BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH THỊ THÙY HƯƠNG
PHAN BỘI CHÂU VỚI CÔNG CUỘC
VẬN ĐỘNG THANH NIÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
thành Khóa luận này.
Trong quá trình hoàn thành Khóa luận này không thể tránh khỏi
những thiếu xót, hạn chế, em kính mong nhận được sự quan tâm, góp
ý của quý thầy, cô và các bạn để Khóa luận của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Đinh Thị Thùy Hương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của đề tài 4
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5. Kết cấu của khóa luận 5
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP
CỦA PHAN BỘI CHÂU 6
1.1. Tiểu sử cuộc đời, thân thế 6
1.2. Sự nghiệp 8
CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG CỨU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU 13
2.1. Bối cảnh lịch sử 13
2.1.1. Tình hình thế giới 13
2.1.2. Tình hình trong nước 15
2.2. Tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu 17
2.2.1. Tư tưởng, chủ trương cứu nước của Phan Bội Châu từ đầu thế kỉ XX
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong bức tranh lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt
Nam, Phan Bội Châu có một vai trò quan trọng. Được người đời gọi với tên
gọi tha thiết “Cụ Phan”. Tên cụ Phan là dây nối trong phong trào Cần Vương
của các sĩ phu phong kiến chống Pháp, trải qua các cuộc đấu tranh của giai
cấp Tiểu tư sản và Tư sản cho đến phong trào cách mạng hiện đại, dưới sự
lãnh đạo của giai cấp công nhân và Đảng tiền phong của nó là Đảng Cộng sản
Đông Dương. Tên tuổi của chí sĩ Phan Bội Châu đã được nhân dân ta kính
mến, ông là điển hình cho một lực lượng cách mạng tiến bộ trong thời kì lịch
sử cận đại Việt Nam.
Phan Bội Châu là một chí sĩ yêu nước, nhà tư tưởng và là “một trong những
nhân vật lịch sử vĩ đại và phức tạp nhất” của lịch sử Việt Nam đầu thế kỉ XX.
Có những học giả khẳng định rằng: trong mấy chục năm đầu thế kỉ XX lịch sử
Việt Nam lẫn lộn với lịch sử Phan Bội Châu. Đến đây, ta có thể phần nào thấy
được ảnh hưởng của Phan Bội Châu đối với lịch sử dân tộc trong những năm
đầu thế kỉ XX to lớn như thế nào đặc biệt với công cuộc vận động thanh niên.
Hơn sáu thập kỉ qua, kể từ ngày Phan Bội Châu nói lời từ biệt quốc dân mãi
mãi cuộc đời sóng gió vô cùng phức tạp của ông vẫn còn đòi hỏi phải chiêm
nghiệm trở lại trên rất nhiều bình diện và cả sự đánh giá tổng thể.
Xuất thân từ một nhà Nho, Phan Bội Châu đã dần vượt lên ý thức xã hội
phong kiến vốn đã thấm sâu vào con người ông, tiếp thu tư tưởng tiến bộ dân
chủ tư sản và với nhiệt huyết yêu nước cao độ làm dấy lên phong trào yêu nước
theo khuynh hướng mới - khuynh hướng dân chủ tư sản với công cuộc vận động
thanh niên sôi nổi, rầm rộ. Tuy nhiên phong trào cách mạng yêu nước theo
khuynh hướng dân chủ tư sản do Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh khởi
xướng cuối cùng cũng đã thất bại nhưng đã để lại trong kho tàng lí luận cách
mạng Việt Nam rất nhiều bài học quí báu trên con đường giải phóng dân tộc.
Tư tưởng giáo dục và vận động thanh niên của Phan Bội Châu đã có ý
nghĩa và tác dụng to lớn đối với lịch sử Việt Nam đầu thế kỉ XX. Nó góp phần
thức tư tưởng của ông với công cuộc vận động thanh niên và khi tìm hiểu về sự
giống, khác nhau trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu
Trinh.
- Làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy cho giáo viên, sinh viên khi
nghiên cứu, học tập về Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh.
- Góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, khuấy động tinh thần yêu
nước, phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về Phan Bội Châu và phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX đã được
3
đề cập trong một số công trình nghiên cứu cụ thể là:
+ Cuốn “Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1918” của Giáo sư
Nguyễn Văn Kiệm, NXB giáo dục Hà Nội, 1972. Công trình đã làm rõ hoạt
động cứu nước của Phan Bội Châu và các hoạt động của Duy Tân hội. Cuốn
sách này đã đề cập tới nhiều quan điểm, tư tưởng cứu nước của Phan Bội
Châu. Tuy nhiên cuốn sách này chỉ tái hiện lại quá trình cứu nước của Phan
Bội Châu [9].
+ Cuốn “Đại cương lịch sử Việt Nam” tập 2 của tác giả Trương Hữu
Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001. Công
trình đã làm rõ được quá trình hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu từ đầu
thế kỉ XX đến năm 1914. Sự ra đời của Duy Tân hội (1904) và tổ chức Việt
Nam quang phục hội (1912) do ông sáng lập và lãnh đạo, cùng với các chủ
trương, biện pháp cứu nước của ông [21].
+ Cuốn “Một số chuyên đề Lịch sử Việt Nam” của PGS - TS Trần Bá Đệ
(chủ biên), NXB ĐHQG Hà Nội, 2002, cũng có chuyên đề về phong trào yêu
nước đầu thế kỉ XX ở Việt Nam, cũng làm sáng tỏ được điều kiện chủ quan và
khách quan dẫn đến sự hình thành xu hướng cách mạng mới ở Việt Nam đầu thế
kỉ XX [6].
+ Cuốn “Phan Bội Châu toàn tập” của GS Chương Thâu, NXB Thuận
Phan Bội Châu, còn về công cuộc vận động thanh niên trong tư tưởng cứu nước
của ông, sự giống và khác nhau về quan điểm cứu nước của Phan Bội Châu và
Phan Châu Trinh vẫn chưa được làm rõ.
Tựu chung lại, các công trình trên là nguồn tài liệu quí báu và là sự định
hướng để tôi đi sâu vào nghiên cứu đề tài này để làm rõ một số vấn đề khoa học
mà các công trình khác chưa làm sáng tỏ được.
3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của đề tài
- Cuộc đời và sự nghiệp của Phan Bội Châu là một vấn đề rộng lớn gồm
nhiều lĩnh vực. Do những khó khăn về tư liệu nên chúng tôi chỉ tập trung đi sâu
vào nghiên cứu vấn đề “Phan Bội Châu với công cuộc vận động thanh niên”.
- Đề tài tái hiện lại cuộc đời hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu, làm
rõ được những thách thức mới về công cuộc vận động thanh niên trong tư tưởng
cứu nước của mình.
- Làm rõ thêm quan niệm nhận thức của Phan Bội Châu về các tầng lớp
trong xã hội đặc biệt là lực lượng thanh niên - thế hệ tương lai của đất nước
thông qua các phong trào yêu nước của ông. Đồng thời thấy được sự giống và
khác nhau trong quan điểm cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh.
- Giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống tôn
trọng và đề cao các anh hùng có công với nước… cho thế hệ thanh niên Việt
Nam hiện nay.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
- Khóa luận chủ yếu sử dụng các nguồn tài liệu đã được công bố trong các
5
công trình nghiên cứu ở trong nước.
- Trên cơ sở nền tảng của phương pháp luận sử học Mác-xít và tư tưởng Hồ
Chí Minh. Khóa luận chủ yếu thực hiện bằng các phương pháp sau: lôgic, so
sánh, đối chiếu, phân tích tư liệu…
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận kết cấu thành
Bội Châu có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Ông chính là cầu nối giữa phong trào Cần Vương với các văn thân sĩ phu yêu
nước, trải qua các cuộc đấu tranh của giai cấp tiểu tư sản và tư sản cho đến
phong trào cách mạng hiện đại, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và
Đảng tiền phong của nó là Đảng cộng sản Đông Dương. Tên tuổi nhà chí sĩ họ
Phan đã được nhân dân ta kính mến, cụ Phan là tượng trưng cho một lượng cách
mạng trong lịch sử cận đại Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của Phan Bội Châu
được gói gọn trong mấy chữ Thanh tâm phụng sự Tổ quốc. Hồ Chí Minh rất
kính phục tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu, Người viết Phan Bội Châu,
bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập được hai mươi triệu con
người trong vòng nô lệ tôn sùng. Để khẳng định và làm rõ thêm những lời nhận
xét đưa ra trên đây, tôi muốn ghi vài nét về Phan Bội Châu trong sự nghiệp giải
phóng dân tộc những năm đầu thế kỉ XX.
1.1. Tiểu sử cuộc đời, thân thế
Phan Bội Châu, sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867 - mất ngày 29 tháng 10
năm 1940 là một nhà cách mạng Việt Nam trong phong trào chống Pháp, tên
thật là Phan San, hiệu là Sào Nam có nghĩa là:” Chim Việt làm tổ cành Nam –
Việt điểu Sào Nam chi”. Năm Tự Đức thứ 20 nghĩa là năm năm sau khi Pháp
đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì và chính vào năm mà Pháp đánh
chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kì, cụ Phan cất tiếng khóc chào đời “Một
tiếng khóc oa oa hình như đã báo trước cho tôi rằng: “mày sẽ phải làm một
người mất nước”.
Theo Gia phả họ Phan, ông sinh tại làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, cha là Phan Văn Phổ, mẹ là Nguyễn Thị Nhàn. Ông
nổi tiếng thông minh từ bé, năm 6 tuổi học 3 ngày thuộc hết Tam Tự Kinh, 7
tuổi ông đã đọc hiểu sách Luận Ngữ, 13 tuổi ông thi đỗ đầu huyện. Thuở thiếu
thời ông đã sớm có lòng yêu nước. Năm lên 9 tuổi đã cùng các bạn nhỏ tụ tập
giả đùa làm quân Bình Tây, lập đội thí sinh quân. Năm 17 tuổi ông viết bài hịch
Bình Tây Thu Bắc đem dán ở cây đa đầu làng để hưởng ứng việc Bắc Kỳ khởi
nghĩa kháng Pháp. Năm 19 tuổi (1885) ông cùng bạn Trần Văn Lương lập đội
nghĩa quân nổi dậy rất rầm rộ. Phan Bội Châu muốn bỏ nhà ra Bắc hưởng ứng
các nghĩa đảng ở Bắc Kì nổi dậy đánh giặc, nhưng phần vì gia đình bận bịu,
phần vì đường xá cách trở không thể làm theo ý muốn được. Ông đã thức suốt
đêm thảo một bài hịch mang tên “Bình Tây Thu Bắc” tức là đánh Tây để lấy lại
đất Bắc rồi bí mật đem dán lên cây ngoài đường quan để cổ động chúng nổi dậy
giết giặc. Bài hịch chẳng được ai chú ý đến. Không nản lòng, cụ ra sức trau dồi
văn chương cử tử với hy vọng một ngày nào đó sẽ làm nên sự nghiệp.
Như vậy, tất cả những hành động thuở niên thiếu của cụ Phan xuất phát từ
tấm lòng yêu nước, sôi nổi, nhiệt tình của cụ đều bị thất bại và để lại cho cụ
nhiều bài học kinh nghiệm đầu tiên trong cuộc đời hoạt động. Cụ đã nhận ra
8
rằng: muốn làm được việc lớn phải lập danh theo thời và bồi dưỡng lực lượng.
Sau đó vì hoàn cảnh gia đình, mẹ chết, cha ốm nặng, cụ Phan phải tạm dừng các
hoạt động cứu nước của mình để dùi mài kinh sử và chăm sóc cha già. Trong
khoảng thời gian dài (10 năm) đó cụ vẫn bí mật liên lạc với một số người có ý
chí cứu nước diệt thù. Trong đó cụ đã được tiếp kiến các dư Đảng của Phan
Đình Phùng, nhất là cụ đã gặp được một người bạn tâm phúc là Đặng Thái
Thân. Sau này là người đồng chí đã giúp đỡ cụ Phan rất nhiều.
Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến bọn đế quốc
sâu xé từng miếng đất của tổ quốc để rồi cướp hẳn nước ta làm thuộc địa. Cụ vô
cùng đau xót trước cảnh thương tâm này “đau đớn thay mất quốc quyền, thương
xót thay mất quốc quyền” rồi đau đớn thay trước cảnh ly tan. Chính điều này đã
có tác dụng rất lớn đối với việc hình thành tư tưởng cứu nước của cụ Phan.
1.2. Sự nghiệp
Với một tấm lòng yêu nước nồng nhiệt và một trái tim nhạy cảm, từ lúc còn
là một cậu bé, Phan Bội Châu đã thấy nhức nhối tâm can khi từng thước đất của
Tổ quốc rơi vào tay bọn Pháp xâm lược. Nghe tin Pháp chiếm Bắc Kì, Phan thức
trắng đêm để viết hịch “Bình Tây thu Bắc”. Thấm nhuần những quan niệm mới
về trung quân ái quốc của Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu đã vươn lên tìm
coi chủ nghĩa yêu nước là vũ khí tinh thần, là nền tảng tư tưởng vĩnh cửu, là cái
thực thể tiềm ẩn trong cộng đồng người Việt và ở Việt Nam có thể tìm thấy
trong mọi hạng người. Nắm vững đặc điểm tâm lí ấy, các sĩ phu yêu nước đầu
thế kỉ XX quyết tâm tổ chức một cuộc cách mạng mới với việc quy tụ các lực
lượng dân tộc là chủ yếu kết hợp với việc tìm kiếm những bạn đồng minh trong
thế giới hiện thời.
Năm 1900, cụ 34 tuổi thì đỗ Giải nguyên trường Nghệ, tiếng tăm đã lan
rộng khắp Nghệ Tĩnh và cũng trong năm đó thân sinh cụ tạ thế.
Năm 1901, sau khi đỗ đầu (giải nguyên) khoa thi Hương tại trường thi
Nghệ An, Phan Bội Châu và các cộng sự tin cậy đã cùng thống nhất vạch ra ba
kế hoạch lớn với mục tiêu là: “Đánh giặc phục thù”, “cốt sao khôi phục được
nước Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập, ngoài ra chưa có chủ nghĩa gì
khác” [ 3, 43]. Có lẽ vì chưa có cơ sở lí luận để tạo lập ra một chủ nghĩa mới và
việc cứu nước đang trở nên khẩn thiết, nên các cụ đành mượn ngọn cờ phong
kiến để quy tụ lực lượng. Những người khởi xướng phong trào chủ trương liên
kết với các dư đảng Cần Vương và những tay tráng kiện sơn lâm khởi xướng
nghĩa binh, tìm lấy một người trong hoàng tộc tôn làm minh chủ; tập hợp các
người trung nghĩa ở Bắc Kì, rồi ngầm liên kết với những người có thể lực lúc
bấy giờ giúp đỡ; khi có cơ hội và cần thiết thì “xuất dương cầu ngoại viện”, và
dùng thủ đoạn bạo động để đánh giặc khôi phục độc lập dân tộc. Tư tưởng này
đã được Phan Bội Châu đưa vào cương lĩnh hoạt động của Duy Tân hội (1904).
Trong vòng 5 năm sau khi đỗ giải Nguyên, ông bôn ba khắp nước Việt
Nam liên kết với các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,
Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Hàm (tức Tiểu La Nguyễn
Thành), Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Đặng Thái Thân, Hồ Sĩ Kiện, Lê
Huân, Nguyễn Quyền, Võ Hoành, Lê Đại để cùng họ chống Pháp. Ông chọn
10
một hoàng thân nhà Nguyễn, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, làm lãnh tụ phong trào
Cần Vương. Năm 1904, ông cùng 20 đồng chí họp mặt tại Quảng Nam để thành
vọng, cụ quay trở lại Hàng Châu tìm một phương hướng mới cho con đường cứu
nước của mình. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công gây tiếng vang lớn đối
với thế giới. Từ đó trở đi cụ viết báo, viết sách để truyền bá tư tưởng cách mạng
của mình và kêu gọi nhân dân trong nước đi theo con đường của cụ lúc này đã
thiên về cách mạng thế giới.
11
Năm 1924, sau “Tiếng bom Phạm Hồng Thái” nhân dân trong nước phấn
khởi và thế giới lúc này bắt đầu biết đến Việt Nam. Phan Bội Châu khi đó đang
ở Hàng Châu đã trở về Quảng Đông thủ tiêu Việt Nam quang phục hội thành lập
Việt Nam quốc dân Đảng. Gặp Nguyễn Ái Quốc từ Mạc Tư Khoa trở về, được
nghe Nguyễn Ái Quốc trao đổi nhiều vấn đề xoay quanh cách mạng vô sản thế
giới, tư tưởng của cụ đã có sự chuyển biến lớn, tích cực phù hợp với xu thế thời
đại. Cụ chưa kịp có những hành động theo tư tưởng mới của phong trào cách
mạng thế giới thì bị mật thám Pháp bắt và bị giam lỏng tại Huế. Trong những
năm tháng cuối cùng của cuộc đời, trong căn nhà lá đơn sơ tại bến Ngự, chịu sự
giám sát của kẻ thù, cụ đã không trực tiếp làm cách mạng được nữa nhưng cụ
vẫn tiếp tục viết sách báo kêu gọi lòng ái quốc của nhân dân. Ngày mùng
9/10/1941 sau một thời gian ốm khá lâu, cụ đã trút hơi thở cuối cùng.
Sau 30 hoạt động cách mạng, cụ đã để lại trong mỗi chúng ta một ấn tượng
sâu sắc. Tinh thần diệt dù, cứu nước của cụ làm chúng ta khâm phục, tóm tắt
cuộc đời và sự nghiệp của cụ Phan chỉ cần gói gọn trong mấy chữ “Thanh tâm
phụng sự tổ quốc là đúng”. Đến như chủ tịch Hồ Chí Minh cũng phải thốt lên
với tấm lòng ngưỡng mộ vô hạn “ Phan Bội Châu bậc anh hùng, vị thiên sứ,
đấng sả thân vì độc lập được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng”.
Trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của cụ Phan chúng ta thấy nổi bật lên
một điểm đó là lòng yêu nước. Lòng yêu nước của cụ Phan thể hiện ở nhiều màu
sắc, góc cạnh khác nhau. Chính xuất phát từ lòng yêu nước đã dẫn cụ Phan đến
với tư tưởng chính trị và cùng lòng yêu nước đã chi phối rất lớn đến những hành
động và thủ đoạn cách mạng của cụ.
lòng yêu nước của cụ đã có tác dụng rất tích cực đối với sự phát triển của phong
trào cách mạng giải phóng của nước ta những năm đầu thế kỉ XX. Khi bàn về
chủ nghĩa yêu nước của cụ Phan Bội Châu, Nguyễn Đức Sự đã nhận xét rằng
trong phong trào cách mạng thế kỉ XX nổi bật lên một cách rực rỡ ngọn cờ yêu
nước của Phan Bội Châu. Ngọn cờ đó tiêu biểu cho tinh thần cứu nước của nhân
dân ta lúc đương thời. Giờ đây mỗi khi nhắc lại chủ nghĩa yêu nước của Phan
Bội Châu, chúng ta thấy rạo rực, hăng hái, thấy nhiệt tình cách mạng thêm sôi
sục, nó vẫn còn sức mạnh động viên mỗi người chúng ta trong sự nghiệp chống
Mỹ cứu nước ngay cả những thành công hay thất bại, những quan điểm đúng,
sai của nhà cách mạng Phan Bội Châu cũng để lại cho chúng ta những bài học
vô cùng quý giá.
Như vậy, từ việc tìm hiểu về tiểu sử cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của
Phan Bội Châu, ta có thể thấy rằng chính hoàn cảnh lịch sử lúc ông sinh ra, hoàn
cảnh gia đình cũng là một nhân tố thúc đẩy Phan Bội Châu hình thành tư tưởng
yêu nước và lựa chọn con đường cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản.
13
CHƯƠNG 2
TƯ TƯỞNG CỨU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU
2.1. Bối cảnh lịch sử
2.1.1. Tình hình thế giới
Đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, tình hình thế giới có nhiều chuyển
biến to lớn, có tác động mạnh mẽ đến Việt Nam.
Trên thế giới, chủ nghĩa tư bản đang chuyển sang giai đoạn Đế quốc chủ
nghĩa. Các nước tư bản như Mĩ, Anh, Pháp, Đức sự tập trung sản xuất tư bản
đã đạt tới mức độ rất cao, thành lập nhiều tổ chức lũng đoạn có vai trò quyết
định đến đời sống kinh tế, chính trị thế giới. Tư bản tài chính ngày càng lớn
vũ trang để hưởng bổng lộc. Sau một thời gian dài không có chiến tranh, các đơn
vị của Sa-mu-rai bị suy giảm lương bổng thất thường, nhiều người đã ra khỏi
lãnh địa tham gia vào các hoạt động thương nghiệp, mở các xưởng thủ
công dần dần họ thành các tư sản hóa. Họ có thế lực kinh tế nhưng không có
thế lực chính trị, địa vị xã hội tương ứng. Vì vậy lực lượng này đã đấu tranh
mạnh mẽ chống lại chế độ phong kiến đã lỗi thời.
Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản đồng thời nhu cầu thị trường đòi
hỏi ban đầu là xâm nhập vào các nước khác, đặc biệt là các nước lạc hậu. Nhật
Bản cũng nằm trong số đó. Đến giữa thế kỉ XIX nước Nhật đã lâm vào một cuộc
khủng hoảng trầm trọng, với những mâu thuẫn về quan hệ sản xuất. Họ đứng
trước hai lựa chọn hoặc là duy trì chế độ phong kiến đã lỗi thời, hoặc là tiến
hành duy tân cải cách. Cuối cùng, nhờ có một số người lãnh đạo thức thời sớm
tỉnh ngộ trước họa xâm lăng, đã lật đổ các thế lực bảo thủ trong nước, đưa nước
Nhật phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Mặc dù vẫn còn rất nhiều
những tàn tích của phong kiến song nước Nhật thoát khỏi họa xâm lăng, trở
thành một nước độc lập, phát triển mạnh về kinh tế, có cả chính sách bành
trướng ra ngoài.
Trong thời gian này, Việt Nam đang lúng túng trước cuộc chiến tranh xâm
lược của thực dân Pháp. Đặc biệt là sau khi phong trào Cần Vương thất bại
(1896) những người Việt Nam yêu nước đang loay hoay tìm con đường cứu
nước mới thì cuộc chiến tranh Nga - Nhật nổ ra, Nhật đại thắng. Sự kiện này
vang dội khắp năm châu, có tác động mạnh mẽ tới các nhà yêu nước Việt Nam.
Họ bỏ qua nước Nhật là một nước đế quốc, mà chỉ coi Nhật Bản là một nước
“đồng chủng, đồng văn” đã đánh thắng một nước đế quốc rộng lớn. Nhật Bản
được xem như “thần tượng mới”, người anh cả da vàng ở châu Á, đã cổ vũ mạnh
mẽ phong trào đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu
Á. Từ đó hình thành nên một xu hướng thân Nhật đã lan rộng ra khắp châu Á.
* Ảnh hưởng từ Ấn Độ: Ấn Độ vốn là thuộc địa của Anh, cuối thế kỉ XIX,
đầu thế kỉ XX, tình hình Ấn Độ cũng có sự tác động mạnh mẽ đến Việt Nam.
Cuối thế kỉ XIX, ách thống trị của thực dân Anh bóp chặt về chính trị, đẩy
hoảng và suy yếu nghiêm trọng. Kinh tế ngày càng sa sút, nền tài chính khó
khăn. Đúng như Nguyễn Tri Phương nhận xét về tình hình Việt Nam trong nửa
cuối thế kỉ XIX thì nước ta “của đã hết, sức đã kiệt”. Đã thế nhà Nguyễn còn
đưa ra một số chủ trương chính sách gây bất lợi cho sự phát triển kinh tế. Đường
lối đối ngoại sai lầm với chính sách “bế quan tỏa cảng” đã khiến cho Việt Nam
bị cô lập. Việc hạn chế ngoại thương không xuất phát từ mục đích bảo vệ thị
trường trong nước mà xuất phát từ mục đích ngăn chặn sự xâm lược từ bên
ngoài. Nhà Nguyễn đã tiến hành đàn áp các giáo sĩ phương Tây một cách tàn
nhẫn và mù quáng. Việc cấm đạo, sát đạo càng làm cho kẻ thù có cái cớ để tiến
hành xâm lược nước ta. Các ông vua triều Nguyễn lúc bấy giờ chưa thức thời
với hoàn cảnh khu vực và thế giới, họ ra sức củng cố quyền lợi của giai cấp. Chỗ
16
dựa của nhà nước phong kiến là tầng lớp địa chủ. Ruộng đất tư lúc bấy giờ phát
triển mạnh hơn bao giờ hết với khoảng 83% nằm trong tay giai cấp thống trị,
còn lại là ruộng đất công và số ít là của nông dân. Chính vì vậy, đời sống của
nhân dân lao động rất khổ cực, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra
làm cho tình hình đất nước càng thêm rối ren.
Trong cuộc chạy đua giành giật thuộc địa giữa các nước tư bản phương Tây
ở khu vực Đông Dương, thì thực dân Pháp đã bám sâu vào được Việt Nam
thông qua hội truyền giáo thừa sai Pa-ri. Cũng thông qua các mối quan hệ đã có
từ trước, cùng với sự suy yếu của chế độ phong kiến Việt Nam, chính phủ Pháp
ráo riết thực hiện âm mưu xâm lược nước ta.
Triều đình phong kiến nhà Nguyễn vì những mục đích riêng của mình đã
chống cự một cách yếu ớt, dần chuyển sang chia sẻ quyền lực với Pháp. Thực
dân Pháp lợi dụng sự rối ren đó ngày càng từng bước đặt thêm ách thống trị lên
nước ta thông qua hàng loạt các Hiệp ước như Nhâm Tuất (1862), Giáp Tuất
(1874), Hác-măng (1883), Pa-tơ-nốt (1884).
Như vậy, sau khi triều đình nhà Nguyễn kí kết các Hiệp ước đầu hàng, đặc
biệt là sau Hiệp ước Pa-tơ-nốt đã chính thức xác nhận quyền thống trị của thực
Nguyên cũng là năm cha ông mất. Sau khi cha mất Phan Bội Châu sẽ tha hồ mà
hoạt động không sợ liên lụy đến cha mình nữa. Nhưng lúc đó con đường cứu
nước của ông còn mờ mịt, chưa có hướng đi rõ ràng. Ông chỉ biết rằng mình
phải hành động để cứu lấy nước, lấy dân, giải phóng dân tộc ta khỏi kiếp nô lệ
lầm than, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Nhưng để hoàn thành tâm nguyện trên
thì bằng cách nào ông cũng chưa biết. Lúc này ông vẫn còn ảnh hưởng khá sâu
sắc tư tưởng phong kiến. Từ sau những thất bại của mình trong các hoạt động
như viết hịch “Bình Tây thu Bắc” hay lập đội thí sinh quân, Phan Bội Châu đã
nhận thấy rõ một điều ở thời này muốn làm được một việc gì đó thì phải lập thân
bằng công danh. Khi mình có công danh rõ ràng, mình phải làm gì, hô hào gì
mọi người sẽ biết đến mà hưởng ứng. Mặc dù trong tâm trí của Phan Bội Châu
thì “lập thân hèn nhất là bằng văn chương”. Nhưng Phan Bội Châu thi cử đỗ đạt
không phải là mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình. Trong thời điểm lịch sử lúc
bấy giờ cả xã hội Việt Nam vẫn còn mang nặng tư tưởng của đức Khổng, Mạnh
và có lẽ vì thế mà Phan Bội Châu mới hành động như vậy. Xét cho cùng thì
hành động đó cũng là vì thời cuộc. Qua đó ta cũng thấy được lòng yêu nước và
động cơ cao cả trong suy nghĩ của Phan Bội Châu. Sau này qua sự trải nghiệm
của bản thân, trong hồi kí của mình, Phan Bội Châu đã viết “Nước ta phụ thuộc
nước Tàu địa lí, lịch sử, gốc tích trải qua mấy nghìn năm nay như hai nước anh
em đã lâu đời lắm vậy. Bởi đó nước ta chỉ tôn sùng Hán học như thần thánh, mà
Hán học thì xem trọng khoa cử, văn từ. Từ nhỏ đến lớn, tư chất thông minh, vốn
công phu đèn sách dùi mài cũng không bê trễ nhưng kết quả chẳng qua cũng chỉ
là sự học khoa cử mà thôi. Và lúc bấy giờ khoa cử nhà Thanh đang sôi nổi như
gió cuốn mây bay, người nước mình bắt bóng theo chân chỉ sợ không giống y
như người Tàu. Bà con ta muốn cưỡi mây, lướt gió không thể nào không mượn
khoa cử, dù ai có muốn chẳng theo thời đi nữa cũng không có đường học nào
18
khác hơn mà đi. Than ôi! Chổi cùn trong nhà tựu xem là của quí, sự yêu thích
lâu đời cũng thành thói quen thành ra rốt cuộc tôi bị thời trạng trói buộc dẫn đến
lọt lòng mẹ chưa kịp khóc oa oa đã chết yểu mất tôi tưởng trước hết ta nên vào
Nam, ra Bắc tìm kiếm những kẻ cùng làm việc với ta. Rồi anh em ba kì đồng
thời khởi nghĩa để chia sẻ lực lượng của địch, đồ đảng của ta đông may ra mới
19
thành công được” [2, 12]. Đồng tình với ý kiến của Đặng Thái Thân, Phan Bội
Châu đã vạch ra hành động cho mình.
Năm 1902, lấy cớ ra xem khánh thành cầu sông Cái (cầu Long Biên), Phan
Bội Châu đã tìm lên đồi Phần Xương gặp Hoàng Hoa Thám - lãnh tụ khởi nghĩa
Yên Thế xin được trợ giúp nhưng không được. Sau đó ông tiếp tục vào Nam làm
cuộc vận động. Trên đường chiêu nạp, Phan Bội Châu đã gặp những người cùng
chí hướng như Lê Võ, Nguyễn Quýnh, Nguyễn Hàm. Nguyễn Hàm đã khuyên
Phan Bội Châu rằng: “chúng ta muốn kêu gọi được nhân dân, nếu không mượn
kiếm vua chúa thì các nhà giàu có không ai chịu theo đâu. Vậy chúng ta dẫu có
lòng yêu nước cũng chỉ thể liều tính mạng cho trọn tiếng mà thôi không có lợi
ích cho việc lớn cả. Tin vua Hàm Nghi ở đâu bấy lâu nay chúng ta không được
biết đến, còn vua Thành Thái hiện ở trong tay người Pháp kiềm chế. Nay nếu
tìm được con cháu Hoàng Tử Cảnh là dòng dõi Gia Long thì việc hiệu triệu dân
Nam Kì sẽ dễ dàng, mà Nam Kì là kho vàng, vựa thóc, Gia Long đã nhờ đó mà
phục quốc”. Phan Bội Châu thấy đây là một ý kiến rất hay “tôi cùng Đặng Thái
Thân và Lê Võ ban đầu chưa tính đến việc tôn phù dòng họ nhà vua”, đến đây
cho lời Nguyễn Hàm là phải, thực hiện ý định đó, tìm kiếm mãi Phan Bội Châu
mới biết có kì ngoại hầu Cường Để là dòng dõi Hoàng Tử Cảnh đang trú tại ngôi
nhà trên sông An Cựu. Phan Bội Châu đã tìm gặp và thấy Cường Để là người có
chí khí, có thể cùng mưu đại sự thì rất vui mừng, Phan Bội Châu quyết dùng
danh Cường Để để mưu nghiệp lớn. Sở dĩ Phan Bội Châu chọn Cường Để và tôn
làm minh chủ vì mục đích chủ yếu là thu phục nhân tâm. Có Cường Để có nghĩa
là Phan Bội Châu đã có được một sức hút cần thiết cho ý đồ cách mạng của
mình. Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ chỉ có danh nghĩa của Hoàng tộc mới có thể
chiêu mộ được rộng rãi quần chúng nhân dân. Còn về phía Cường Để, ủng hộ
trốn tránh nữa sao” [2, 67].
Như vậy, ở hoàn cảnh lúc bấy giờ, thì Cường Để xem như một người của
thời đại. Phan Bội Châu gặp Cường Để cũng như Lưu Bị gặp được Khổng Minh,
chỉ khác Lưu Bị phải “tam khố thảo lư” mới cầu được Khổng Minh ra giúp việc,
còn đằng này Phan Bội Châu phải tự mình đi tìm Cường Để. Trên tinh thần đó,
đầu năm 1904, theo sự bố trí của Phan Bội Châu, thì ông cùng với Cường Để và
hơn 20 đồng chí khác đã họp tại nhà riêng của Nguyễn Hàm, thành lập một tổ
chức bí mật có tên là Duy Tân hội.
Với tư tưởng quân chủ, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông đã chủ
trương dùng biện pháp vũ trang bạo động để đánh đổ Pháp. Để thực hiện được
điều đó, thì điều cần thiết là phải có người, có khí giới và có tiền. Người và tiền
để phục vụ cho sự nghiệp phục quốc thì có thể dùng cái danh “ông Hoàng”
Cường Để mà có. Phan Bội Châu nhận thức được rằng với những con người mà
chỉ có cái dũng, mà không có cái trí, không được rèn luyện, học tập trang bị
những tri thức, kĩ thuật cần thiết thì không thể có phương pháp hành động khoa
học được. Do đó, để đào tạo ra các chiến sĩ cách mạng phải thông qua các
trường lớp chính quy. Và Phan Bội Châu đã tìm ra cách để tạo ra tiền đề để tiến
hành cách mạng đánh đổ thực dân Pháp đó là con đường cầu viện từ bên ngoài.
Con mắt của Phan Bội Châu đã hướng về Nhật Bản-một nước đồng văn, đồng
chủng. Sau cải cách Minh Trị 1868, Nhật Bản đã lột xác và trở thành một đế