Tổ chức và hoạt động tiếp công dân của chính quyền cấp xã từ thực tiễn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ TIẾN KHOA

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN
CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ TIẾN KHOA

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN
CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật hiến pháp và luật hành chính
Mã số

: 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN TUẤN KHANH


VÀ HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN ..................................................................62
3.1. Quan điểm về tổ chức và hoạt động tiếp công dân ............................................62
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động tiếp công dân...............64
3.3. Một số kiến nghị khác ........................................................................................74
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Từ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

1

CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

2

HĐND

Hội đồng nhân dân

3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang

Kết quả xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của
2.1

UBND các phường thuộc quận Hải Châu cuối năm 2015 đến
đầu năm 2019

46


DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Số hiệu

Tên sơ đồ

sơ đồ
1.1

Mô hình tiếp công dân


đường lối và chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đặt ra. Bên cạnh những kết quả
đạt được, hoạt động tiếp công dân mặc dù được thực hiện theo đúng nội dung pháp
luật và chủ trương của Đảng nhưng vẫn còn một số những bất cập, đây cũng là vấn

1


đề Nhà nước đang đặc biệt quan tâm trong thời gian vừa qua.
Từ thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng cho thấy, công tác Tiếp công dân của
thành phố bên cạnh những kết quả đạt được như các cơ quan nhà nước khác trong
cả nước, vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập như sau:
Thứ nhất, quy định pháp luật về TCD còn nhiều bất cập.
Luật Tiếp công dân 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định
tương đối rõ ràng, cụ thể quyền, nghĩa vụ của người đến KNTC, kiến nghị, phản
ánh; tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức xây dựng và tổ chức thực hiện
quy chế, nội quy Tiếp công dân tại trụ sở Tiếp công dân. Tuy nhiên, việc xử lý đối
với những trường hợp vi phạm quyền, nghĩa vụ vẫn chưa cụ thể, rõ ràng nên có một
số công dân lợi dụng quyền KNTC để gây mất trật tự tại trụ sở Tiếp công dân, có
thái độ không đúng mực, không tôn trọng, thậm chí là lăng mạ, xúc phạm cán bộ
Tiếp công dân… nhưng hầu như chưa bị xử lý; dẫn đến tình trạng này vẫn thường
xuyên tiếp diễn. Tình trạng người đến KNTC, kiến nghị, phản ánh thực hiện quyền
chưa đi đôi với nghĩa vụ còn diễn ra ở một số địa phương thuộc địa bàn thành phố
Đà Nẵng. Nhiều trường hợp biết khiếu nại không có cơ sở nhưng vẫn tiếp tục khiếu
nại. Tố cáo sai chiếm tỷ lệ khá cao, nhưng các cơ quan vẫn phải giải quyết, gây tốn
kém chi phí, công sức và thời gian.
Thứ hai, Luật Tiếp công dân và văn bản hướng dẫn thi hành cũng chưa quy
định cụ thể số lượng cán bộ, công chức làm công tác Tiếp công dân tại ban Tiếp
công dân cấp tỉnh, cấp huyện dẫn đến khó khăn trong bố trí cán bộ làm công tác
Tiếp công dân. Đồng thời, cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân hầu hết chưa
được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về tiếp dân, giải quyết KNTC và kỹ năng

tra trách nhiệm thực hiện pháp luật về tiếp công dân; đồng thời, Thông tư số
320/2016/TT-BTC ngày 14/12/2016 của Bộ Tài Chính có hiệu lực ngày kể từ ngày
01/02/2017 thay thế cho Thông tư liên tịch số 46/2012/TTLT-BTC-TTCP ngày
16/3/2012 của Bộ Tài chính và Thanh tra Chính phủ; tuy nhiên tại Thông tư này vẫn
chưa quy định rõ chế độ phụ cấp đối với lãnh đạo và người làm nhiệm vụ tiếp công
dân cấp xã nên gây khó khăn, vướng mắc cho các địa phương khi thực hiện.
Những hạn chế này đã và đang là rào cản làm ảnh hưởng đến hiệu quả thực
hiện pháp luật về tiếp công dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng và các
tỉnh trên cả nước nói chung, vì vậy, cần phải có những nghiên cứu sâu về lý luận và

3


thực tiễn để đưa ra các giải pháp khắc phục.
Từ yêu cầu thực tiễn trên tác giả quyết định chọn đề tài: “Tổ chức và hoạt
động tiếp công dân của chính quyền cấp xã từ thực tiễn quận Hải Châu, thành
phố Đà Nẵng” mang tính cấp thiết cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, rất cần
được nghiên cứu một cách cơ bản để việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân trong
các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam nói chung và tại chính quyền địa
phương trong thời gian tới có hiệu quả hơn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây, việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động tiếp công dân của
các cấp chính quyền, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được nhiều tác giả quan
tâm và tìm hiểu. Hiện nay, chủ đề này đã được bàn luận trong các sách chuyên
khảo, nêu và thảo luận ở nhiều buổi hội thảo, trong những bài báo, các chương trình
nghiên cứu về cải cách hành chính nhà nước như:
- Về sách chuyên khảo có:
Công trình của Ts. Bùi Mạnh Cường và Ts. Nguyễn Thị Tố Uyên (2013) "
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo" Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Công trình là sự tổng hợp, ghi chép những buổi
gặp gỡ, nói chuyện giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với người dân liên quan đến các vấn

kỹ năng điều khiển, điều chỉnh trong giao tiếp tiếp dân của cán bộ tiếp dân. Từ đó,
đề xuất biện pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho cán bộ tiếp dân nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả công tác của họ. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các Trụ sở
TCD của một số tỉnh, thành phố trên cả nước.
- Về đề tài luận văn Thạc sỹ có công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy
(2016) “Hoạt động tiếp công dân tại Ủy ban nhân dân xã, huyện Gia Lâm, Thành
phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà
Nội. Luận văn đã tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn của hoạt động tiếp công
dân tại UBND các xã, huyện Gia Lâm dưới góc độ khoa học quản lý. Đây là tài liệu
có nội dung nghiên cứu tương đối gần với nội dung của đề tài mà tác giả đã chọn;
do đó, đây là một trong những nguồn tài liệu quý giá để tác giả có phương hướng và
phương pháp nghiên cứu đề tài.
- Về tài liệu tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật có “Đặc san tuyên
truyền pháp luật số 3/2014, chủ đề về tìm hiểu Luật tiếp công dân” của Hội đồng

5


phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật trung ương. Đây là tài liệu giới thiệu một cách
đầy đủ và hệ thống nhất về Luật Tiếp công dân 2013. Qua tài liệu này, tác giả hình
thành một cách cơ bản về cơ sở pháp lý của hoạt động tiếp công dân ở nước ta hiện nay.
- Về các đề tài nghiên cứu thảo luận có:
+ Tác giả Dân Hùng trong bài viết “Đôi điều về công tác tiếp dân”, Diễn đàn
Dự thảo online: http://duthaoonline.quochoi.vn
+ Tác giả Hồ Thị Thu An trong bài viết “Một số khó khăn, vướng mắc trong
thực hiện pháp luật về tiếp công dân”, Trang thông tin điện tử Viện khoa học
Thanh tra, Địa chỉ website: http://giri.ac.vn
Những công trình, bài viết trong thời gian qua đã có những đóng góp đáng
kể, vấn đề về " tiếp công dân" được các tác giả triển khai với những nội dung phong
phú và đa dạng. Mặc dù đều đề cập vấn đề tiếp công dân nhưng lại đang đề cập đến

5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Phương pháp luận:
Qua sự tìm hiểu và nghiên cứu, tác giả dựa trên các phương pháp cơ bản, nền
tảng để hoàn thành đề tài của mình, các phương pháp cụ thể đó là: phương pháp
luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với các quan điểm,
đường lối chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về tiếp công dân.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: phương pháp
phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê.
6. Những đóng góp của luận văn
Qua quá trình nghiên cứu, luận văn đã đạt được một số kết quả sau:
- Khái quát chung về tiếp công dân, khái quát chung về hoạt động thực hiện
pháp luật về tiếp công dân, đồng thời đưa ra các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp
luật về tiếp công dân.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về tiếp công dân tại cấp
xã trên địa bàn quận Hải Châu; làm rõ những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong
việc triển khai hoạt động tiếp công dân.
- Đề xuất được những quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật về tiếp công dân tại các huyện trên địa bàn cả nước nói chung và tại
quận Hải Châu nói riêng trong thời gian tới.

7


7. Kết cấu của luận văn
Như các công trình khác, luận văn cũng có 3 chương ngoài phần mở đầu, kết
luận, danh mục tài liệu tham khảo, cụ thể:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động tiếp công dân
- Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động tiếp công dân ở cấp xã tại quận
Hải châu, thành phố Đà Nẵng

luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả
nước. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội;
công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi y kiến, kiến nghị của công
dân”[5].
Điều 4 Luật Tiếp công dân 2013 quy định về trách nhiệm tiếp công dân của
các cơ quan nhà nước gồm: Chính phủ; Bộ, cơ quan ngang bộ, công cục và tổ chức
tương đương, cục; Ủy ban nhân dân các cấp; Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Các cơ quan của Quốc hội; Hội
đồng nhân dân các cấp; Tòa án nhân dân; Viện kiểm sát, Kiểm toán nhà nước.
Điều 16 Luật Tiếp công dân 2013 quy định việc tổ chức tiếp công dân tại cơ

11


quan hành chính nhà nước như sau:
“Bộ, cơ quan ngang bộ thành lập bộ phận tiếp công dân hoặc bố trí công
chức thuộc Thanh tra bộ làm công tác tiếp công dân.
Việc tiếp công dân của tổ chức trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ do Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định phù hợp với yêu cầu, tính chất tổ
chức và hoạt động của từng tổ chức; Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh bố trí công chức thuộc Thanh tra cơ quan làm công tác tiếp công dân.
Việc tiếp công dân của cơ quan trực thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh và việc tiếp công dân của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với
yêu cầu, tính chất tổ chức và hoạt động của từng cơ quan; Chính phủ, Thanh tra
Chính phủ, Văn phòng Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp
huyện, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân cấp huyện đã tham gia tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp
công dân ở trung ương, Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh, cấp huyện thì không bố trí

quan hành chính, các cơ quan dân cử có thẩm quyền cần hướng tới khắc phục
những vấn đề chính sách để ngăn chặn các vi phạm tương tự có thể xảy ra; bảo đảm
và thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ảnh của công dân.
Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh là quyền của công dân. Các cơ quan
nhà nước, cán bộ, công chức có thẩm quyền phải thực hiện các biện pháp pháp lý,
tổ chức, tuyên truyền, khuyến khích thực hiện quyền, xử lý vi phạm để quyền đó
được đảm bảo thực thi trên thực tế.
Bảo đảm tiếp cận công lý dễ dàng của người dân. Tiếp công dân, giải quyết
Khiếu nại, tố cáo là hoạt động thực hiện pháp luật, do vậy, chúng cần được thực
hiện theo những nguyên tắc pháp luật, nội dung điều khoản được quy định, trong
đó, thủ tục thực hiện quyền cần phải đơn giản để các tầng lớp nhân dân dễ thực hiện
quyền của mình. Hạn chế sự lạm quyền, kiểm soát hoạt động của cơ quan hành
chính nhà nước, cán bộ, công chức hành chính.
Về nguyên tắc, giải quyết đơn thư kiến nghị, phản ánh, Khiếu nại, tố cáo của
công dân phải đúng thẩm quyền luật định. Trong nhiều trường hợp, vì xác định
chưa đúng, hoặc chưa đủ căn cứ về thẩm quyền nên quá trình giải quyết đơn thư chưa
đạt hiệu quả.

13


1.1.2. Mục đích, ý nghĩa của tiếp công dân
1.1.2.1. Mục đích của tiếp công dân
Thứ nhất, việc tiếp công dân nhằm mục đích tiếp nhận các thông tin, kiến
nghị, phản ánh, góp ý những vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước, công tác quản lý của cơ quan, đơn vị. Đây là
sự cụ thể hoá quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các
vấn đề chung của Nhà nước và xã hội của công dân, là sự cụ thể hoá phương châm
"dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".
Thứ hai, việc tiếp công dân sẽ giúp cho công tác giải quyết Khiếu nại, tố cáo

của nhân dân.
Thứ hai, tiếp công dân là việc tiếp nhận các thông tin, kiến nghị, phản ánh,
góp ý những vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước, công tác quản lý của cơ quan. Bên cạnh đó, tiếp công dân
còn là việc nhận các khiếu nại, tố cáo của công dân. Điều này nhằm mục đích bảo
đảm thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đã được ghi nhận trong các bản
Hiến pháp. Qua đó thấy được mối quan hệ chặt chẽ không tách rời giữa công tác
tiếp công dân với giải quyết khiếu nại, tố cáo. Công tác tiếp công dân sẽ giúp cho
công tác khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhà nước đạt được hiệu quả cao. Đây là
sự cụ thể hóa quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các
vấn đề chung của Nhà nước và xã hội của công dân, là sự cụ thể hóa phương châm
“dân biết, dân làm, dân kiểm tra”.
Thứ ba, tiếp công dân thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với nhân dân,
tác động tích cực đến tình cảm, thái độ của người dân, củng cố niềm tin của người
dân vào chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; khơi dậy tiềm năng, trí tuệ
của nhân dân vào các nhiệm vụ chính trị chung của Đảng và Nhà nước thông qua
việc thu thập được những thông tin, phản hồi về những vấn đề phát sinh trong cuộc
sống, từ đó đề ra những chính sách, chủ trương, quyết định đúng đắn, hợp lòng dân.
Tiếp công dân chính là kênh thông tin quan trọng giúp cho nhà nước ta có thể điều
chỉnh được những hạn chế, khiếm khuyết trong công tác quản lý cũng như trong đội
ngũ cán bộ, công chức.
Thứ tư, qua kết quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của
các cơ quan nhà nước đã khôi phục, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,

15


cơ quan, tổ chức; Thông qua tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo các cấp, các
ngành đã kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh những sơ hở trong công tác quản lý kinh tế,
yếu kém trong quản lý nhà nước; nhiều văn bản, chính sách, chế độ đã được sửa

(Thanh tra Chính phủ)
Ban TCD Trung
ương

Trụ sở TCD
Trung ương

Ban TCD cấp Tỉnh

Trụ sở TCD cấp
Tỉnh

Ban TCD cấp Huyện

Trụ sở TCD cấp
Huyện

UBND cấp Tỉnh
(Văn phòng UBND)

UBND cấp Huyện
(Văn phòng HĐND&UBND)

UBND cấp Xã
(Chủ tịch UBND xã)

* Về Trụ sở tiếp công dân
Trụ sở tiếp công dân là nơi để công dân trực tiếp đến KNTC, kiến nghị, phản
ánh với lãnh đạo Đảng, Nhà nước ở trung ương hoặc lãnh đạo Đảng, chính quyền ở
địa phương; có đại diện của một số cơ quan, tổ chức tại trung ương hoặc địa phương

UBND cấp huyện, do một Phó Chánh Văn phòng phụ trách, chịu trách nhiệm trực
tiếp quản lý Trụ sở TCD cấp huyện. Văn phòng Huyện ủy, Ủy ban kiểm tra Huyện
ủy cử đại diện phối hợp cùng Ban TCD cấp huyện thực hiện việc TCD thường
xuyên tại Trụ sở TCD cấp huyện.
Cấp huyện là cấp thấp nhất có trụ sở TCD riêng. Đó là nơi duy nhất có chức
năng chuyên biệt được pháp luật quy định để tiếp nhận KNTC, kiến nghị phản ánh
của công dân trên địa bàn mỗi quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
* Về Ban tiếp công dân
Cùng với quy định về thành lập các Trụ sở TCD, Luật TCD còn quy định về
Ban TCD. Ban TCD ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện được thành lập để trực
tiếp quản lý Trụ sở TCD, tổ chức việc TCD, giải thích, hướng dẫn cho công dân đến
KNTC, kiến nghị, phản ánh, phối hợp cùng đại diện cơ quan, tổ chức hữu quan tổ

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status