phßng gi¸o dôc VÀ ĐÀO TẠO ĐIỆN BÀN
trêng thcs PHAN THÚC DUYỆN
~~~~~~~~o0o~~~~~~~~§Ò tµi :
Con ngêi Thuý V©n
Ng êi thùc hiÖn :
Häc sinh líp : 9
N¨m häc :
Con người Thuý Vân
A.TÁC GIẢ VÀ VĂN NGHIỆP
Nguyễn Du : tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quê Tiên Điền, Nghi
Xuân - Hà Tĩnh, từng sống nhiều ở Thăng Long và Thái Bình.
Xuất thân trong gia đình quí tộc Nguyễn Du được chăm chút cẩn thận từ
thuở nhỏ, theo học cả thi thư, cung kiếm và đàn hát. Khi lớn lên gặp lúc đất nước
xảy ra nhiều biến động. Tâm trạng ông vừa ngơ ngác vừa bị phẫn của một người
"Chưa hiểu hết thời thế" lại thêm tư tưởng trung quân ràn buộc. Từ cuộc sống vốn
có nhiều trái ngược. Tư tưởng ông chứa đựng tinh thần nhân đạo sâu sắc và tài
năng cao cả khi đã khái quát lên được hiện thực của cuộc đời. Bao năm ăn gió
nằm sương, lại ảnh hưởng chất văn tài của cha, điệu hát dân ca của mẹ. Ông đã
tạo nên được một kiệt tác "Đoạn trường tân thanh". Đoạn trường đã hiện lên đủ
thịt, đủ xương của muôn vàn đau khổ. Tiếng cười bỗng nhiên lạnh lẽo, giọt nước
mắt bỗng nhiên long lanh.
Thành kính cảm tạ Tố Như, thiên tài lỗi lạc đã thoát ra khỏi những lũy
Nói là duyên kiếp cũng không đúng, mà nói là không duyên kiếp cũng
chẳng sai. Vân " tội" hơn Kiều vì chỉ được Nguyễn Du coi, xem xét là chủ thể
khách quan. Chủ thể ấy đôi khi cũng từng mang dấu ấn một thời " hoạ sĩ". Hoạ sĩ
dùng tâm để vẽ, dùng tự sự tô đậm nghệ thuật, dùng tình để rung cảm người xem.
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết, còn trăng trên khuôn mặt Thuý Vân
lại đong đầy tròn vành vạnh sáng soi " Nét ngài nở nang", lông mày của Vân hình
như hơi đậm hơn, cong hơn, đường nét sắc sảo hơn. Đôi lông mày ấy mà Vương
Trọng (nhà thơ xứ Nghệ) cho rằng tác giả Nguyễn Du mượn cách nói quê hương
để tả người. "Tốt con ngài hơn dài quần áo". Lông mày Vân hiện cả một sức sống
tinh tú cao sang. Khuôn mặt ấy, cặp lông mày ấy càng được tô đẹp thêm nữa bởi ?
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Câu thơ thật hàm súc. Miêu tả vẻ đẹp con người Vân, vẻ đẹp có nét hình,
có màu sắc, có âm thanh, có tiếng cười, giọng nói. Người ta nói rằng thơ là hoạ, là
nhạc, là đời quả thật không sai. Miệng Vân luôn cười. Nụ cười không gượng ép
cũng chẳng thầm mỉa mai. Nụ cười vô tư " tươi roi rói như hoa mùa xuân nở rộ
phô hương sắc". Đó là nét kiều diễm, là báu vật tinh khôi của đất trời. Còn lời ăn
tiếng nói, trò chuyện với Vân là cảm nhận cả một thế giới thanh thản, dịu dàng "
thốt" một động từ đặc tả với thanh sắc chắn ngang cả dòng nước đang êm ả chảy.
Nói đến Nguyễn Du là nói đến một nghệ nhân kim hoàn tinh xảo điêu luyện bởi
cách chọn từ và đúng chỗ trong câu thơ để tạo một sản phẩm có vẻ đẹp hoàn hảo,
sắc sảo lạ thường. " Hoa cười ngọc thốt đoan trang", Vân không lộ vẻ vô duyên, "
Cười cười, nói nói " nàng trầm tính nhận biết nên nói lúc nào và nói ra sao. Tục
ngữ ta có câu " Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe". Hình như thiên
tài Nguyễn Du đã " còn nhớ vun xén" vào đây một chút tình dân quê. Trở lại vấn
đề ta thấy Vân đẹp đến nỗi " Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da". Câu thơ
đọc lên dịu mát cả lòng người. Tóc Vân xanh và mềm mại hơn mây. Da Vân mịn
màn và trắng hơn tuyết. Vẻ đẹp tinh khôi mà thiên nhiên chỉ biết " thua", biết "
cũng thấy như Vương Quan hờ hững đến vô tình. Cho đến khi gia đình tan biến
nàng cũng êm đềm " say một giấc xuân". Rồi lúc sum họp nàng " thản nhiên " kết
lại duyên xưa. Nàng thấy, nàng không thấy, điều đó không có gì khác. Có khác là
tiếc cho cô gái đoan trang phúc hậu, con nhà nho giáo mà quá đổi vô tâm, vô tình.
Quên sao được nấm mồ hoang lạnh chôn đắp một thời thiếu nữ xuân xanh.
Đó là nấm mồ Đạm Tiên : người con gái hồng nhan bạc mệnh. Nếu Thuý Kiều
nhỏ giọt nước mắt đầu tiên cho số kiếp truân chuyên thì Thuý Vân lại cảm thấy
khó chịu khi nhìn chị khóc :
Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa
Nếu ở địa vị Thuý Vân ta sẽ như thế nào ? Cười hay khóc ? "Khéo dư nước
mắt", cách nói của Vân ỡm ờ để lộ thái độ khó chịu " khéo" nếu Lê Thánh Tông
có một lần dùng từ này đánh bật gốc tính xấu của Trương Sinh, thì Nguyễn Du lại
lột tả được bản chất của Vân. Thuý Kiều khóc cho nỗi niềm xót xa của một kiếp
người. Còn Vân ? Vân đã tô đậm, đã đắp thêm sự " khinh miệt của người đời đối
với Đạm Tiên". Cô ấy là kĩ nữ, là vợ mọi nhà, là ma không chồng, có gì đáng
khóc. Cứ tưởng tượng, thẫn thờ với cách nói của Vân ! Dấu chấm than cuối câu
ngã dài, dài theo lối mách xé " khóc người xưa". "Đời xưa", "đời này" sao Vân
không nghĩ lại cho nước mắt Thuý Kiều. Đạm Tiên ngày ấy rồi ai ngày này ? Là
Kiều, là Vân. Vân không nghĩ đến, chỉ biết vẻ đẹp như bức truyền thần này sẽ
một đời bình lặng trong mái ấm gia đình. Mặc cho sự bất hạnh đau khổ của người
khác.
Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuân
Gia đình tan tóc nàng cũng vô tư. Nàng "chăn ấm, nệm êm" vui một giấc
xuân ấm nồng. Giấc xuân ấy là một chuổi đời chẳng lo lắng, chẳng muộn phiền.
Giấc xuân với mộng đẹp, sắc thắm tràn đầy hi vọng. Vân như thế, còn Kiều ?
Nỗi riêng riêng những bàng hoàng
Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thắm khăn.
Nghĩ, lo, khóc Thuý Kiều đau khổ suốt năm canh khăn thấm đầy máu và
nước mắt. Dầu chong đã cạn mà vẫn rối bời đắn đo. Kiều là thế ! Nàng có "đôi
mắt" nhìn sâu vào những cái mà Vân không nhìn thấy. " Đôi mắt với nhãn lực"
chưa một lần trào dâng. Vân khác Hoạn Thư :
Dòng máu ghen của Hoạn Thư đã thành nhà, thành gia pháp còn Thuý
Vân ? Chị biết cam chịu, phủ phục đáng thương nhưng không tránh được sự dễ
dàng đáng ghét. Vân có hiền quá không ? Suy nghĩ của Vân theo ý tình kẻ khác,
miễn ý tình ấy thuộc về lẽ phải thuộc về trật tự mà cuộc đời chấp nhận. Xã hội,
gia đình nàng thấy bình thường, không hề phản ứng. Vậy lời nói của nàng có phải
vô duyên, thô thiển quá hay không ? có đó là sự "tuân phục" của nàng khi chàng
Kim yêu nhớ Thuý Kiều ? Dẫu cử chỉ ấy có phần cao đẹp, cảm động nhưng chưa
làm ta mến yêu và gần gũi.
Nói là vậy, nhưng ai hãy nhìn lại tiết thanh minh chiều hôm ấy. Một buổi
chiều của tình duyên trời định.
Bóng chiều như giục cơn buồn
Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo.
Khung cảnh thiên nhiên nên thơ. Chiều đến giục giã " khách lên ngựa ,
người còn ghé theo". Hình ảnh " người" ở đây tác giả Nguyễn Du dùng rất huyền
ảo, ngay cả ta cũng không xác định được những tình cảm hai chị em Kiều. Đó
chính là điều kì diệu của " tiếng sét ái tình" trong buổi chiều thanh minh.
Và đối mặt với sự việc " trao duyên" của Kiều - Vân ta mới thấy Vân thật
đáng thương.
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Kiều đã đưa Vân vào tình thế khó xử. Vân chẳng kịp nói rằng, Kiều dang
dở, Kiều muốn đền đáp ơn tình chàng Kim nên nhờ Vân chắp nối, Vân ngẩn ngơ :
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị yêu lệ chảy đã đành
Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim
Như trước đã nói : Vân trong sáng nhưng mắc phải oan khiên. Đúng vậy !
Mặc dù Thuý Kiều mười lăm năm trắc trở, truân chuyên nhưng nàng vẫn có cái
may là được gặp, được hiểu và yêu Kim Trọng. Còn Vân ? Vân im lặng, chấp
nhận lấy kẻ chưa yêu ( Tuy rằng tiết thanh minh hôm ấy vẫn thoáng rung động
Gần năm thế kỷ đã đi qua, ngời đời vẫn tôn vinh Nguyễn Dữ là đại gia với
Truyền kì mạn lục là thiên cổ kì bút , không chỉ vì tác giả đã thổi vào văn chơng
hơi thở cuộc sống giàu chất đời mang âm hởng chất cổ tích một cách thần kì ;
mà có lẽ quan trọng hơn: bút lực của ông rất già dặn, vừa thông minh vừa tài hoa.
Hiện cha rõ cụ thể năm sinh và năm mất của Nguyễn Dữ, nhng theo các tài
liệu để lại, có thể đoán định ông sống vào nửa đầu thế kỷ XVI, là học trò giỏi của
Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chế độ phong kiến nhà Hậu Lê, sau
một thời gian phát triển rực rỡ cuối thế kỷ XV, đến thời điểm này đã bắt đầu lâm
vào tình trạng khủng hoảng, chính sự suy yếu này, các tập đoàn phong kiến Lê,
Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây nên loạn lạc liên miên.
Chán nản trớc thời cuộc, lại chịu ảnh hởng của thầy học, sau khi đỗ hơng
cống, Nguyễn Dữ chỉ làm quan có một năm rồi cáo về, sống ẩn dật ở vùng núi rừng
Thanh Hoá. Đó là cách phản kháng của nhiều trí thức tâm huyết đơng thời.
Chuyện ngời con gái Nam Xơng là truyện 16 trong số 20 truyện của truyền
kì mạn lục. Truyện có nguồn gốc từ một truyện dân gian trong kho tàng truyện cổ
tích Việt nam, đợc gọi là truyện Vợ chàng Trơng. Truyện thiên về những sự kiện
dẫn đến nỗi oan khuất của Vũ Nơng. Hiện nay , ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam vẫn
còn miếu thờ Vũ Nơng. Cái chết bi thảm của nàng đã từng làm rung động bao tâm
hồn thi sĩ, để lại nhiều bài thơ viếng Vũ Thị rất hay, nh bài thơ của Lê Thánh Tông.
Lại bài viếng Vũ Thị
Nghi ngút đầu nghềnh toả khói hơng,
Miếu ai nh miếu vợ chàng Trơng.
Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ,
Cung nớc chi lo luỵ đến nàng.
Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng.
Qua đây bàn bạc mà chơi vậy,
Khá trách chàng Trơng khéo phũ phàng.
(Trích Hồng Đức quốc âm thi tập- Lê Thánh Tông)
xuống.
ở đây, ta cũng nên có một chút cảm thông với Trơng Sinh. Ba năm của đời
lính đã làm chàng mệt mỏi chán chờng. Về đến nhà, lại cảnh bi thơng: Cha về, bà
đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi ! Nỗi buồn khổ tái tê đè nặng lên trái tim anh
lính Trơng Sinh. Nếu nh đối với Vũ Nơng, chỗ dựa để có thể tồn tại đợc là con và
chồng, thì đối với Trơng Sinh, chỗ dựa ấy lại là con và vợ. Thế mà, hình nh có một
ngời đàn ông nào đó không rõ lai lịch đã len lỏi vào gia đình chàng, đã chiếm mất
tình cảm cha con chàng: Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ? Ông lại biết nói, chứ
không nh cha tôi trớc kia chỉ nín thin thít . Đứa bé đã có hai ngời cha: một ngời
xuất hiện khi chàng vắng nhà, một ngời là chàng. Sự nghi ngờ vợ không có gì gỡ
ra đợc. Đứa bé không biết nói dối, nhất là đứa trẻ lên ba. Dân gian thờng dạy: đi
hỏi già, về nhà hỏi trẻ. Trẻ thì còn mà già đã mất. Chàng tin con mình. Mọi chi tiết
của đứa bé cung cấp đều chứng tỏ ngời đàn ông kia hành tung hết sức mờ ám, bí
hiểm: đêm nào cũng đến, chỉ nín thin thít, chẳng bao giờ bế Đản cả. Đã thế họ lại
xoắn xuýt bên nhau: mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi. Những bí ẩn về
ngời đàn ông đó nh những mủi dao xoáy vào tim chàng và khơi vào đúng chỗ yếu
nhất của chàng: đa nghi và cả ghen. Đã ghen, cần gì chứng cớ, huống chi nay đã
rành rành ra đấy. Cái ly kỳ trong vụ án nầy đã đẩy mâu thuẫn trong gia đình Trơng
Sinh lên đến cực điểm và châm ngòi cho quả bom ghen tuông bùng nổ. Tuy căng
thẳng nh vậy, song cái án ngoại tình nghi ngờ vợ thất tiết sẽ đợc giải quyết lập tức
chỉ cần một điều kiện cực kỳ đơn giản: Trơng Sinh cho biết, ai đã cung cấp nguồn
tin cho chàng. Nhng điều kiện đó nh thách thức thêm trái tim đang ghen tuông của
chàng. Chàng không nói ! Chàng không cần nói và không đủ can đảm nói. Cái định
kiến về vợ h đã đóng chặt trong đầu chàng rồi. Chàng không còn tỉnh táo để suy xét
lời con nói. Ngay cả những lời van xin đến rớm máu của vợ, chàng cũng chẳng
thèm để lọt tai. Cơn ghen ở anh lính nông dân không đợc học hành chỉ bùng lên ở
mức độ la um lên cho hả giận rồi ngấm ngầm dấm dứt lấy chuyện bóng gió nầy
nọ mà mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi. Vũ Nơng không thể chứng minh cho nỗi
oan của mình, họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng cũng chẳng ăn
thua. Và cuối cùng, nàng chỉ còn có thể lấy cái chết để giãi bày lòng mình: nàng
nguyện vọng của nhân dân. Cái tài của Nguyễn Dữ là ông đã dung hoà đợc hiện
thực với ớc mơ, cái tồn tại và cái ảo ảnh. Vũ Nơng trở về dơng thế, nhng chỉ hiện ra
ở giữa dòng mà nói vọng vào: Thiếp chẳng thể trở về nhân gian đợc nữ. ảo ảnh