VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN SINH
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC
NUÔI DƯỠNG TRẺ EM MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN
LÀNG TRẺ EM SOS HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số : 60900101
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. Võ Khánh Vinh
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong khoá luận là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả
Nguyễn Văn Sinh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ
DANH MỤC BẢNG
BẢNG 2.1. NHẬN THỨC VỀ SỰ CẦN THIẾT CỦA TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG TRẺ EM MỒ CÔI.............................34
BẢNG 2.2: TỔNG HỢP KẾT QUẢ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NHÂN
VIÊN LÀNG TRẺ EM SOS HÀ NỘI..............................................................41
BẢNG 2.3: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC
NUÔI DƯỠNG VỀ THỂ CHẤT CHO TRẺ EM MỒ CÔI...........................44
BẢNG 2.4: CÁC HOẠT ĐỘNG ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ GIÁO DỤC
HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ MỒ CÔI TẠI LÀNG TRẺ EM SOS HÀ
NỘI.....................................................................................................................47
BẢNG 2.5: THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG TRẺ EM MỒ CÔI..........51
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em luôn là niềm hy vọng, niềm tự hào của mỗi gia đình, là chủ
nhân tương lai của đất nước, là mối quan tâm hàng đầu của xã hội. Để trẻ em
có thể phát triển được một cách đầy đủ cả về mặt thể chất lẫn tinh thần thì trẻ
cần nhận được sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương và giúp đỡ thường xuyên
của toàn xã hội. Điều đó càng quan trọng hơn với nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn, trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi... Giải quyết những vấn đề liên
quan đến trẻ em sẽ góp phần tạo nên sự phát triển bền vững của Quốc gia. Đó
cũng chính là trách nhiệm của cá nhân, tổ chức và nghĩa vụ của toàn xã hội.
Bảo vệ, chăm sóc trẻ em mồ côi luôn nhận được sự quan tâm của Đảng,
nhà nước, các tổ chức quốc tế và toàn thể xã hội. Nhằm thúc đẩy công cuộc
hỗ trợ trẻ tốt hơn, các mô hình được xây dựng, thử nghiệm trong đó Làng trẻ
em SOS là một mô hình nhà xã hội thể hiện những điểm ưu việt hơn hẳn so
thương cho mọi trẻ em” như phương châm của tổ chức đề ra nên tác giả quyết
định chọn đề tài: “Tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ
côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ.
Đề tài này được xây dựng dựa trên những nền tảng triết lý vững chắc
và thể hiện những ưu, nhược điểm riêng biệt của mình trong bối cảnh kinh tế,
văn hóa xã hội Việt Nam. Thông qua đề tài này, chúng ta có một cái nhìn tổng
quan, biện chứng về chiến lược phát triển mô hình chăm sóc thay thế hiệu quả
cho trẻ em trong tương lai.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là đối tượng nhận được nhiều sự quan
tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu
là trẻ em mồ côi trong các cơ sở nuôi dưỡng tôi lựa chọn và phân tích một số
công trình nghiên cứu, báo cáo, bài viết tiêu biểu.
2
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ
em bị bỏ rơi.
Tài liệu Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của
nhóm tác giả trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương năm 2012 đã chỉ ra các
quyền trẻ em, các nhu cầu thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của tình trạng
trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt, và nhóm tác giả đã chỉ ra các yếu tố tác động
làm gia tăng tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhất là nhóm trẻ em không
nơi nương tựa, lang thang, trẻ bị bạo hành. Từ đó, nhóm tác giả đã đưa ra
những hướng giải quyết theo phương pháp công tác xã hội vào tiến trình can
thiệp đối với nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt.
Trong tài liệu Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em: Đánh giá pháp luật
và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt
quan, cụ thể đối với đặc thù của từng địa phương.
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến trẻ em mồ côi
tại các trung tâm bảo trợ xã hội và tại các Làng Trẻ em SOS trên toàn
quốc.
Đề tài “Phân tích tình hình chăm sóc sức khỏe tại trung tâm và các
chương trình chăm sóc thay thế ở Việt Nam ” được thực hiện ở cấp quốc gia
trong tháng 7/2003 đã có nhiều phát hiện về việc chăm sóc trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt. Nghiên cứu này được Unicef hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật,
được thực hiện với sự hợp tác của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và tổng hợp các nghiên
cứu có liên quan trước đó; sử dụng bảng hỏi gửi cho giám đốc của sở Lao
động – Thương binh và Xã hội của 61 tỉnh thành, phỏng vấn nhóm với cán bộ
của 10 trung tâm. Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm tìm hiểu một cách
khái quát về hình thức chăm sóc tại các trung tâm và hình thức chăm sóc thay
thế khác dành cho trẻ cần được bảo vệ đặc biệt. Dựa trên những hướng dẫn
4
của Liên hợp quốc trong công ước về quyền trẻ em, nghiên cứu này nhằm hỗ
trợ và khuyến khích chính phủ Việt Nam đưa ra các chính sách và xây dựng
các chương trình và dành nhiều nguồn lực hơn nữa để hỗ trợ cho các hoạt
động chăm sóc trẻ dựa vào gia đình và cộng đồng. Theo hướng này, nghiên
cứu áp dụng kết hợp phương pháp môi trường bảo vệ với khuôn khổ dựa trên
quyền của trẻ nhằm có những tiếng nói trong quá trình xây dựng các chính
sách nhằm tiếp tục phát triển các hình thức chăm sóc khác ở Việt Nam thay
thế cho hình thức chăm sóc tập trung tại các trung tâm. Nghiên cứu tập trung
vào các chính sách và pháp luật xã hội hiện nay, các chính sách xã hội có liên
quan và việc phân bổ ngân sách nhà nước và tiêu chí cho các chương trình
chăm sóc tại các trung tâm và các chương trình chăm sóc thay thế khác. Tuy
Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Liên với luận văn thạc sĩ đã bảo vệ
thành công tại Viện hàn lâm Khoa học và Xã hội Việt Nam với tên đề tài là
Công tác xã hội với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em Birla Hà Nội đã
chỉ ra thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ chăm sóc, giáo dục
trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em Birla Hà Nội. Trên cơ sở đó luận văn đề xuất
biện pháp giúp trẻ mồ côi tại Làng trẻ em Birla Hà Nội tiếp cận dịch vụ chăm
sóc và giáo dục tốt nhất.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng tổ chức, hoạt động chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ em mồ côi tại Làng Trẻ em SOS Hà Nội từ đó đề xuất các giải pháp
để hoàn thiện tổ chức, hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi tại Làng
Trẻ em SOS Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và pháp lý về tổ chức, hoạt động
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi.
6
- Phân tích thực trạng tổ chức, hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em
mồ côi tại Làng Trẻ em SOS Hà Nội
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức, hoạt động chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ em mồ côi tại Làng Trẻ em SOS Hà Nội.
- Đề xuất một số giải pháp pháp để hoàn thiện tổ chức, hoạt động chăm
sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi tại Làng Trẻ em SOS Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Xem xét cách thức tổ chức bộ máy và vận hành bộ máy trong công tác
quản lý, xem xét việc tổ chức các hoạt động chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em
đúng mức, nhóm người yếu thế trong xã hội gia tăng, trong đó nhóm trẻ em mồ côi
là đối tượng cần có những chính sách kịp thời phù hợp để chăm sóc, giáo dục các
em phát triển, trưởng thành là những công dân có ích cho xã hội đảm bảo các quyền
đối với trẻ em. Trên cơ sở của các chính sách công tác xã hội với trẻ em cần đặt nó
trong mối quan hệ với các chính sách trợ giúp khác và tình hình đặc điểm thực
trạng trẻ em mồ côi của Làng trẻ em SOS Hà Nội. Đồng thời, Luận văn thực hiện
trên các quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà
nước và cụ thể là các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các chính sách pháp luật của nhà
nước về công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em trong đó có trẻ em mồ côi.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Phân tích thông tin, số liệu từ các báo cáo, văn bản pháp luật, ấn phẩm,
tài liệu liên quan đến lĩnh vực tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
em mồ côi.
5.2.2. Phương pháp điều tra bảng hỏi:
Sử dụng các bảng câu hỏi để thu thập ý kiến đánh giá của cán bộ quản
lý, nhân viên công tác xã hội với trẻ em mồ côi tại Làng trẻ SOS Hà Nội liên
quan đến tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi cũng như
8
các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em
mồ côi.
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Thực hiện phỏng vấn sâu với: cán bộ lãnh đạo, nhân viên Công tác xã
hội tại Làng trẻ SOS Hà Nội, nhằm tìm hiểu nội dung tổ chức và hoạt động
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi tại Làng trẻ SOS Hà Nội. Bổ sung và làm
phong phú thêm cho kết quả định lượng về chức và hoạt động chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ em mồ côi tại Làng trẻ SOS Hà Nội.
5.2.3. Phương pháp quan sát
động hiệu quả hơn trong quá trình tác nghiệp với trẻ em mồ côi trong Làng trẻ
em SOS Hà Nội.
Luận văn cũng đã đề xuất được 5 giải pháp để hoàn thiện tổ chức, hoạt
động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi tại Làng Trẻ em SOS Hà Nội
Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp các nhà chuyên
môn xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các chính sách, chương trình hoạt động có
hiệu quả trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi. Mặt khác, tác giả
cũng hy vọng đề tài sẽ trở thành một tài liệu tham khảo giúp ích được trong
việc học tập, nghiên cứu của sinh viên ngành công tác xã hội.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về tổ chức và hoạt động
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi
Chương 2. Thực trạng tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ
côi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội
Chương 3. Hoàn thiện tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội
10
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG TRẺ MỒ CÔI
1.1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1. Khái niệm tổ chức
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tổ chức, từ góc độ triết học người ta
quan niệm “ Tổ chức, nói rộng, là cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không thể
tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội
không nơi nương tựa, bị bỏ vào một nhóm vì đặc điểm của nhóm trẻ này
không có bố mẹ hoặc vì một lý do nào đó không được sống cùng bố mẹ: “Trẻ
em tạm thời hoặc hoàn toàn không được sống trong môi trường gia đình hoặc
lý do ảnh hưởng đến lợi ích của một cá nhân không được quyền tiếp tục sống
trong môi trường gia đình sẽ có quyền nhận được sự trợ giúp và bảo vệ đặc
biệt của nhà nước” [19, tr. 3].
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004 quy định
trẻ em mồ côi được hiểu là những trẻ em có hoàn cảnh như sau:
- Mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và
không còn người thân thích ruột thịt (ông, bà nội, ngoại; bố, mẹ nuôi hợp
pháp; anh, chị) để nương tựa [23, tr.134].
- Mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại (mẹ hoặc cha) mất tích theo
quy định của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi
dưỡng (như tàn tật nặng, đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại cải
tạo), không có nguồn nuôi dưỡng và không có người thân thích để nương tựa.
Theo Luật Nuôi con nuôi ban hành năm 2010 thì: Trẻ em mồ côi là trẻ
em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia
không xác định được.
12
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xác định, trẻ em mồ côi
là những em dưới 16 tuổi và có hoàn cảnh: cả cha lẫn mẹ đã chết, hoặc cha
hoặc mẹ đã chết; cả cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đã mất tích theo quy định
của Pháp luật Dân sự (gồm có cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi hợp pháp).
1.1.4. Khái niệm tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ
côi
Hiện nay chưa có ai đưa ra khái niệm về tổ chức và hoạt động chăm sóc
nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trong khuôn khổ luận văn của mình chúng tôi
tục tập quán và truyền thống dân tộc.
- Tình mẫu tử thiêng liêng:
Chức năng sinh đẻ và nuôi dạy con cái là thiên chức của bà mẹ, để đảm
bảo chức năng đó các bà mẹ có được những bản năng bẩm sinh rất đặc biệt
trong quan hệ với đứa con là:
+ Tình thương bao la, trìu mến, lòng độ lượng, khoan dung vô bờ bến
đối với đứa con.
+ Sự hi sinh quên mình vì con.
+ Ý chí và sức mạnh bảo vệ con đến cùng.
+ Ý nguyện truyền thụ cho con mọi điều tốt đẹp nhất, sự hiểu biết, đức
độ, phong cách, lịch lãm trong giao tiếp xã hội.
+ Lòng tin yêu và ước muốn đứa con đạt tới cái thiện, cái mĩ và thành
đạt trong đường đời.
Những điều bà mẹ dành cho đứa con khơi dậy một cách tự nhiên trong
lòng đứa trẻ một tình cảm sâu xa và mạnh mẽ đối với bà mẹ, thể hiện ở một
số điểm tiêu biểu sau:
+ Tình cảm yêu thương sâu xa đối với bà mẹ.
+ Lòng biết ơn vô hạn đối với bà mẹ.
14
+ Sự tin cậy tuyệt đối ở bà mẹ, thấy ở bà mẹ nương tựa về tình cảm,
nơi có thể gửi gắm về tâm hồn.
+ Sự tự nguyện tuân theo lời dạy bảo, dìu dắt của bà mẹ với ý nguyện
đạt tới mọi điều tốt lành để đền đáp tấm lòng của mẹ với mình.
+ Lòng tôn kính đối với bà mẹ của mình, coi mẹ như thần tượng, tấm
gương sáng và niềm tự hào của mình.
Những nét tiêu biểu này nảy sinh từ hai phía nêu trên cộng với sự tận
tâm chăm sóc con trong cuộc sống thường ngày, tuy rất bình thường nhưng
có đặc điểm riêng khác với gia đình tự nhiên vì vậy mà người mẹ cần chủ
động xây dựng tình mẹ con với từng trẻ một, tránh để tình trạng thiên vị mà
dẫn tới những suy nghĩ tiêu cực từ trẻ. Luôn biết cách chia sẻ tháo gỡ những
khó khăn, chăm sóc khi ốm đau, chỉ bảo tận tình khi dạy dỗ khi trẻ sai sót…
Cùng với đó là thái độ luôn lạc quan, yêu đời, quan tâm tới hàng xóm láng
giềng…cũng là một điểm rất quan trọng để định hướng cho tâm hồn trẻ.
1.2.1.2. Nguyên tắc Anh chị em trong gia đình SOS
Nguyên tắc thứ hai của Làng trẻ SOS là việc nuôi dạy trẻ theo cơ cấu
anh chị em như một gia đình tự nhiên, chứ không chỉ theo cách tổ chức theo
lứa tuổi và cùng giới sống riêng với nhau. Theo nguyên tắc này mỗi gia đình
SOS có từ 8- 11 con, do một bà mẹ quản lý, bao gồm cả trai lẫn gái ở các độ
tuổi khác nhau dược chọn và sắp xếp như cơ cấu tự nhiên của một gia đình
bình thường theo độ tuổi lớn nhỏ mà hình thành trật tự anh chị em.
Tình anh em là một yếu tố giáo dục quan trọng bên cạnh tình mẫu tử.
Nhận thức, tình cảm, nhân cách của đứa trẻ được hình thành một phần được
bắt nguồn từ ảnh hưởng tương hỗ giữa các anh chị em trong gia đình. Các em
nhỏ được anh chị lớn dạy dỗ, chỉ bảo và bảo vệ các em nhỏ, qua đó các anh
chị lớn thấy được trách nhiệm của mình và càng có ý thức muốn làm tốt hơn
những công việc như vậy và cao hơn. Dần dần qua những công việc như vậy
mà tình cảm anh chị em càng gắn bó mật thiết hơn. Coi trọng và quan tâm
16
nuôi dưỡng tới tình cảm anh chị em, nên đối với những nhóm anh chị em ruột
không còn cha mẹ khi nhận về Làng trẻ SOS được đưa nguyên cả nhóm vào
một gia đình trừ khi có trường hợp quá lớn được giải quyết theo hướng khác.
Điều lưu ý khi dạy trẻ ở gia đình SOS: trong gia đình được sắp xếp có
nam và nữ ở các độ tuổi, khi các em trai đến độ tuổi dậy thì sẽ được chuyển
sang khu lưu xá thanh niên và tiếp tục học ở chương trình phổ thông, đại học
bó với nhau về mặt vật chất. Cũng tại bếp ăn các con thấy được sự vất vả,
công sức, sự khéo léo, thu vén của bà mẹ trong việc tổ chức đảm bảo cuộc
sống của gia đình. Bếp ăn cũng là nơi người mẹ truyền dạy cho các con lớn
kinh nghiệm nấu nướng và là nơi các em lớn giúp mẹ các công việc như vậy.
1.2.1.4. Nguyên tắc Cộng đồng Làng
Có khoảng 10- 20 ngôi nhà SOS trong một Làng trẻ SOS. Làng là cầu
nối để mở rộng sự tiếp xúc của trẻ từ khuôn khổ từng gia đình ra ngoài xã hội.
Làng là tập thể lớn hơn gia đình, có quyền hạn và tư cách lớn hơn gia đình
trong quan hệ với các tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước, từ đó có thể tạo điều
kiện cho các gia đình thực hiện tốt hơn nhiệm vụ giáo dục và nuôi dạy con trẻ
theo ý niệm của Làng trẻ em SOS. Là một tập thể, Làng có trách nhiệm tổ
chức giúp đỡ các trẻ em ngoài phạm vi gia đình. Làng hướng dẫn kiểm tra các
gia đình thực hiện những nguyên tắc giáo dục và nguyên tắc tổ chức của tổ
chức SOS, song không lẫn vào trách nhiệm và không làm hạn chế quyền hạn
của các gia đình. Bà mẹ có quyền tự chủ trong công việc quản lý và sử dụng
ngân sách gia đình, chỉ phải tuân theo một số quy định tổng quát có tính chất
định hướng. Trẻ cũng được hướng dẫn chia sẻ những lo âu trong cuộc sống
hàng ngày của các gia đình và trong tổ chức các sinh hoạt cộng đồng của
Làng.
18
1.2.2. Nội dung tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em
mồ côi
1.2.2.1. Tổ chức cơ cấu quản lý và các hoạt động để kiện toàn bộ máy
tổ chức, hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi
* Tổ chức cơ cấu quản lý chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi
- Tổ chức nuôi dưỡng và giáo dục theo những nguyên tắc quy định.
- Thiết lập quản lý hồ sơ cá nhân của từng trẻ mồ côi.
- Công tác giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ em mồ côi
- Công tác hướng nghiệp cho trẻ em mồ côi
- Tổ chức hoạt động vui chơi giải trí cho trẻ em mồ côi
- Hoạt động tư vấn, tham vấn cho trẻ em mồ côi
1.2.3. Các yếu tổ ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ em mồ côi
1.2.3.1. Nhận thức của cán bộ quản lý về tổ chức và hoạt động chăm
sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi
Để đáp ứng nhu cầu được trợ giúp của con người có vấn đề gặp phải
trong cuộc sống, một trong những ngành nghề chuyên nghiệp đã ra đời, đó là
công tác xã hội - một khoa học, một nghề nghiệp chuyên môn có tính ứng
dụng cao nhằm hướng đến hỗ trợ giải quyết rất nhiều vấn đề xã hội nảy sinh
và trợ giúp cho các đối tượng yếu thế trong xã hội trong đó có đối tượng trẻ
em mồ côi. Nếu cán bộ quản lý về tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng
trẻ em mồ côi nhận thức đúng đắn về nghề công tác xã hội, về ý nghĩa và tầm
quan trọng của nghề công tác xã hội trong việc giải quyết các vấn đề xã hội
trong đó có vấn đề trẻ em mồ côi thì họ sẽ dễ thành công hơn trong hoạt động
quản lý và ngược lại. Vì vậy, một trong những yêu cầu đặt ra đối với cán bộ
quản lý về tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi là bản
thân họ phải được trang bị những kiến thức cơ bản về nghề công tác xã hội.
Những năm gần đây, Cục bảo trợ xã hội – Bộ Lao động – Thương binh và Xã
20