những cách thức nào…..
- Bản nghiên cứu chung Việt – Nhật “Về việc phát triển án lệ tại Việt Nam”
do JICA thực hiện năm 2007 (Bản dịch đã khái quát chung về hệ thống án lệ, theo
đó Thẩm phán tiến hành xét xử không mâu thuẫn với quan điểm pháp lý được thể
hiện trong phần xét xử của Tòa án cấp cao nhất của một nước đối với các vụ án
tương tự đã làm rõ hai hình thức tố tụng. Bản nghiên cứu đã chỉ ra mục đích hệ
thống án lệ là “áp dụng thống nhất pháp luật” [25], lý do cần phải áp dụng thống
nhất pháp luật là thực hiện nguyên tắc pháp quyền; đảm bảo sự bình đẳng trước
pháp luật; bảo đảm khả năng dự đoán của người dân và sự phát triển kinh tế thị
trường; ngăn chặn sự duy ý chí của Thẩm phán; giúp Thẩm phán yên tâm xét xử và
giúp nâng cao năng lực xét xử của Thẩm phán. Bản nghiên cứu cũng đưa ra các tiêu
rằng “Thẩm phán là người làm việc trong cơ quan Tòa án, chuyên xét xử các vụ án
và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, ra các bản án, quyết định
nhân danh Nhà nước” [64]. Tác giả Nguyễn Thị Thu cho rằng Thẩm phán là
“những người làm công tác xét xử chuyên nghiệp, được tuyển chọn theo một quy
trình chặt chẽ, làm việc thường xuyên trong cơ quan tòa án, thực hiện nhiệm vụ xét
xử nhân danh Nhà nước” [63].
Theo từ điển Luật học (2006 , địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là tổng thể
các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả
năng của chủ thể trong các hoạt động của mình. Trong luận văn thạc sĩ năm 2008 về
“Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở Việt
Nam hiện nay”, tác giả Nguyễn Bích Thảo đã đưa ra khái niệm “Địa vị pháp lý của
Thẩm phán trong tố tụng dân sự được hiểu là tổng thể các quyền và nghĩa vụ tố
tụng của Thẩm phán phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự do pháp
luật quy định, thể hiện vị trí của Thẩm phán trong mối quan hệ với các chủ thể khác
trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự”. Tuy nhiên, các khái niệm được xây dựng
trên cơ sở Thẩm phán là một chủ thể của pháp luật TTDS, với những quyền và
nghĩa vụ nhất định, chưa nghiên cứu để xác định trách nhiệm khi thực hiện quyền
và nghĩa vụ đó, bao gồm trách nhiệm pháp lý của Thẩm phán về hành chính (kỷ
luật , hình sự và trách nhiệm hoàn trả khi giải quyết vụ án không chính xác, gây
15
thiệt hại… Do đó, khái niệm này sẽ được nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu làm
rõ trong luận án của mình.
Thứ hai, xác định được nội dung địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải
quyết vụ án dân sự sơ thẩm và các yếu tố chi phối:
Một là, xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án
dân sự sơ thẩm không chỉ trên cơ sở quy định cụ thể của BLTTDS, mà còn căn cứ
vào vị trí, vai trò của Thẩm phán trong việc thực hiện chức năng xét xử - yếu tố
Hai là, mối quan hệ giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán với các chủ thể khác
trong TTDS. Trong nghiên cứu “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay” đã đề cập quan hệ giữa Thẩm phán và
các chủ thể khác trong TTDS được thể hiện thông qua hai nhóm: Quan hệ giữa Thẩm
phán với những người tiến hành tố tụng khác và quan hệ giữa Thẩm phán với những
người tham gia tố tụng....
Các công trình nghiên cứu trên cơ bản đã đưa ra các tiêu chí và các yếu tố chi
phối rộng, hẹp khác nhau để xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải quyết
vụ án dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, các công trình chỉ mới dừng lại ở việc đưa ra các
“yếu tố chung” để xác định địa vị của Thẩm phán hoặc của Thẩm phán trong TTDS.
Các nghiên cứu chưa hệ thống một cách đầy đủ các yếu tố cụ thể xác định địa vị pháp
lý của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm. Với nội dung này, luận án
sẽ tiếp tục nghiên cứu trên cơ sở kế thừa có sửa đổi, bổ sung những kết quả nghiên
cứu của các công trình đã đề cập.
1.2.1.2. Về thực trạng
- Thực trạng quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giải
quyết vụ án dân sự sơ thẩm.
Các công trình nghiên cứu đã phân tích các quy định pháp luật về địa vị pháp
lý của Thẩm phán nói chung và theo pháp luật TTDS nói riêng. Trong nghiên cứu
“Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng dân sự Việt
Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hằng đã xác định thực trạng quy định pháp luật theo
hướng liệt kê các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong quá trình Thẩm phán giải quyết
vụ việc dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2004. Tác giả TS. Bùi Thị Huyền
nghiên cứu “Phiên tòa sơ thẩm dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” đã đưa
ra những yêu cầu của việc hoàn thiện và thực hiện pháp luật; một số giải pháp về
hoàn thiện pháp luật và các giải pháp thực hiện pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Với
một cách tiếp cận tổng quát hơn, nghiên cứu “Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay”, tác giả Nguyễn Bích
Thảo đã phân tích quy định pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của Thẩm phán
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự bao gồm các nội dung: Địa vị pháp lý
quyết được những tranh chấp, giải quyết được mâu thuẫn và đảm bảo được quyền, lợi
ích hợp pháp về nhân thân và tài sản của các đương sự. Có được những thành công đó,
một phần là do Nhà nước đã triển khai thực hiện việc cải cách tổ chức và hoạt động của
các cơ quan tư pháp, trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án [6], đã xây dựng thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự thống nhất, khoa học. Quy định liên quan đến quyền và
nghĩa vụ của Thẩm phán ngày càng hoàn thiện. Quá trình giải quyết vụ án dân sự,
nhiều Thẩm phán đã nỗ lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, quyền hạn và trách
18