Tư tưởng Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và cuộc vận động văn hóa đầu thế kỷ XX
TƯ TƯỞNG PHAN BỘI CHÂU, PHAN CHÂU TRINH VÀ CUỘC VẬN ĐỘNG VĂN HÓA ĐẦU
THẾ KỶ XX
Cuối thế kỷ XIX, phong trào Cần Vương chống Pháp thất bại. Toàn bộ đất nước ta bị đặt dưới
sự thống trị của thực dân Pháp. Chúng bắt đầu thực hiện kế hoạch “khai thác thuộc địa”. Xã
hội phong kiến Việt Nam đình trệ từ lâu, nay đã bị phá vỡ, chuyển thành một xã hội thuộc
địa nửa phong kiến. Quá trình chuyển biến này đã tạo ra một giai đoạn giao thời kéo dài
trong khoảng vài chục năm đầu thế kỷ XX.
Nhà nước “bảo hộ” thi hành nhiều chính sách thực dân nhằm biến nước ta thành một thị
trường tiêu thụ hàng hoá và bóc lột nhân công để thu về lợi nhuận cao nhất tư bản Pháp,
đồng thời vẫn kìm hãm xã hội Việt Nam trong tình trạng tối tăm của một nước nông nghiệp
lạc hậu để dễ bề thống trị.
Trên lĩnh vực văn hoá, thực dân Pháp đã thực hiện một chính sách văn hoá nô dịch, nhằm
làm cho nhân dân Việt Nam đoạn tuyệt với những giá trị truyền thống tốt đẹp, đồng thời
phục hồi những mặt lạc hậu, phản động trong văn hoá phong kiến. Chúng khuyến khích việc
truyền bá văn chương yêu đương uỷ mị, đưa văn hoá phương Tây, trước hết là văn hoá Pháp
vào nước ta để chống lại văn hoá truyền thống dân tộc. Cùng với việc hạn chế đi tới sự thủ
tiêu Nho học, thực dân Pháp đào tạo những người Tây học để phục vụ bộ máy thống trị của
thực dân Pháp, đúng như nhận xét của một nhà chí sĩ yêu nước:
“Nó mở trường học Pháp Việt … chỉ dạy cho biết sơ sơ chữ Pháp, dịch được qua loa tiếng
Pháp, đã coi là đủ rồi. Còn như điện học, hoá học, hình học, thương học người Pháp có đặt
ra một khoa nào đâu … người Pháp chỉ khoái trá về chỗ nó làm mất chí khí của người nước
ta thôi … Cách làm cho ta ngu, ta yếu nó chỉ sợ ta không càng ngày càng ngu hơn, càng
ngày càng yếu hơn mà thôi” .
Tuy vậy, cùng với chế độ thuộc địa nửa phong kiến ra đời và thay thế chế độ phong kiến vốn
đã tàn lụi, xã hội Việt Nam cũng có những chuyển biến nhất định. Sự thay đổi này không chỉ
do hoàn cảnh lịch sử trong nước mà còn do ảnh hưởng tác động của trào lưu cách mạng
trên thế giới.
Ở châu Á vào đầu thế kỷ XX, sau khi Minh Trị Thiên Hoàng cải cách duy tân, Nhật Bản trở
thành một nước tư bản chủ nghĩa tương đối phát triển về mọi mặt. Đặc biệt, thắng lợi của
Nhật trong cuộc chiến tranh với Nga năm 1904-1905 càng làm cho thanh thế Nhật càng
Trước những thành công của Nhật Bản trong cuộc cải cách duy tân, một số các sĩ phu yêu
nước muốn dựa vào sức mạnh quân sự, kinh tế của Nhật để đòi lại độc lập cho dân tộc Việt
Nam. Theo như nhận xét của Nguyễn Hàm: “Trông vào thế lực liệt cường hiện nay, nếu
không phải nước đồng văn, đồng chủng với mình, tất không nước nào họ viện trợ cho mình.
… Chỉ có nước Nhật Bản là giống da vàng lại là nước tân tiến. Từ ngày thắng Nga lại càng
sinh dã tâm. Bây giờ ta sang Nhật, đem lợi hại thuyết phục họ, tất nhiên họ sẽ vui lòng viện
trợ ta”. Tin tưởng vào tính chất “đồng văn”, “đồng chủng”, Phan Bội Châu một mặt truyền bá
tư tưởng duy tân trong nước, một mặt nêu gương của Nhật Bản làm chỗ dựa cho công cuộc
duy tân.
Theo Phan Bội Châu, để thực hiện “Duy tân”, trước hết phải xây dựng con người. Trong toàn
bộ những sáng tác thơ văn của Phan Bội Châu đều là sự phản ánh nổi đau, nổi nhục mất
nước của dân tộc Việt Nam, mà nguyên nhân được ông chỉ ra là xuất phát từ con người,
theo ông: “Biến cố do người gây nên, vận trời theo liền đó”. Rõ ràng, quan niệm của Phan
Bội Châu hoàn toàn khác hẳn quan niệm “Thiên mệnh” của các nhà nho cũ. Ông khẳng
định : “Người trong một nước đều là chủ tể của một nước để cạnh tranh với nước khác”, vì
vậy “... nhân dân là quan trọng nhất, nhân dân còn thì nước còn, nhân dân mất thì nước
mất”. Theo đó, Phan Bội Châu yêu cầu mỗi con người phải tự thức tỉnh để nhận thức được
thực trạng vong quốc của đất nước. Trong tác phẩm Cao đăng quốc dân, Phan Bội Châu
vạch ra mười điều mà ông gọi là tệ bệnh của quốc dân:
1. Tính ỉ lại
2. Lòng giả dối.
3. Thói nhút nhát.
4. Tham lợi riêng.
5. Đua những việc hư danh.
6. Không thực lòng yêu nước
7. Không biết nghĩa hiệp quần.
10. Không thương nòi giống.
9. Không biết đường kinh tế.
8. Mê tín những tục cổ hủ
Để khắc phục những điều nêu trên, dân tộc phải tự đổi mới (Phan Bội Châu gọi là “tự tân”).
Dù Phan Bội Châu không nêu rõ tính bình đẳng về quyền lợi giữa nam và nữ, nhưng tư
tưởng của ông đã có một cách nhìn mới về vai trò của người phụ nữ trong đời sống xã hội,
điều này khác xa với sự qui định của lễ giáo phong kiến.
Từ yêu cầu tự thức tỉnh, Phan Bội Châu chủ trương giáo dục con người, nhằm giải phóng con
người tiến đến giải phóng dân tộc. Ông giải nghĩa hai chữ giáo dục :
“Chữ “giáo dục” theo hai nghĩa : Khơi đắc trí khôn, mở rộng tai mắt, gọi bằng “giáo”, điêu
luyện chân tay, nuôi nấng thể lực gọi bằng “dục”. Chữ “Dục” có nghĩa là nuôi. Gần đây nền
học mới có 3 chữ “dục”. Nuôi đức tính gọi là đức dục, nuôi trí khôn gọi là trí dục, nuôi chất
mạnh gọi là thể dục”. Ông chỉ ra mối liên hệ giữa đức dục, trí dục và thể dục như sau :
“Làm nên người quốc dân tốt, thời trước hết phải bồi dưỡng cái giáo dục thuần khiết như
lòng ái quốc, như lòng hợp quần, như lòng công ích, tất cả cầu cho thật thà hết sức, không
có một chút gì dối trá để cho người ta nghi ngờ, thế thì cái cội gốc làm quốc dân rất tốt đã
kiên cố rồi. Lại thứ nữa phải cầu cho được tri thức mở mang, như thế nào là lợi dụng được,
như thế nào là rộng đường kinh tế mà lợi ích cho nhân quần, tất phải mỗi việc phải theo
trên đường khoa học mà cầu cho tri thức mỗi ngày mỗi phát đạt để cho vừa với sự yêu cầu
trong xã hội; lại như thế thời cơ sở làm quốc dân tốt đã dầy dặn rồi, mà còn lại một sự rất
cần cấp thời không chi bằng chăm chỉ về đường thể dục”.
Như vậy với mục tiêu đức dục, trí dục và thể dục, quan niệm của Phan Bội Châu rất sát với
đường lối giáo dục của nước ta hiện nay. Chẳng những đề cao tinh thần giáo dục, Phan Bội
Châu còn phê phán cả nền giáo dục phong kiến chỉ biết tạo ra những “Hủ nho, nhút nhát, ý
tưởng hẹp hòi, chỉ chú trọng tới khoa cử, văn tự ”. Đồng thời ông cũng cảnh báo và phê
phán kiểu giáo dục theo thực dân Pháp lúc bấy giờ chỉ nhằm tạo ra một lớp người làm tay
sai cho giặc, đó là “những bình đựng rượu Tây, những túi chứa cơm Tây, những giá mắc áo
Tây, những bù nhìn ngồi xe Tây”. Phan Bội Châu cũng cho rằng, nền giáo dục mới không
phải chỉ nhắm vào một tầng lớp người mà phải là toàn thể nhân dân, vì “Trong cuộc cạnh
tranh bằng trí lực giữa các nước, cái quyết định không phải là trí khôn của một số người mà
phải là trí khôn của tất cả mọi người”. Trong Lưu cầu huyết lệ tân thư, ông đề ra “Những kế
hoạch sẽ cấp cứu đồ tồn” là :
- Khai dân trí (mở trí khôn cho dân).
- Chấn dân khí (làm cho nhân dân phấn chấn, tự tin).
nói không chỉ là lý thuyết, bản thân ông đã tổ chức hội Nông thương học, Việt Nam thương
đoàn công hội làm cơ sở tài chính cho công cuộc cách mạng, xây dựng và phát triển nền văn
hóa mới nước nhà.
Tư tưởng của Phan Châu Trinh với phong trào Đông Kinh nghĩa thục.
Đối lập với biện pháp canh tân của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh cho rằng để chấn hưng
dân tộc phải dựa trên những thành tựu văn minh của Pháp để tranh thủ thực hiện canh tân.
Ba mục tiêu đổi mới nhằm chấn chỉnh phong hoá nước nhà theo Phan Châu Trinh là:
Chấn dân khí: kêu gọi tinh thần yêu nước và dũng khí đấu tranh của đồng bào, mà trước hết
là giới trí thức phong kiến.
Khai dân trí: nhằm mở mang trí tuệ cho nhân dân, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Bỏ lối
học của Nho giáo, chú trọng khoa học kỹ thuật phương Tây. Chống mê tín dị đoan, bài trừ
hủ tục ở hương thôn. Xây dựng một nền học vấn và văn hoá tiến bộ, xây dựng con người
toàn diện thích ứng cuộc sống văn minh.
Hậu dân sinh: thúc đẩy phát triển kinh tế bằng sức tự lực, tự cường. Vận động nhân dân
tiêu dùng hàng trong nước, gầy dựng những cơ sở sản xuất, kinh doanh các ngành nghề,
khẩn hoang, lập vườn …
Với cách xếp đặt cho thấy Phan Châu Trinh rất quan tâm đến vấn đề dân trí, theo ông phải “
Làm thế nào tạo được một số đồng chí dám có cái nhìn đảo lộn ngai vàng, đảo lộn quý tộc,
đảo lộn Khổng Mạnh, đảo lộn đặc quyền, đảo lộn phương thức sinh hoạt, phong tục tập
quán vào một thời xã hội còn tối ngòm ngòm”.
Trong bài diễn thuyết Đạo đức là luân lý Đông Tây đêm 19-11-1925, là một trong hai bài
đầu tiên và cũng là cuối cùng của cụ Phan trước quốc dân đồng bào, chủ yếu tập trung
những vấn đề sau:
Thứ nhất, theo Phan Châu Trinh cuộc cạnh tranh hơn thua trên thế giới, không thuần nhờ
sức mạnh (vật chất) mà thôi phải nhờ có đạo đức làm gốc nữa. Đạo đức ấy có cơ sở từ
những sự vẻ vang trong lịch sử dân tộc, đó là những đức tính tốt, hay của cha ông, khiến
cho kẻ nào, dân tộc nào đối với mình cũng phải đem lòng kính trọng. Nó là cái tính chất của
dân tộc kết tinh lại như hòn ngọc mài mà không mòn, như sắt nguội đánh mà không bể. Cụ
kêu gọi đồng bào lấy tinh thần cơ bản đó làm sức mạnh đấu tranh của dân tộc.
Thứ hai, Phan Châu Trinh phân tích luân lý châu Âu trên ba mặt: luân lý gia đình, luân lý