BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH & CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
LÊ TIẾN ĐẠI
NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁN BỘ QUẢN LÝ
TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC ĐỨC TRỌNG – LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành
: Quản trị kinh doanh
Mã số
: 60.34.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS. ĐINH VĂN TIẾN
1
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Cam đoan của tác giả đề tài “Nâng cao năng lực cán bộ quản lý tại Kho
bạc Nhà nước Đức Trọng – Lâm Đồng”.
“Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học do tác giả nghiên cứu các
tài liệu, thu thập các thông tin và quan sát, nghiên cứu thực trạng về năng lực
KBNN
Kho bạc nhà nước
NSNN
Ngân sách nhà nước
CS
Chính sách
QĐ
Quyết định
PGĐ
Phó Giám đốc
TP
Thành phố
TCCB
Tổ chức cán bộ
CB
Trọng luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Để phát huy tốt vai trò của Kho bạc Nhà nước Đức Trọng nói chung và
nâng cao một bước về chất lượng đội ngũ cán bộ cơ quan Kho bạc Nhà nước
Đức Trọng nói riêng trong thời gian tới, trước những cơ hội và thách thức của
tiến trình hội nhập và mở cửa, thì điều đầu tiên phải nói đến đó là sự tác động
mạnh mẽ đến nguồn nhân lực của cơ quan Kho bạc Nhà nước Đức Trọng: sự
thiếu hụt năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ chuyên gia giỏi đầu
6
ngành, lĩnh vực, đội ngũ cán bộ quản lý chưa quen với môi trường hội nhập.
Với những hạn chế về nguồn nhân lực như vậy sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả của tổ
chức trong tương lai. Vấn đề đặt ra là cần phải có những nghiên cứu, đánh giá
được năng lực hiện tại của cán bộ quản lý Kho bạc Nhà nước Đức Trọng, từ đó
đề ra giải pháp nâng cao năng lực của cán bộ quản lý Kho bạc Nhà nước huyện
Đức Trọng trong thời gian tới.
Với lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề “Nâng cao năng lực cho cán bộ quản
lý tại Kho bạc Nhà nước Đức Trọng – Lâm Đồng” là đề tài nghiên cứu trong
luận văn này.
2.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của đề tài là phân tích và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về năng lực của cán bộ quản lý và xác định vị trí, vai trò của cán bộ quản lý
trong sự nghiệp đổi mới, phân tích và đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý
tại Kho bạc Nhà nước Đức Trọng. Từ đó, đề xuất phương hướng, giải pháp
nhằm góp phần nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý tại Kho bạc Nhà
nước Đức Trọng.
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ của luận văn là:
4. Phương pháp nghiên cứu.
a. Xây dựng bảng yêu cầu về năng lực của cán bộ quản lý Kho bạc
Nhà nước Đức Trọng
Nguồn dữ liệu thu thập: Dữ liệu thứ cấp về yêu cầu năng lực cho cán bộ
quản lý Kho bạc Nhà nước Đức Trọng: Bản mô tả công việc hiện tại, hệ thống
kiến thức, kỹ năng chung của chức danh, tài liệu đào tạo của cơ quan. Tham
khảo khung năng lực của cơ quan, đơn vị có cùng cơ cấu cán bộ.
Kết quả thu thập dữ liệu: Bảng danh sách các năng lực cần thiết đối với
cán bộ quản lý .
b. Đánh giá năng lực hiện tại của đội ngũ cán bộ quản lý Kho bạc
Nhà nước Đức Trọng
Nguồn dữ liệu thu thập: Dữ liệu sơ cấp về năng lực hiện tại của cán bộ
quản lý Kho bạc Nhà nước Đức Trọng.
Đối tượng điều tra: cán bộ quản lý tại Kho bạc nhà nước Đức Trọng.
Phương pháp điều tra: Bảng hỏi
Đối tượng được hỏi: Cán bộ quản lý và cán bộ công chức tại Kho bạc Nhà
nước Đức Trọng
Nội dung phỏng vấn:
- Đánh giá trình độ kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc của cán bộ quản
lý Kho bạc Nhà nước Đức Trọng theo các tiêu chí được liệt kê trong bảng hỏi.
Kết quả điều tra: Khoảng cách giữa năng lực yêu cầu và năng lực hiện tại
của đội ngũ cán bộ quản lý tại Kho bạc Nhà nước Đức Trọng.
8
c. Giải pháp nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý Kho bạc Nhà nước
Đức Trọng
Phương pháp: Dựa trên kết quả phân tích, đánh giá của hai phần trên,
luận văn sẽ kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực của cán bộ quản
Tại Pháp, quan niệm về cán bộ công chức đầu tiên được xác định bằng “lệ
quan”, song trong đó khái niệm cán bộ công chức cũng chưa thật sự rõ ràng, đến
năm 1984 bằng việc ra đời bộ luật mới: “Luật địa vị nói chung của công chức”
Thì nội hàm từ cán bộ công chức cũng như địa vị, quyền và nghĩa vụ công chức
mới được xác định rõ ràng hơn. Theo luật nay, cán bộ công chức của Pháp bao
gồm toàn bộ những người được nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ (công xã,
tỉnh, lĩnh vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một công sử Nhà
nước hoặc một công sử tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào một
ngạch của nền hành chính công. Công chức được gọi chung là nhân viên công
chức bao
gồm: nhân viên làm việc trong Bộ máy Hành chính Nhà nước, các Quan toà,
nhân viên sự nghiệp quốc doanh, nhân viên đơn vị quân sự và nhân viên làm
việc trong Quốc hội. Nhưng không phải tất cả nhân viên công chức đều chịu sự
điều chỉnh bởi luật công chức, mà chỉ có nhân viên giữ các chức vụ thường
xuyên trong Bộ máy Hành Chính Nhà nước, còn lại các nhân viên được điều
chỉnh bằng luật lao động, Luật hợp đồng họ được bảo vệ về mặt chức nghiệp.
Tại Anh, năm 1895 thuật ngữ “công chức” là những người do Vua Anh
trực tiếp bổ nhiệm hoặc được Uỷ ban dân sự cấp giấy chứng nhận hợp lệ cho
10
phép tham gia công tác của cơ quan dân sự và những người mà toàn bộ tiền
lương được hưởng từ ngân sách thống nhất của Vương quốc liên hợp hoặc và
các khoản khác được Nghị viện thông qua. Đến năm 1977, quan niệm công chức
được giải thích rõ hơn đó là những người thay mặt Nhà nước giải quyết công
việc công. Những người không có được vị trí trong Bộ máy Nhà nước được
pháp luật quy định thì không phải là công chức, Ví du: nhân viên Chính trị, nhân
viên Tư pháp….
Tại Trung Quốc cán bộ dùng chung để chỉ những nhân viên, công chức để
phân biệt với nhân viên tập sự, bình linh, công nhân; còn một nghĩa nữa là
bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức
danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau
đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà
nước.
Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm
kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành
viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Việc quản lý cán bộ phải thực hiện theo các văn bản pháp luật chuyên ngành
tương ứng điều chỉnh hoặc theo Điều lệ. Do đó, căn cứ vào các tiêu chí do Luật
Cán bộ, công chức quy định, những ai là cán bộ trong cơ quan của Đảng, tổ
chức chính trị - xã hội sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Đảng căn cứ
Điều lệ của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể. Những ai là cán
bộ trong cơ quan Nhà nước sẽ được xác định theo quy định của Luật Tổ chức
Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Toà án nhân dân, Luật Tổ
chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân, Luật Kiểm toán Nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
1.1.2 Khái niệm cán bộ quản lý
Trước khi nghiên cứu khái niệm cán bộ quản lý chúng ta hãy phân định sự
giống nhau và khác nhau giữa cụm từ “lãnh đạo” và “quản lý” và mỗi quan hệ
giữa chúng .Về cơ bản lãnh đạo là khái niệm rộng hơn quản lý, quản lý được coi
12
là một loại lãnh đạo đặc biệt, trong đó chú trọng đến hoạt động tổ chức, điều
hành, sử dụng các phương tiện và nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu của tổ
chức.
Theo giáo trình Quản trị nguồn nhân lực của PGS.TS Trần Kim Dung
(2003) thì “Lãnh đạo” là khả năng ảnh hưởng, thu hút và tập hợp những người
đạo phải bằng cách thuyết phục và nêu gương như Đảng chỉ rõ. Vì vậy trong
quản lý, sự tác động mang tính điều khiển vận hành thông qua những thiết chế
mang tính pháp lệnh. Do đó mệnh lệnh hành chính là phương pháp đặc trưng
của quản lý. Sự phân biệt giữa “Quản lý và Lãnh đạo” ở đây cũng chỉ là tương
đối không mang tính máy móc, nhưng lại có quan hệ mật thiết và tác động lẫn
nhau trong từng đối tượng tác động và từng nội dung tác động của nó. Do đó
cũng không khác gì một giám đốc làm kinh doanh một xí nghiệp nào đó vừa là
nhà quản lý giỏi đồng thời là nhà lãnh đạo có uý tín. Cho nên lãnh đạo và quản
lý là hai lĩnh vực khác nhau nhưng không hoàn toàn tách biệt, mà lại gắn bó mật
thiết với nhau, thống nhất chặt chẽ trong hoạt động của những người có chức vụ
trong hệ thống tổ chức xã hội. Đó chính là cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Theo cách hiểu thông thường và được phổ biến hiện nay khái niệm cán bộ
lãnh đạo còn gắn liền với khái niệm cán bộ quản lý được hiểu là những người có
chức vụ và trách nhiệm điều hành, cầm đầu trong các cơ quan, các tổ chức sự
nghiệp, kinh doanh như giám đốc, vụ trưởng, viện trưởng. Nội hàm khái niệm
cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý đều là chủ thể ra quyết định, điều khiển hoạt
động của một tổ chức, người cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện chức năng
quản lý và một người bộ quản lý cũng phải thực hiện chức năng lãnh đạo.
Cán bộ quản lý là những người điều hành, nhà quản lý là những người có
chức và nhiệm vụ điều khiển, tổ chức và phối hợp thực hiện hoạt động chuyên
môn trong một khâu, một công đến, một chương trình dự án.
Trong khái niệm cán bộ lãnh đạo ở tầm vĩ mô, họ là những người đứng
đầu tổ chức, quốc gia. Thế giới hiện đại gọi là nhóm lãnh đạo chính trị quốc gia,
hay còn gọi là cán bộ lãnh đạo cao cấp, chủ chốt. Nhìn lại lịch sử ở bất kỳ thời
đại nào cũng thấy sự thể hiện vai trò quyết định vận mệnh quốc gia, dân tộc theo
hai hướng: Khi tích cực, vai trò ấy là sự định hướng đúng, thúc đẩy xã hội tiến
14
bộ, dân tộc có cuộc sống văn minh, huy động và quy tụ được tài đức xã hội để
đốc, Trưởng phòng – Tổ trưởng, Phó phòng – Tổ phó, Kế toán trưởng, Giám đốc
Kho Bạc, Phó Giám đốc Kho bạc tại Kho bạc Nhà nước các quận, huyện, thị xã
trực thuộc.
1.1.3. Kho bạc Nhà nước
1.1.3.1.Khái niệm
Theo Trần Vũ Hải và Hoàng Minh Thái (2013), Kho bạc Nhà nước (State
Treasury) đã có từ lâu. Thuật ngữ “Treasury” theo nguồn gốc La tinh có nghĩa là
“vật quý” hay “kho báu”. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, những
vật quý tìm được ngày một nhiều hơn, dần dần được tập trung vào tay những
người có thế lực, hình thành các kho cất giữ châu báu. Khi các bộ tộc xuất hiện,
kho báu chính là nơi cất giữ tập trung các tài sản quý của cộng đồng bộ tộc.
Cùng với sự ra đời của Nhà nước cổ đại, bộ máy quản lý tài sản của Nhà
nước cũng được hình thành, theo đó, xuất hiện các tổ chức chuyên quản lý các
loại tài sản quý của Nhà nước và các khoản thu nhập công (tô, thuế). Tổ chức
này dần dần hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy để trở thành
Ngân khố quốc gia hay Kho bạc Nhà nước sau này.
Dưới chế độ quân chủ, các vua chúa thường chọn những người ruột thịt,
thân tín cho làm quan coi giữ các kho châu báu, tiền bạc, vũ khí để củng cố sức
mạnh của Nhà nước và quân đội. Trong thế giới tư bản, cùng với sự phát triển về
kinh tế - tài chính, bộ máy Kho bạc Nhà nước trở thành một loại công sở đặc
biệt, với chức năng chủ yếu là quản lý các khoản thu chi của ngân sách Nhà
nước; các loại tài sản quý hiếm; các nguồn dự trữ tài chính - tiền tệ của Nhà
nước.
Ngày nay, mặc dù còn có nhiều khác biệt về lịch sử và kinh tế, song hầu
hết các nước đều có cơ quan Kho bạc Nhà nước. Ở các nước phát triển, bộ máy
Kho bạc Nhà nước được thành lập khá sớm và hoàn chỉnh như Vương quốc Anh
và Hoa Kỳ - năm 1789-1790; Pháp – năm 1800; Canada – năm 1867.
16
17
- Khi phát hiện đơn vị, tổ chức thụ hưởng ngân sách nhà nước vi phạm
chế độ quản lý tài chính nhà nước, Kho bạc Nhà nước được tạm thời đình chỉ
việc chi trả, thanh toán và báo cáo với cấp có thẩm quyền để xử lý.
- Tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra trong hệ thống Kho bạc Nhà nước.
- Tổ chức quản lý hệ thống thông tin, tin học trong toàn hệ thống Kho bạc
Nhà nước.
- Quản lý công chức, viên chức, vốn và tài sản thuộc hệ thống Kho bạc
Nhà nước.
b. Tổ chức bộ máy
- Kho bạc Nhà nước được tổ chức như một Bộ trực thuộc Chính phủ. Mô
hình này phổ biến ở Mỹ, Anh, Canada, Úc... Ngoài nhiệm vụ chính là lập cân
đối thu chi tiền tệ, phát hành tiền, quản lý nợ quốc gia và các loại tài sản quý
hiếm, Kho bạc một số nước còn làm nhiệm vụ quản lý biên chế công chức Nhà
nước.
- Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính (hoặc Bộ Kinh tế-Tài chính)
gồm phần lớn các nước ở Tây Âu và Trung Âu, điển hình là Pháp, Ðức, Ý... và
các nước ở Ðông Nam á như Indonexia, Malaysia, Thái Lan,Việt Nam...Kho bạc
Nhà nước còn có tên gọi khác như Vụ quản lý tài chính công, Vụ Kế toán công,
trong đó có các nghiệp vụ quản lý quỹ ngân sách Nhà nước, kế toán và quyết
toán ngân sách Nhà nước, quản lý nợ công...
- Kho bạc Nhà nước trực thuộc Ngân hàng Trung ương như ở Nga, Trung
Quốc, các nước Ðông Âu và Châu Phi. Trong bộ máy của Ngân hàng trung ương
có một đơn vị làm nhiệm vụ quản lý quỹ ngân sách Nhà nước, đặc trách theo dõi
và giúp Bộ Tài chính quản lý các khoản thu chi ngân sách Nhà nước, phối hợp
với Vụ Ngân sách Nhà nước của Bộ Tài chính làm nhiệm vụ kế toán và quyết
toán ngân sách Nhà nước.
- Kho bạc Nhà nước trực thuộc một Bộ của Chính phủ. Ðây là một mô
quản lý tài chính - NSNN trên địa bàn tỉnh.
Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của KBNN cấp huyện (Quyết
định số 695/QĐ-KBNN của Kho bạc Nhà nước ban hành ngày 16/07/2015)
19
. Vị trí và chức năng
Kho bạc Nhà nước ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung
là Kho bạc Nhà nước cấp huyện) là tổ chức trực thuộc Kho bạc Nhà nước ở tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh) có
chức năng thực hiện nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước trên địa bàn theo quy định
của pháp luật.Kho bạc Nhà nước cấp huyện có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con
dấu riêng và được mở tài khoản tại ngân hàng thương mại trên địa bàn để thực
hiện giao dịch, thanh toán theo quy định của pháp luật.
. Nhiệm vụ
1. Tổ chức thực hiện thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật, chiến
lược, quy hoạch, chương trình, dự án, đề án thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc
Nhà nước cấp huyện sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
2. Quản lý quỹ ngân sách Nhà nước và các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch
thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quy định của pháp luật:
a) Tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu ngân sách Nhà
nước; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ ngân sách Nhà nước các khoản
tiền do các tổ chức và cá nhân nộp tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện; thực hiện
điều tiết các khoản thu cho các cấp ngân sách theo quy định;
b) Thực hiện kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi ngân sách Nhà
nước và các nguồn vốn khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật;
c) Quản lý tiền, tài sản, ấn chỉ đặc biệt, các loại chứng chỉ có giá của Nhà
nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện.
3. Thực hiện giao dịch thu, chi tiền mặt và các biện pháp bảo đảm an toàn
kho, quỹ tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện.
cáo tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện theo quy định.
9. Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện.
10. Quản lý đội ngũ công chức, lao động hợp đồng; thực hiện công tác
văn thư, lưu trữ, hành chính, quản trị, tài vụ tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện
theo quy định.
11. Tổ chức thực hiện chương trình hiện đại hoá hoạt động Kho bạc Nhà
nước; thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính theo mục tiêu nâng cao chất
lượng hoạt động, công khai hóa thủ tục, cải tiến quy trình nghiệp vụ và cung cấp
thông tin để tạo thuận lợi phục vụ khách hàng.
12. Quản lý các điểm giao dịch thuộc Kho bạc Nhà nước cấp huyện theo
quy định.
13. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Kho bạc Nhà nước cấp
tỉnh giao.
. Quyền hạn
Kho bạc Nhà nước cấp huyện có quyền:
1. Trích tài khoản tiền gửi của tổ chức, cá nhân để nộp ngân sách nhà
nước hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho ngân sách nhà
nước theo quy định của pháp luật.
2. Được từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đúng, không đủ
các điều kiện theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về quyết định của
mình.
. Cơ cấu tổ chức
22
1. Kho bạc Nhà nước cấp huyện tổ chức thành 2 tổ: Tổ Tổng hợp – Hành
chính và Tổ Kế toán nhà nước.
Kho bạc Nhà nước quận đóng trên địa bàn thành phố trực thuộc Trung
quản lý.
Giáo sư Henry Minzberg một nhà tư vấn nổi tiếng của nước Mỹ trong lĩnh
vực quản lý, từ cuối những năm của thập kỷ 60 đã đưa ra một cách nhìn thực
tiễn, cụ thể về vai trò của người quản lý trong tổ chức. Theo ông, người quản lý
cần thể hiện được 10 vai trò chủ yếu và được nhóm thành 3 nhóm thể hiện trong
hình 1.1.
24
Hình 1.1 Vai trò của cán bộ quản lý trong cơ quan, tổ chức
Thẩm quyền và vị trí chính
Vai trò quan hệ:
Vai trò đại diện
Vai trò lãnh đạo
Vai trò liên hệ
Vai trò thông tin: Vai trò ra quyết định:
- Vai trò phát hiện và phát triển ý tưởng
Vai trò theo dõi
- Vai trò thông báo - Vai trò giải quyết mâu thuẫn
- Vai trò phân bổ nguồn lực
Vai trò người phát ngôn
- Vai trò đàm phán
Nhóm vai trò quan hệ:
Vai trò đại diện
Người quản lý có vai trò đại diện cho tổ chức, nhà quản lý phải thực hiện
một số công việc có tính chất lễ nghi. Chẳng hạn, người quản lý phải chào đón