1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thư viện trường học có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động
học tập, giảng dạy của giáo viên và học sinh trong nhà trường. Không chỉ là
nơi tuyên truyền những chính sách của Đảng và Nhà nước mà thư viện còn
giúp cho việc xây dựng thế giới quan khoa học, nếp sống văn minh, hình
thành văn hóa đọc sách từ đó góp phần quyết định nâng cao chất lượng,
năng lực giảng dạy của giáo viên, thúc đẩy, nâng cao kết quả học tập của học sinh.
Từ sau Quyết định 61/1998/QĐ/BGD-ĐT của Bộ GD&ĐT ban hành
Quy chế về Tổ chức và hoạt động thư viện trường phổ thông, Bộ giáo dục và
Đào tạo cũng đã ban hành nhiều quyết định và văn bản chỉ thị đánh dấu sự
phát triển của sự nghiệp thư viện trong các trường học, khẳng định vị trí quan
trọng và tác dụng lớn lao của thư viện đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo
thế hệ trẻ như: Quyết định 01/2003/QĐ/BGD&ĐT ngày 02/01/2003 của Bộ
trưởng BGD&ĐT về việc ban hành Quy định về tiêu chuẩn thư viện trường
phổ thông; Quyết định số 49/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 28/10/2003 của Bộ
trưởng BGD&ĐT ban hành chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ thư viện trong
các trường phổ thông từ năm học 2003 – 2004; Quyết định bổ sung Quyết
định số 01/2004-QĐ-BGD&ĐT ngày 29/01/2004 về việc sửa đổi bổ sung
quyết định số 01/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/01/2003;
Về mặt lý thuyết, thư viện trường học rất quan trọng có tác động tích
cực trong nhiều hoạt động khác nhau của nhà trường, bao gồm điểm số và khả
năng học tập độc lập, tự mở rộng kiến thức của học sinh, chuẩn bị giáo án
môn học và nghiên cứu tài liệu phục vụ bài giảng của giáo viên. Góp phần
không nhỏ từng bước đẩy lùi tình trạng thụ động trong quá trình giảng dạy
2
và học tập của học sinh, thúc đẩy học sinh tự suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo trong
thành những thư viện chuẩn, hoạt động một cách tích cực, khoa học. Từ đó
phát huy vai trò và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thư viện
trường học trên địa bàn Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu
Thư viện trường học ở Việt Nam là một lĩnh vực còn khá mới mẻ và
chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các cấp có liên quan, thậm chí
những năm trước mới chỉ có một số trường học ở các thành phố lớn, thị xã có
thư viện còn lại hầu như không có. Cho đến những năm đầu của thế kỷ XXI,
khi có những quy định, chính sách mới thì thư viện trường học bắt đầu phát
triển rầm rộ. Tuy nhiên do sự non kém về tuổi đời, sự mờ nhạt về chức năng,
tổ chức và hoạt động của thư viện nên lĩnh vực này rất ít được quan tâm
nghiên cứu.
Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu của các học viên cao học
chuyên ngành Khoa học Thư viện viết về các vấn đề của thư viện trường học
như các đề tài luận văn:
- “Tổ chức và hoạt động của thư viện trường học thành phố Hồ Chí
Minh trong giai đoạn cải cách giáo dục” của học viên Nguyễn Thị Bình bảo
vệ năm 1996;
- “Tổ chức, quản lý hoạt động của hệ thống thư viện trường phổ thông trên
địa bàn tỉnh Thanh Hóa” của học viên Trương Thị Hiền bảo vệ năm 2006;
- “Nghiên cứu hoạt động của thư viện trường tiểu học trên địa bàn
thành phố Hà Nội” của học viên Nguyễn Ngọc Mỹ bảo vệ năm 2009
Các luận văn này đã đề cập và nghiên cứu vấn đề tổ chức và hoạt động
của hệ thống thư viện trường phổ thông ở một số tỉnh và thành phố lớn trong
cả nước như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hoá.
4
Ngoài ra có một số bài báo đăng trên các tạp chí, báo điện tử của các
tác giả đang công tác trong lĩnh vực thông tin thư viện, như các bài: “Thư
viện trường phổ thông với việc nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn
lượng dạy và học trong trường THCS Phương Liệt nói riêng và hệ thống các
trường phổ thông nói chung.
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động thông tin
thư viện trong các thư viện trường học.
- Khảo sát thực trạng tổ chức và hoạt động của thư viện trường THCS
Phương Liệt.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện về tổ chức và nâng cao
chất lượng hoạt động của thư viện trường THCS Phương Liệt đáp ứng nhu
cầu đọc của cán bộ, giáo viên và học sinh cũng như mục tiêu phát triển giáo
dục của nhà trường.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Tổ chức và hoạt động của thư viện trường THCS Phương Liệt còn yếu
kém và hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu về tổ chức và hoạt động thư viện
từ đó dẫn đến hạn chế về khả năng phục vụ, quản lý và khai thác vốn tài liệu
cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu tin. Việc cải tiến tổ chức và hoạt động
thư viện sẽ tạo nên bước phát triển lớn, từ đó nâng cao hiệu quả phục vụ nhu
cầu tin, tạo nên hứng thú và thu hút sự tham gia của đông đảo học sinh và
giáo viên trong trường góp phần thúc đẩy sự phát triển của thư viện nói riêng
và sự nghiệp giáo dục của nhà trường nói chung trong giai đoạn đổi mới giáo
dục và trong tương lai.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Tổ chức và hoạt động của thư viện trường THCS Phương Liệt – quận
Thanh Xuân – Hà Nội.
6
5.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Tổ chức và hoạt động của thư viện trường THCS Phương Liệt từ năm
2005 đến nay.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
viện nói chung và thư viện trường học nói riêng nhằm đưa ra các giải pháp về
tổ chức và hoạt động của thư viện trường THCS Phương Liệt, từ đó nâng cao
chất lượng hoạt động, thu hút bạn đọc đến với thư viện và rút ra những kinh
nghiệm cần thiết cho các thư viện trường học khác, góp phần hình thành và
thúc đẩy sự say mê, phát triển khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh và
góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.
8. Bố cục đề tài
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tổ chức và hoạt động thông tin –
thư viện và thư viện trường THCS Phương Liệt
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động thông tin - thư viện tại
trường THCS Phương Liệt
Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động và hoàn thiện
tổ chức của thư viện trường THCS Phương Liệt 8
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƢ VIỆN
VÀ THƢ VIỆN TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ PHƢƠNG LIỆT
Có thể coi hoạt động thư viện là một quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ
biến tài liệu trong thư viện, đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin.
Như vậy hoạt động thư viện có thể được xem xét ở các khía cạnh: xây
dựng và phát triển nguồn lực thông tin; Xử lý thông tin; phổ biến thông tin
hay phục vụ người dùng tin.
Tổ chức và hoạt động là hai vấn đề có sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.
Tổ chức đảm bảo tính khoa học, hợp lý sẽ làm cơ sở cho hoạt động đạt hiệu
quả cao. Ngược lại hiệu quả hoạt động sẽ đánh giá được tính hợp lý của khâu
tổ chức, đồng thời là yếu tố quan trọng tác động đến tổ chức. Bởi vậy, để hoạt
động đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải có sự tổ chức một cách hợp lý, khoa học,
phù hợp với những mục tiêu và hoạt động đề ra; đồng thời sự phát triển của
hoạt động đến một mức độ nào đó sẽ đòi hỏi phải có sự thay đổi về mặt tổ
chức cho tương xứng.
1.1.2. Đặc điểm chung về tổ chức và hoạt động thƣ viện trong trƣờng
phổ thông
Thư viện trường học có đặc điểm nổi bật đó là hoạt động trong môi
trường giáo dục, từ hệ thống các trường tiểu học, trung học cơ sở tới các
trường trung học phổ thông và trung học chuyên nghiệp. Vì hoạt động trong
10
môi trường giáo dục nên nó có nhiều khác biệt đối với các thư viện và cơ
quan thông tin khác trong cùng lĩnh vực.
Một đặc điểm nổi bật nữa của thư viện trường học đó là đối tượng phục
vụ. Không đa dạng, phức tạp như các cơ quan hay trung tâm thông tin thư
viện khác, đối tượng phục vụ của thư viện trường học chủ yếu là học sinh và
giáo viên trong nhà trường, những đối tượng người dùng tin khác rất ít ỏi và
hiếm khi phải phục vụ.
Thêm vào đó vốn tài liệu của thư viện cũng không phong phú và đa
dạng như những cơ quan hay trung tâm thông tin thư viện khác mà chủ yếu
tập trung vào một vài lĩnh vực như: Sách giáo khoa các môn học dành cho
tiêu, chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Công khai mục tiêu, nội dung
các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng
giáo dục.
2. Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật.
3. Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường;
quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
4. Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công.
5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục.
Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
6. Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy
định của Nhà nước.
7. Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội.
8. Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục.
9. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
12
*Đặc điểm hoạt động dạy và học
- Về nội dung kiến thức và chương trình học tập của học sinh: cũng
giống với các trường THCS khác trên địa bàn quận Thanh Xuân, trường
THCS Phương Liệt thực hiện việc giảng dạy và truyền tải những kiến thức
khoa học tự nhiên cơ bản làm nền tảng cho các em học sinh theo chương trình
của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Phương pháp giảng dạy của giáo viên: Với hơn 50 năm xây dựng và
phát triển, nhà trường có đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm giảng dạy, nhiệt
huyết và yêu nghề, yêu trẻ. Tuy nhiên, một số giáo viên có tuổi chưa thể bắt
kịp với chương trình đào tạo mới hiện nay, còn khó tiếp cận với việc ứng
dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học và truyền tải kiến thức tới
các em học sinh. Mặc dù đã thực hiện chương trình cải cách, đổi mới giáo dục
nhưng phương pháp dạy học mới với mục tiêu lấy người học làm trung tâm,
cơ sở vật chất này giúp cho hoạt động học tập và giảng dạy của giáo viên và
học sinh được thuận lợi hơn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà
trường.
* Cơ cấu tổ chức
- Lãnh đạo quản lý của nhà trường là Ban Giám hiệu gồm 01 Hiệu
trưởng và 01 Phó Hiệu trưởng.
- Ngoài khu học tập của học sinh trường có 6 phòng ban khác phục vụ
cho các hoạt động của nhà trường: Phòng Hội đồng, phòng Đoàn Đội, phòng
Kế toán tài chính, phòng Thư viện, phòng Y tế và phòng Thiết bị đồ dùng.
- Trường có 5 tổ chuyên môn là những tổ: Tự nhiên I, Tự nhiên II, tổ
Xã hội, tổ Ngoại ngữ và tổ Văn – Thể.
Với tổng số lượng cán bộ và giáo viên là 46 người. Trong đó nhân viên
hành chính là 10 người: 05 nhân viên biên chế, 03 nhân viên hợp đồng đóng
bảo hiểm, 02 nhân viên hợp đồng không có bảo hiểm; Giáo viên trong trường
là 36 người đều đã được biên chế với trình độ cao đẳng, đại học trở lên.
Tổng số học sinh hàng năm của trường dao động từ 620 đến 700 học
sinh của 4 khối lớp, trung bình mỗi khối lớp có gần 200 học sinh.
14
1.2.2. Khái quát về Thƣ viện trƣờng Trung học cơ sở Phƣơng Liệt
Chức năng
Thư viện trường THCS Phương Liệt là một bộ phận cơ sở vật chất
trọng yếu, là trung tâm sinh hoạt văn hoá và khoa học của nhà trường. Góp
phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh. Bồi
dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên và
nhân viên trong nhà trường. Xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu, khả
năng tìm tòi và sáng tạo cho học sinh. Từ đó từng bước thay đổi phương pháp
dạy và học theo hướng gợi mở, thúc đẩy sự chủ động và tích cực trong việc
tiếp thu kiến thức của học sinh, tạo không khí sôi nổi trong các giờ học.
Ngoài ra, thư viện còn là nơi bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về
5. Tổ chức quản lý theo đúng nghiệp vụ thư viện, có sổ sách quản lý
chặt chẽ, bảo quản, giữ gìn sách báo tránh hư hỏng, mất mát; thường xuyên
thanh lọc sách báo cũ, rách nát, lạc hậu, kịp thời bổ sung các loại sách, tài
liệu, tư liệu mới; sử dụng và quản lý chặt chẽ kinh phí thư viện thu được theo
đúng mục đích; có kế hoạch chủ động đón đầu tiếp thu sự phát triển của mạng
lưới thông tin – thư viện điện tử, từng bước đưa các trang thiết bị hiện đại
phục vụ công tác quản lý thư viện, phục vụ bạn đọc.
1.2.3. Vai trò của Thƣ viện với việc nâng cao chất lƣợng giáo dục
của nhà trƣờng
Thư viện nhà trường không chỉ là một bộ phận cơ sở vật chất trọng yếu,
một trung tâm sinh hoạt văn hoá và khoa học của nhà trường mà còn là nơi
chứa đựng rất nhiều tài liệu về các lĩnh vực giáo dục của trường, góp phần
nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác giảng dạy và học tập của giáo viên
và học sinh. Hơn thế nữa, thư viện còn góp phần tích cực vào việc xây dựng
16
những kiến thức cơ bản về khoa học thư viện, hình thành thói quen tự học, tự
tìm tòi, sáng tạo cho các em học sinh. Từ đó giúp các em dần chủ động hơn
trong quá trình học tập trên lớp, thích ứng với phương pháp dạy học mới
mang tính gợi mở đang được khuyến khích trong trường THCS Phương Liệt
nói riêng và hệ thống trường phổ thông nói chung.
Để giúp cho thư viện phát huy một cách có hiệu quả vai trò của mình,
đồng thời đáp ứng được nhu cầu đào tạo của nhà trường thì công tác tổ chức
và hoạt động một cách hợp lý, khoa học là điều rất quan trọng.
1.2.4. Đặc điểm ngƣời dùng tin và nhu cầu tin
1.2.4.1. Đặc điểm người dùng tin
Hiện nay, đối tượng dùng tin của thư viện trường THCS Phương Liệt
bao gồm hai nhóm người dùng tin chính: Nhóm người dùng tin là giáo viên
và nhóm người dùng tin là học sinh. Ngoài ra, thư viện trường THCS Phương
Liệt còn phục vụ cho nhóm đối tượng là các nhân viên khác trong nhà trường.
93.1%
5.4%
Nhóm giáo viên
Nhóm học sinh
Nhóm khác
Đối tượng người dùng tin ở thư viện trường THCS Phương Liệt
Do đặc thù của thư viện trường học, nhóm đối tượng dùng tin ít và khá
chuyên biệt nên việc nâng cao chất lượng phục vụ đòi hỏi cán bộ thư viện
phải nắm vững nhu cầu tin và hứng thú đọc của từng nhóm, từ đó xác định
nhóm người dùng tin chủ yếu để lập kế hoạch cụ thể nhằm đáp ứng một cách
đầy đủ, đúng và trúng để khuyến khích sự phát triển của từng đối tượng người
dùng tin trong thư viện.
Đối với nhóm đối tượng là các nhân viên khác trong nhà trường, nhu
cầu tin chủ yếu mang tính giải trí, là nhóm đối tượng khá dễ tính trong công
tác phục vụ. Loại hình tài liệu mà họ hướng tới trong phạm vi hẹp, như: báo,
tạp chí, truyện ngắn và thường là sử dụng chúng trong thời gian rảnh rỗi tại
trường. Đôi khi họ cũng có thể tìm đến một số tài liệu về công việc mà họ
đang phụ trách như: các loại tài liệu về công tác y tế học đường (nhân viên y
tế), công tác thư viện trong trường học (nhân viên thư viện)… nhằm giúp họ nâng
cao kiến thức, củng cố chuyên môn, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
1.2.4.2. Đặc điểm nhu cầu tin
Nhu cầu tin là những đòi hỏi khách quan về thông tin của các cá nhân,
tập thể hay nhóm xã hội nhằm đảm bảo các hoạt động nhận thức và thực tiễn
18
xã hội. Các hoạt động thông tin của cá nhân, nhóm tập thể đều phát sinh từ
nhu cầu tin và nhằm thoả mãn nhu cầu tin của các đối tượng đó.
Trong thời kỳ đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của toàn xã hội có
xu hướng tốt hơn, trong đó có CB, GV của Trường THCS Phương Liệt. Đời
cho học sinh, đồng thời gợi mở các phương pháp giảng dạy mới theo hướng
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học.
Ngoài ra, thời gian rảnh rỗi họ cũng quan tâm tới các loại tài liệu khác có
trong thư viện góp phần làm giàu vốn sống xã hội, phát huy lối sống lành
mạnh cũng như hiểu thêm tâm lý của học sinh thông qua việc tìm hiểu những
tài liệu giải trí của các em như: truyện tranh, truyện dành cho tuổi mới lớn. Từ
đó giúp họ thêm hiểu, gần gũi và động viên kịp thời cho các học sinh của
mình, giúp các em có lối sống lành mạnh và tự tin.
Bên cạnh đó, đối với những giáo viên làm công tác quản lý, họ có nhu
cầu cao về các tài liệu cung cấp nội dung về chủ trương, chính sách, đường
lối, hướng dẫn thực hiện các quyết định… của ngành, Đảng và Nhà nước về
công tác giáo dục đào tạo cũng như các chủ trương, chính sách phát triển xã
hội khác. Vì vậy, thư viện đã có một bộ phận tài liệu riêng để phục vụ nhu cầu
này của họ, giúp hỗ trợ họ trong việc ra các quyết định liên quan trực tiếp tới
việc duy trì và phát triển hoạt động giáo dục trong nhà trường.
Nhóm đối tượng có số lượng đông đảo và là đối tượng phục vụ chủ yếu
của thư viện chính là học sinh trong nhà trường. Nhóm người dùng tin này
chiếm tới 93,1% tổng số người dùng tin trong thư viện, vì vậy việc đáp ứng
nhu cầu tin cho nhóm người dùng tin này được đặt lên hàng đầu và là nhiệm
vụ chủ yếu của thư viện. Nhu cầu tin của nhóm đối tượng này rất phong phú,
đa dạng và luôn luôn có sự biến động trong các yêu cầu tin.
20
Về mặt tâm lý, học sinh cấp 2 đang bước vào giai đoạn dậy thì. Các em
có rất nhiều sự thay đổi về tâm sinh lý cũng như trong suy nghĩ và hành động.
Đến với thư viện, các em không chỉ chăm chăm vào việc đọc các loại sách
giáo khoa, sách tham khảo phục vụ cho các môn học đôi khi cảm thấy khô
khan và nhàm chán. Đối với các em, thư viện là nơi khá thú vị và hấp dẫn cho
việc tìm tòi và khám phá bản thân. Ở lứa tuổi này các em đã quan tâm tới
nhân cách, có xu hướng bộc lộ phẩm chất và hành động, khát khao tìm hiểu
16
64.0%
74
37.0%
Sách pháp luật
1
4.0%
7
3.5%
Sách tham khảo
19
76.0%
66
33.0%
Sách khoa học kỹ thuật
1
4.0%
20
10.0%
Sách văn học nghệ thuật
6
24.0%
28
14.0%
Sách chuyên môn
17
68.0%
0
0
Khác
dụng nhiều loại hình tài liệu khác nhau, từ tài liệu truyền thống như các tài
liệu in ấn, các loại tài liệu hiện đại: băng, đĩa, phim đến các loại tài liệu là
tranh ảnh, bản đồ. Mặc dù nhóm tài liệu hiện đại được người dùng tin nhận
xét rằng thông tin cung cấp có thể dễ dàng và nhanh chóng được tiếp thu hơn,
hấp dẫn hơn… Tuy nhiên, khả năng đáp ứng các loại tài liệu này ở thư viện
nhà trường còn rất hạn chế do hạn hẹp về kinh phí dẫn đến việc đầu tư cho
loại hình tài liệu này khá ít.
Thư viện trường THCS Phương Liệt được thành lập nhằm phục vụ cho
quá trình giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh trong toàn trường để
không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục. Bên cạnh đó, thư viện còn là nơi
tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng thế
giới quan khoa học, nếp sống lành mạnh, văn minh cho giáo viên, học sinh và
nhân viên trong nhà trường. Thúc đẩy sự phát triển của nhu cầu tin chính là
thúc đẩy cho sự phát triển của thư viện nhà trường. Chính vì vậy, thư viện cần
phải thường xuyên lên kế hoạch cho việc thăm dò nhu cầu tin của người dùng
tin để có kế hoạch bổ sung các loại hình tài liệu sát với nhu cầu tin của người
dùng tin một cách nhanh nhất, đầy đủ nhất, từ đó tạo hứng thú cho người
dùng tin đến với thư viện nhằm làm cho thư viện ngày càng phát triển.
23
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THƢ VIỆN
TẠI TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ PHƢƠNG LIỆT
2.1. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THƢ VIỆN
2.1.1. Cơ cấu tổ chức
Việc tổ chức, sắp xếp công tác trong thư viện là để nhằm mục đích hợp
nhiều thư viện đạt chuẩn theo Quyết định số 01/2003/QĐ/BGD&ĐT ngày 02
tháng 01 năm 2003 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành quy định
tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông.
Ngoài ra, trong Quyết định 61 cũng có quy định: mỗi trường vào đầu
năm học phải thành lập một tổ công tác thư viện do Hiệu trưởng hoặc Phó
Hiệu trưởng trực tiếp làm tổ trưởng (số lượng do mỗi trường quy định) gồm có:
Giáo viên phụ trách công tác thư viện làm tổ phó.
Các tổ trưởng hoặc khối trưởng chuyên môn, một số giáo viên chủ
nhiệm lớp.
Đại diện của các tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Đội thiếu niên.
Đại diện của Hội cha mẹ học sinh theo các khối lớp.
Một số học sinh có khả năng hoạt động thư viện do giáo viên chủ
nhiệm lớp giới thiệu.
Tổ công tác thư viện có nhiệm vụ tổ chức, phân công cho mỗi tổ viên
chủ động thực hiện những nhiệm vụ của thư viện như sau:
Các thành viên trong tổ là mạng lưới phát hiện sưu tầm những sách
báo, tư liệu mới, tổ chức giới thiệu, hướng dẫn phục vụ các nhu cầu dạy học
theo mục tiêu đào tạo, nâng cao dân trí theo kế hoạch của tổ.
25
Vận động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ xây dựng
thư viện.
Cùng bàn bạc công khai sử dụng hợp lý các nguồn thu ngoài ngân
sách nhà nước do thư viện tự khai thác, tiền đền bù sách báo hư mất, tiền
thanh lý… vừa để trả thù lao hoạt động ngoài giờ, vừa bổ sung nguồn lực
phát triển thư viện.
Các tổ trưởng (khối trưởng) chuyên môn chỉ đạo tổ tham gia công tác
thư viện, có kế hoạch về sách, giới thiệu sách, tổ chức sưu tầm các bài báo
xây dựng kho tư liệu, hướng dẫn học sinh đọc sách.
Các giáo viên chủ nhiệm lớp chỉ đạo về các mặt phân phối, thu hồi,